11

Sự rao báo tiên tri trong những thời điểm quan trọng

Bài Học 11 · 5 – 11 Tháng 12

Sự rao báo tiên tri trong những thời điểm quan trọng

Kinh Thánh Nghiên Cứu: 2 Phi-e-rơ 2:5; Các Quan Xét 4:4–16; 1 Các Vua 18:21,38,39; Ê-sai 59:1–4; Nê-hê-mi 9:30; Khải Huyền 1:1–3

"Cũng vậy, Chúa Giê-hô-va chẳng có làm một việc gì mà Ngài chưa tỏ sự kín nhiệm Ngài ra trước cho tôi tớ Ngài, là các Đấng tiên tri." — A-mốt 3:7
Sa-bát Sự rao báo tiên tri trong những thời điểm quan trọng

Câu gốc

“Cũng vậy, Chúa Giê-hô-va chẳng có làm một việc gì mà Ngài chưa tỏ sự kín nhiệm Ngài ra trước cho tôi tớ Ngài, là các Đấng tiên tri.” (A-mốt 3:7).

Kinh Thánh nghiên cứu

2 Phi-e-rơ 2:5; Các Quan Xét 4:4–16; 1 Các Vua 18:21,38,39; Ê-sai 59:1–4; Nê-hê-mi 9:30; Khải Huyền 1:1–3.

Từ sau khi loài người sa ngã, con người có khuynh hướng chọn những thú vui tội lỗi tạm thời thay vì sự sống đời đời trong Đức Chúa Giê-su. Đức Chúa Trời biết rõ thực trạng đáng buồn này, nhưng Ngài vẫn yêu thương chúng ta và vẫn hành động để cứu rỗi chúng ta.

Vì lý do đó, tại những thời điểm quan trọng trong lịch sử, Đức Chúa Trời đã hành động một cách đặc biệt thông qua chức vụ tiên tri vì lợi ích của dân Ngài. Tuy nhiên, khi những nỗ lực của Ngài nhiều lần bị từ chối, Ngài cũng cảnh báo về sự phán xét sắp đến. Qua các tiên tri của mình, Chúa luôn bày tỏ trước những việc Ngài sắp làm (A-mốt 3:7). Nếu con người ăn năn, Ngài sẵn sàng tha thứ.

Ngày nay Ngài vẫn tiếp tục giao tiếp với chúng ta theo cách đó. Vì vậy, thật hợp lý khi Đức Chúa Trời cũng phán với dân Ngài trong những ngày cuối cùng của lịch sử trái đất giống như cách Ngài đã phán với dân Ngài trong các thế kỷ trước.

Bài học tuần này sẽ nhìn lại những thời điểm quan trọng trong lịch sử cứu rỗi khi Đức Chúa Trời dùng các tiên tri để bày tỏ rõ ràng ý muốn của Ngài cho dân Ngài và cho cả thế giới. Chúng ta cũng sẽ tìm hiểu vai trò của chức vụ được soi dẫn của Ellen G. White trong những giai đoạn quan trọng của sự phát triển phong trào Cơ-đốc Phục Lâm.

Nghiên cứu bài học tuần này để chuẩn bị cho Sa-bát ngày 12 tháng 12.

Thứ Nhất Cảnh báo về thảm hoạ

Đức Chúa Trời muốn cứu rỗi nhân loại. Ngay sau khi loài người sa ngã, Ngài đã tìm kiếm mối quan hệ với A-đam và Ê-va. Trong một thời gian, cư dân trên đất đã “cầu khẩn danh Đức Giê-hô-va” (Sáng-thế Ký 4:26). Nhưng theo thời gian, số người bước đi với Đức Chúa Trời ngày càng ít đi. Những người vẫn tiếp tục theo Ngài đã làm chứng về sự tốt lành của Ngài, lên án tội lỗi của những người xung quanh và cảnh báo về hậu quả của hành động họ.

Đến thời của Nô-ê, sự gian ác trên đất đã trở nên quá lớn nên Đức Chúa Trời quyết định hủy diệt thế gian (Sáng-thế Ký 6:5–7). Nô-ê, một người rao giảng sự công bình (2 Phi-e-rơ 2:5), chắc chắn đã cảnh báo cho tất cả những ai chịu lắng nghe về sự hủy diệt sắp đến. Đức Chúa Trời cũng hướng dẫn Nô-ê đóng một con tàu cứu sinh (chiếc tàu) để cứu tất cả những ai tin vào lời cảnh báo của ông và ăn năn.

Đọc Hê-bơ-rơ 11:7; 2 Phi-e-rơ 2:5; Sáng-thế Ký 6:9. Nô-ê đã là “người rao giảng sự công bình” như thế nào?

Trận Đại Hồng Thủy là một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử nhân loại. Câu chuyện này được nhắc lại nhiều lần trong cả Cựu Ước và Tân Ước như một ví dụ về sự sa đọa sâu sắc của con người và ân điển tuyệt vời của Đức Chúa Trời. Sự công bình của Đức Chúa Trời được bày tỏ qua sự đoán phạt đối với thế gian tội lỗi và qua việc Ngài giải cứu những ai chấp nhận sự cứu rỗi.

“Giữa sự bại hoại phổ biến đó, Mê-tu-sê-la, Nô-ê và nhiều người khác đã nỗ lực giữ cho sự hiểu biết về Đức Chúa Trời chân thật còn tồn tại và ngăn chặn làn sóng tội lỗi đạo đức. Một trăm hai mươi năm trước khi cơn Đại Hồng Thủy xảy ra, Chúa đã phán với Nô-ê qua một thiên sứ thánh về ý định của Ngài và chỉ dẫn ông đóng một chiếc tàu. Trong khi đóng tàu, ông phải rao giảng rằng Đức Chúa Trời sẽ đem nước lụt đến trên đất để tiêu diệt kẻ ác. Những ai tin sứ điệp ấy và chuẩn bị cho biến cố đó bằng sự ăn năn và từ bỏ tội lỗi sẽ được tha thứ và được cứu.”—Ellen G. White, Patriarchs and Prophets (Tộc trưởng và tiên tri), tr. 92.

Đức Chúa Trời không chỉ báo trước cho Nô-ê về cơn lụt và cứu những người trong tàu, mà Ngài còn lập giao ước với Nô-ê và toàn thể tạo vật, hứa rằng Ngài sẽ không bao giờ hủy diệt thế gian bằng nước lụt nữa (Sáng-thế Ký 9:8–17).

Mỗi cầu vồng đều chứa đựng lời hứa và niềm hy vọng về sự cứu chuộc.

Lần tới khi bạn nhìn thấy cầu vồng, hãy nghĩ đến lời hứa đó. Tại sao điều này đem lại cho bạn sự an ủi khi biết rằng Đức Chúa Trời luôn giữ những lời hứa của Ngài?

Thứ Hai Một người mẹ trong Y-sơ-ra-ên

Sau khi giải cứu dân Y-sơ-ra-ên khỏi ách nô lệ tