05

Sự mặc khải và sự soi dẫn

Bài Học 5 · 24 – 30 Tháng 10

Sự mặc khải và sự soi dẫn

Kinh Thánh Nghiên Cứu: Hê-bơ-rơ 1:1,2; 2 Ti-mô-thê 3:15–17; 2 Phi-e-rơ 1:18–21; Xuất Ê-díp-tô Ký 17:14; Khải Huyền 1:19; Ê-xê-chi-ên 4:1–8

"Sự mặc thị của Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc mà Đức Chúa Trời đã ban cho Ngài đặng đem tỏ ra cùng tôi tớ Ngài những điều kíp phải xảy đến, thì Ngài đã sai thiên sứ đến tỏ những điều đó cho Giăng, tôi tớ Ngài, là kẻ đã rao truyền lời Đức Chúa Trời và chứng cớ của Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc, về mọi điều mình đã thấy" — Khải Huyền 1:1,2
Sa-bát Sự mặc khải và sự soi dẫn

Câu gốc

“Sự mặc thị của Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc mà Đức Chúa Trời đã ban cho Ngài đặng đem tỏ ra cùng tôi tớ Ngài những điều kíp phải xảy đến, thì Ngài đã sai thiên sứ đến tỏ những điều đó cho Giăng, tôi tớ Ngài, là kẻ đã rao truyền lời Đức Chúa Trời và chứng cớ của Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc, về mọi điều mình đã thấy” (Khải Huyền 1:1,2).

Kinh Thánh nghiên cứu

Hê-bơ-rơ 1:1,2; 2 Ti-mô-thê 3:15–17; 2 Phi-e-rơ 1:18–21; Xuất Ê-díp-tô Ký 17:14; Khải Huyền 1:19; Ê-xê-chi-ên 4:1–8.

Sứ đồ Giăng từng là một trong mười hai sứ đồ (Lu-ca 8:51; Ma-thi-ơ 17:1; Ma-thi-ơ 26:36,37). Sau khi Đức Chúa Giê-su thăng thiên, ông tiếp tục chức vụ tại Giê-ru-sa-lem. Tuy nhiên, trước khi thành phố sụp đổ (năm 70 SCN), ông chuyển đến Ê-phê-sô để coi sóc các Hội Thánh trong vùng Tiểu Á Tế Á thuộc La Mã. Trong thời kỳ Cơ-đốc nhân bị bách hại dưới triều đại hoàng đế Domitian, sứ đồ Giăng bị đày đến Bát-mô, một hòn đảo ở biển Aegean.

Tại đảo Bát-mô, Giăng nhận được những sứ điệp tiên tri đặc biệt, không chỉ nhắm đến bảy Hội Thánh ở vùng Tiểu Á mà còn dành cho Cơ-đốc nhân qua suốt các thời đại (Khải Huyền 1:1–3, 9–11). Chuỗi truyền tải sứ điệp tiên tri, trong đó Giăng là một mắt xích, diễn ra như sau: Đức Chúa Cha → Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc → thiên sứ → sứ đồ Giăng → những người đọc và nghe. Đây là một ví dụ điển hình của tiến trình mặc khải qua sự soi dẫn, trong đó Đức Chúa Trời dùng các tiên tri để truyền đạt sứ điệp đến nhân loại.

Bài học tuần này tập trung đặc biệt vào tiến trình mặc khải qua sự soi dẫn dưới nhiều hình thức, tập trung vào các phương cách truyền đạt sứ điệp thiêng liêng đến con người bằng lời nói, văn bản và những biểu hiện đầy kịch tính.

Nghiên cứu bài tuần này để chuẩn bị cho Sa-bát ngày 31 tháng 10.

Thứ Nhất Mặc khải tổng thể và mặc khải đặc biệt

Đọc Hê-bơ-rơ 1:1,2. Tại sao Đức Chúa Trời lại quan tâm đến việc phán với chúng ta? Ngài đang phán gì với chúng ta qua Đức Chúa Giê-su và các tiên tri?

Đấng Tạo Hóa của vũ trụ muốn phán gì với chúng ta? Ngài giao tiếp với chúng ta để làm gì? Chính vì chúng ta là những con người sa ngã, sống trong một thế gian đầy tội lỗi, phải đối mặt với sự chết, đau khổ và nhiều thử thách. Vì vậy, Đức Chúa Trời phán với chúng ta vì Ngài muốn chúng ta biết được tại sao mình lại hiện diện ở đây, tại sao mọi thứ lại tồi tệ đến như vậy, nhưng bất chấp tất cả, chúng ta vẫn có thể hy vọng vào tình yêu thương mà Ngài dành cho chúng ta.

Sự mặc khải tổng thể của Đức Chúa Trời, thể hiện qua thế giới tự nhiên, bày tỏ một cách rõ ràng quyền năng vô hạn và tình yêu thương bao la của Ngài. Vua Đa-vít đã thốt lên: “Các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, Bầu trời giải tỏ công việc tay Ngài làm” (Thi Thiên 19:1). Sứ đồ Phao-lô bổ sung: “bởi những sự trọn lành của Ngài mắt không thấy được, tức là quyền phép đời đời và bản tánh Ngài, thì từ buổi sáng thế vẫn sờ sờ như mắt xem thấy, khi người ta xem xét công việc của Ngài. Cho nên họ không thể chữa mình được” (Rô-ma 1:20)

Thật kỳ diệu khi suy gẫm về quyền năng phục hồi của Đức Chúa Trời, được thể hiện qua những quá trình chữa lành bí ẩn trong thế giới của chúng ta. Thật vậy, “Quyền năng chữa lành của Đức Chúa Trời lan tỏa khắp thiên nhiên. Nếu một cây bị cắt, nếu một người bị thương hoặc gãy xương, thiên nhiên ngay lập tức bắt đầu chữa lành vết thương. Ngay cả trước khi nhu cầu ấy xuất hiện, các tác nhân giúp cho việc chữa lành luôn sẵn sàng; và ngay khi bất cứ thành phần nào bị tổn thương, mọi năng lượng đều hướng vào công việc phục hồi.”—Ellen G. White, Education, tr. 113.

Thế giới tự nhiên tuy đẹp đẽ và truyền tải nhiều bài học, nó không chỉ bày tỏ quyền năng và tình yêu thương của Đức Chúa Trời mà còn có sự hiện diện của cả điều ác (xem Sáng-thế Ký 3:14–19, Ma-thi-ơ 13:24–30). Sứ điệp mơ hồ này chỉ có thể được hiểu đúng dưới ánh sáng của sự mặc khải đặc biệt của Đức Chúa Trời—qua Đấng Cơ-đốc tức Ngôi Lời nhập thể, và qua Kinh Thánh, tức Lời của Đức Chúa Trời được viết ra để làm chứng về Ngài (Giăng 5:39).

Kinh Thánh là bản ghi chép các sứ điệp được Đức Chúa Trời soi dẫn dành cho toàn thể nhân loại qua mọi thời đại. Kinh Thánh thuật lại cho chúng ta về Sự Sáng tạo của thế giới và sự sa ngã bi thảm của loài người, cũng như kế hoạch cứu chuộc tuyệt vời của Đức Chúa Trời, và sự phục hồi cuối cùng của trái đất. Dù một số câu chuyện Kinh Thánh có thể ngắn gọn và chọn lọc, nhưng chúng luôn đáng tin cậy, vì đó là lời Đức Chúa Trời đang phán với chúng ta (xem 2 Ti-mô-thê 3:16, 2 Phi-e-rơ 1:19–21).

Mặc dù thiên nhiên chắc chắn bày tỏ quyền năng và tình yêu thương của Đấng Sáng tạo, tại sao chúng ta vẫn rất cần Lời Chúa? Lời Chúa dạy chúng ta biết điều gì mà thiên nhiên tự nó không thể?

Thứ Hai Tiến trình của sự soi dẫn

Nhiều sách vở và tác phẩm khác nhau đã được truyền lại qua biết bao thời đại. Thế nhưng chúng ta lại xem Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời. Điều gì khiến Kinh Thánh khác biệt so với mọi quyển sách khác?

Đọc 2 Ti-mô-thê 3:15–17 và Gia-cơ 1:17. Những sứ điệp quan trọng nào muốn truyền đạt cho chúng ta qua các câu này?

Có những cuộc thảo luận xoay quanh bản dịch chính xác nhất của câu Kinh Thánh 2 Ti-mô-thê 3:16, nhưng hầu hết các bản dịch Kinh Thánh đều trình bày tương tự nhau, nhấn mạnh rằng toàn bộ Kinh Thánh đều có nguồn gốc từ Đức Chúa Trời (2 Phi-e-rơ 1:20–21).

Một nhà bình luận Kinh Thánh nhận xét rằng: “Có vẻ như Phao-lô đang nói về Kinh Thánh như một tổng thể, và ông muốn khẳng định rằng toàn bộ Kinh Thánh đều ‘có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình’, hơn là nói rằng mỗi đoạn Kinh Thánh riêng lẻ đều có ích theo những cách này”—G. W. Knight III, The Pastoral Epistles: A Commentary on the Greek Text (Grand Rapids, MI: Eerdmans, 1992), tr. 445.

Nhưng chúng ta nên hiểu thế nào về tiến trình soi dẫn của Đức Chúa Trời trong việc dẫn đến sự hình thành của Kinh Thánh? Chúng ta cần nhận biết rằng sự soi dẫn tiên tri chính là Đức Thánh Linh hỗ trợ những nhà tiên tri thật để họ có thể truyền đạt các sứ điệp đến từ Đức Chúa Trời một cách đáng tin cậy. Sự hỗ trợ đó không chỉ diễn ra khi họ tiếp nhận sứ điệp, mà còn trong quá trình họ truyền đạt sứ điệp ấy một cách rõ ràng đến người nhận.

Đức Chúa Trời ban sứ điệp của Ngài qua sự hiện thấy và trong giấc chiêm bao (Dân số Ký 12:6; Ê-sai 6:1,8). Ngài cũng sử dụng những người đã chứng kiến tận mắt để truyền đạt lại những điều mình đã thấy (1 Giăng 1:1–3), sứ điệp của Ngài cũng đến qua những cuộc nghiên cứu lịch sử được Đức Thánh Linh soi dẫn (Lu-ca 1:1–3), và những ấn tượng thiêng liêng trong tâm trí được Đức Thánh Linh cảm động (2 Phi-e-rơ 1:21). Bất kể việc Đức Thánh Linh dùng phương tiện nào, các nhà tiên tri và những người viết Kinh Thánh đều được ban cho những sứ điệp lẽ thật manh tính khách quan, chứ không phải những cảm nhận chủ quan, để truyền lại cho dân sự. Nghĩa là: các sứ giả của Đức Chúa Trời không được phép sửa đổi, làm lệch lạc hay thêm thắt vào sứ điệp của Ngài—dù họ sử dụng chính lời lẽ của mình để trình bày những sứ điệp ấy.

Việc truyền đạt các thông điệp tiên tri cho những người nghe ban đầu có thể được thực hiện bằng lời nói (2 Phi-e-rơ 1:19–21), hoặc bằng văn bản (Giăng 20:30,31), hoặc thậm chí bằng cách thể hiện một cách trực quan (Ê-xê-chi-ên 4:1-8).

Dù còn nhiều câu hỏi về cách Kinh Thánh được soi dẫn, hay tiến trình soi dẫn hoạt động như thế nào, thì điều quan trọng là: tại sao chúng ta cần phải tin rằng Kinh Thánh là Lời được Đức Chúa Trời soi dẫn, ngay cả khi chúng ta chưa hiểu đầy đủ về cách Kinh Thánh được viết lại?

Thứ Ba Những sứ điệp bằng lời nói

Đọc 2 Phi-e-rơ 1:18–21. Chúng ta có sự đảm bảo nào trong việc những sứ điệp được các nhà tiên tri của Đức Chúa Trời truyền đạt bằng lời nói, cũng được soi dẫn và đáng tin cậy như những sứ điệp được viết ra?

Đức Chúa Trời đã phán với A-đam và Ê-va trước khi họ phạm tội (Sáng-thế Ký 2:16,17) và sau khi họ phạm tội (Sáng-thế Ký 3:9–19). Trong cả hai trường hợp, họ hoàn toàn hiểu rõ lời Ngài. Tiếng Ngài cũng được nghe rõ ràng tại núi Si-na-i (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:1–20), cũng như trong lễ báp-têm và sự hóa hình của Đức Chúa Giê-su (Ma-thi-ơ 3:17; Ma-thi-ơ 17:5). Chúng ta có thể hiểu lầm khi người khác nói chuyện với mình, nhưng chắc chắn rằng khi Đức Chúa Trời phán với ai đó, sẽ không có sự hiểu lầm hay lừa dối nào xảy ra.

Kinh Thánh xác nhận rằng: “Đức Chúa Trời lại phán cùng Môi-se rằng: ‘Ta là Đức Giê-hô-va’ ” (Xuất Ê-díp-tô Ký 6:2). Nhiều người viết Kinh Thánh thừa nhận đã nghe được tiếng của Đức Chúa Trời khi Ngài phán cùng họ. Ví dụ như Ê-sai (Ê-sai 8:1,11), Giê-rê-mi (Giê-rê-mi 1:4,9,11) và Ê-xê-chi-ên (Ê-xê-chi-ên 3:16; 6:1). Bất kỳ nỗ lực nào phủ nhận những điều này đồng nghĩa với việc nghi ngờ sự chân thật của các nhà tiên tri và độ tin cậy của Kinh Thánh.

Cũng như việc Đức Chúa Trời phán với các tiên tri bằng ngôn ngữ mà con người có thể hiểu được, các tiên tri cũng truyền đạt sứ điệp ấy cho cộng đồng của họ bằng lời nói. Chẳng hạn, Nô-ê là một tiên tri thật của Đức Chúa Trời và là một “thầy giảng đạo công bình” trung tín của Ngài (2 Phi-e-rơ 2:5). Ông không viết bất cứ sách nào trong Kinh Thánh, nhưng ông đã truyền đạt sứ điệp của Đức Chúa Trời bằng lời nói cho dân sự đương thời, và sứ điệp ấy cũng được soi dẫn như những gì được ghi chép trong Kinh Thánh bởi các tiên tri khác.

Một số nhà tiên tri khác, bao gồm Na-than, Ê-li, Ê-li-sê, và Giăng Báp-tít, không viết bất cứ sách nào trong Kinh Thánh; thay vào đó, họ truyền đạt sứ điệp bằng lời nói.

Còn chính Đức Chúa Giê-su thì sao? Các sách Tin lành ghi lại rằng trong thời gian Ngài thi hành chức vụ trên thế gian, Ngài chỉ “lấy ngón tay viết trên đất” (Giăng 8:6). Chỉ có vậy thôi. Chúng ta không có bất cứ bản ghi chép nào của Đức Chúa Giê-su về điều gì khác. Nhưng Ngài đã dạy dỗ và rao giảng bằng lời nói, “vì Ngài dạy như là có quyền, chớ không giống các thầy thông giáo” (Ma-thi-ơ 7:29). Một số người nghe Ngài thậm chí thừa nhận: “Chẳng hề có người nào đã nói như Người này” (Giăng 7:40,46). Đức Chúa Giê-su chủ yếu truyền đạt sứ điệp của Đức Chúa Trời bằng lời nói, và sứ điệp của Ngài không bị mất đi uy quyền hay thiếu sức thuyết phục, cho dù Ngài không viết bất cứ sách nào trong Kinh Thánh.

Thật thú vị khi biết rằng Đức Chúa Trời có những nhà tiên tri không để lại ghi chép nào trong Kinh Thánh. Tại sao những tiên tri không viết sách nào trong Kinh Thánh này vẫn có thẩm quyền như những tiên tri tham gia viết Kinh Thánh?

Thứ Tư Những sứ điệp bằng văn bản

Một số bài giảng nổi tiếng đã ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống của con người và thậm chí thay đổi dòng chảy của lịch sử. Nếu những bài thuyết giảng ấy không được ghi chép lại, lời nói sẽ phai nhạt dần hoặc bị bóp méo theo thời gian. Vì vậy, việc ghi chép lại đã bảo tồn được tính lâu dài của các sứ điệp, và việc bảo tồn lâu dài đó cho phép sứ điệp được lưu truyền qua nhiều thế hệ.

Ngay sau khi dân Y-sơ-ra-ên thoát khỏi xứ Ê-díp-tô và đánh bại người A-ma-léc, Đức Chúa Trời đã phán cùng Môi-se: “Hãy chép điều này trong sách làm kỷ niệm” (Xuất Ê-díp-tô Ký 17:14). Bắt đầu từ Môi-se, người đã soạn thảo năm sách đầu tiên của Kinh Thánh và Thi Thiên 90, Đức Thánh Linh đã soi dẫn các tiên tri được chọn để họ viết nên những văn bản mà ngày nay là 66 sách trong Kinh Thánh.

Đọc Xuất Ê-díp-tô Ký 17:14; Giăng 20:30, 31; 1 Cô-rinh-tô 10:11; và Khải Huyền 1:19. Hãy kể ra một số lý do mà Đức Chúa Trời yêu cầu các tiên tri ghi lại sứ điệp mà Ngài đã ban cho họ?

Các sách khác nhau trong Kinh Thánh phản ánh văn phong và kỹ năng riêng của từng tác giả. Như chúng ta sẽ thảo luận trong bài học tuần tới, những sắc thái cá nhân và các phong cách khác nhau của từng người viết không làm giảm đi giá trị của sứ điệp, vì không hề có mức độ khác nhau trong sự soi dẫn dành riêng cho từng người viết. Rõ ràng là có một số chủ đề trong Kinh Thánh có liên quan và được áp dụng nhiều hơn vào đời sống và đức tin của chúng ta ngày nay so với những chủ đề khác. Nhưng điều này không có nghĩa là phần này của Kinh Thánh được ưu tiên trong sự soi dẫn hơn phần khác.

Đôi khi những người viết Kinh Thánh ghi lại những sứ điệp đã được họ truyền đạt bằng lời nói trước đó, có thể do chính họ ghi chép, hoặc nhờ một cộng sự đáng tin cậy ghi lại. Trong sách Phục-truyền Luật-lệ Ký, Môi-se đã ghi lại những bài giảng cuối cùng của mình dành cho dân Y-sơ-ra-ên trước khi ông qua đời. Bốn sách Tin lành ghi lại nhiều bài giảng và lời dạy của Đức Chúa Giê-su trong thời gian Ngài thi hành sứ mạng trên đất.

Tuy nhiên, cũng có những trường hợp các tiên tri trích dẫn những lời nói không được soi dẫn (Công vụ các Sứ đồ 17:28; 1 Cô-rinh-tô 15:33; Tít 1:12) và thậm chí lời nói của Sa-tan (Sáng-thế Ký 3:1–5; Ma-thi-ơ 4:1–11). Chúng ta nên nhớ rằng khi các tiên tri ghi lại cảm xúc và ước muốn của người khác, họ cũng bày tỏ những phản ứng trong chính con người mình (xem Đa-ni-ên 8:27; Khải Huyền 22:8,9). Hơn nữa, Kinh Thánh nêu lên nhiều gương tốt để chúng ta noi theo, nhưng cũng phơi bày nhiều gương xấu để mọi người tránh xa (1 Cô-rinh-tô 10:1–11).

Khi đọc Kinh Thánh, chúng ta cần ghi nhớ rằng, dù không được viết bằng ngôn ngữ hoàn hảo, nhưng Kinh Thánh mang một thông điệp không thể sai lầm, và sẽ đứng vững trước mọi thử thách của thời gian.

Thứ Năm Kịch tính, biểu tượng và ẩn dụ

Kinh Thánh có một kho tàng phong phú về những hình ảnh minh họa và các phép ẩn dụ đầy sinh động. Chẳng hạn, toàn bộ hệ thống tế lễ trong thời Cựu Ước—từ các bàn thờ của tổ phụ, đền tạm thời Môi-se, cho đến đền thờ tại Giê-ru-sa-lem—đều là những hình ảnh tượng trưng cho sự hy sinh chuộc tội của Đấng Cơ-đốc trên thập tự giá và chức vụ Thầy Tế lễ Thượng phẩm của Ngài trên trời (Hê-bơ-rơ 8:1–6).

Trong các lời tiên tri của Đa-ni-ên, những vương quốc và thế lực trên thế gian được mô tả bằng: Các phần khác nhau của một pho tượng cao lớn (Đa-ni-ên 2:31–45), các con thú khác nhau và những cái sừng (Đa-ni-ên 7 và 8), và hai vị vua (Đa-ni-ên 11). Những hình ảnh tương tự cũng xuất hiện trong sách Khải Huyền, như trường hợp hai con thú trong Khải Huyền 13.

Trong những lời dạy của Ngài, Đức Chúa Giê-su đã dùng nhiều hình ảnh cụ thể để nói về chính Ngài. Chẳng hạn, Ngài phán rằng Ngài là Bánh Hằng Sống (Giăng 6:35, 41–58), là Sự Sáng của thế gian (Giăng 8:12; 9:5), và là Gốc Nho Thật (Giăng 15:1–8). Qua ẩn dụ về người gieo giống (Ma-thi-ơ 13:1-9, 18–23) và nhiều ẩn dụ khác nữa (Ma-thi-ơ 13:24–52, v.v.), Đức Chúa Giê-su đã minh họa một cách sâu sắc về bản chất và sự phát triển của vương quốc Ngài.

Đọc Ê-xê-chi-ên 4:1–8. Tại sao bạn nghĩ rằng Đức Chúa Trời không chỉ phán bằng lời, mà còn kịch tính hóa một số sứ điệp của Ngài bằng những hình ảnh sinh động?

Một hình ảnh đầy kịch tính xuất hiện trong Ê-xê-chi-ên 4:1–8, khi Đức Chúa Trời yêu cầu nhà tiên tri làm một mô hình thu nhỏ của Giê-ru-sa-lem, rồi nằm nghiêng một bên—trước hết là bên tả trong 390 ngày, tượng trưng cho nhà Y-sơ-ra-ên; sau đó bên hữu trong 40 ngày, tượng trưng cho nhà Giu-đa. Một trải nghiệm trực quan khác nữa là cuộc hôn nhân theo lệnh Chúa giữa Ô-sê và Gô-me—một người đàn bà ngoại tình—tượng trưng cho sự bất trung tâm linh của dân Y-sơ-ra-ên đối với Đức Chúa Trời (Ô-sê 1:2–9).

Những trải nghiệm đầy kịch tính của Ê-xê-chi-ên và Ô-sê dường như khá sốc đối với chúng ta ngày nay. Nhưng việc đó là có mục đích. Chúng phải gây sốc, không chỉ với chúng ta ngày nay mà cả với dân sự thời bấy giờ. Trong thời điểm mà những lời cảnh báo của các tiên tri bị từ chối một cách công khai (xem 2 Sử-ký 36:15–21), hành động cuối cùng bày tỏ lòng thương xót của Đức Chúa Trời là thức tỉnh dân sự của Ngài một cách đầy kịch tính, chỉ rõ tình trạng thực sự của họ để dẫn đến sự ăn năn thật lòng. Hành động ấn tượng như vậy đáng lẽ phải khiến dân sự nhận ra sự nghiêm trọng của những lời cảnh báo mà Đức Chúa Trời đã dành cho họ.

Ngày nay, nếu muốn cảnh tỉnh chúng ta về tình trạng giống như Hội Thánh Lao-đi-xê, thì người ta có thể dùng hình thức minh họa sống động nào? (Xem Khải Huyền 3:14–18).

Thứ Sáu Ellen G. White nói về sự mặc khải và sự soi dẫn

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC

Người Cơ-đốc Phục Lâm tin rằng Ellen G. White được Đức Chúa Trời soi dẫn một cách đặc biệt. Các bài viết, cuộc đời và chức vụ của bà đáp ứng các tiêu chuẩn của một tiên tri thật. Bà nhận được sự soi dẫn tương tự như các tiên tri trong Kinh Thánh, dù chính bà chưa bao giờ xem những gì mình viết có thẩm quyền như Kinh Thánh. Trái lại, Ellen G. White luôn tôn cao Kinh Thánh. Vậy, chính bà hiểu thế nào về những mặc khải tiên tri mà Đức Chúa Trời đã ban cho và tiến trình được Ngài soi dẫn?

Trước hết, Ellen G. White luôn xem Kinh Thánh là sự mặc khải đầy thẩm quyền và không thể sai lầm của Đức Chúa Trời. Kinh Thánh bày tỏ lẽ thật của Đức Chúa Trời và kế hoạch cứu rỗi dành cho nhân loại sa ngã. Trong tiến trình đó, như chúng ta đang học, Ngài dùng các nhà tiên tri để truyền đạt sứ điệp của Ngài.

Thứ hai, Ellen G. White nhận biết rằng tiến trình soi dẫn này bao gồm sự tương tác giữa Đức Chúa Trời và con người. Đức Chúa Trời truyền đạt sứ điệp của Ngài, nhưng sau đó các tiên tri sẽ truyền lại những chỉ dẫn thiêng liêng ấy bằng chính ngôn ngữ và lời lẽ của họ. Như Ellen G. White trình bày: “Không phải là lời trong Kinh Thánh là được soi dẫn, nhưng chính người viết được soi dẫn. Sự soi dẫn không tác động lên lời nói hay cách diễn đạt của người ấy, mà tác động lên chính người đó; dưới ảnh hưởng của Đức Thánh Linh, họ được thấm nhuần những tư tưởng thiêng liêng. Tâm trí và ý chí của Đức Chúa Trời hiệp nhất với tâm trí và ý chí của con người; và những lời nói của con người chính là lời của Đức Chúa Trời”—Selected Messages (Sứ điệp chọn lọc), quyển 1, tr. 21.

Liên quan đến những sự hiện thấy và các giấc mộng tiên tri, Ellen G. White hiểu “sự soi dẫn trong ý tưởng” là sự kết hợp giữa mặc khải thiêng liêng và trải nghiệm của con người. Bà viết: “ ‘Kinh Thánh, với lẽ thật do Đức Chúa Trời ban nhưng được diễn đạt bằng ngôn ngữ của loài người, bày tỏ sự hiệp nhất giữa điều thiêng liêng và con người’ ”—Selected Messages (Sứ điệp chọn lọc), quyển 1, tr. 25. Đức Chúa Trời đã dùng nhiều cách để khắc ghi sứ điệp của Ngài vào tâm trí của sứ giả Ngài. Những cách này gồm có: hình ảnh minh họa, lời phán, và các ý tưởng tác động lên mọi giác quan của nhà tiên tri. Trải nghiệm của Ellen G. White cũng tương tự như trải nghiệm của những người viết Kinh Thánh.

Thứ ba, Ellen G. White lưu ý rằng không phải tất cả những trải nghiệm và giao tiếp của bà với con người đều được soi dẫn. Bà diễn giải: “Có những lúc cần phải trình bày những điều bình thường, hay xảy ra trong cuộc sống; những suy nghĩ đời thường, hay xuất hiện trong tâm trí; hoặc những bức thư thường ngày phải được viết và những thông tin cần được chuyển từ người này sang người khác trong công việc. Những lời như thế, những thông tin như thế không được đưa ra dưới sự soi dẫn đặc biệt của Thánh Linh Đức Chúa Trời”—Selected Messages (Sứ điệp chọn lọc), quyển 1, tr. 39. Điều quan trọng là phải nhận biết sự khác biệt này khi chúng ta đọc những bài viết về các trải nghiệm của bà, để hiểu một cách đúng đắn, đặc biệt là thư từ và nhật ký của bà.

Biết được quan điểm của Ellen G. White về sự mặc khải và sự soi dẫn giúp chúng ta tránh được những quan điểm cực đoan và có thể đọc lời khuyên của bà một cách thận trọng và đầy sáng suốt.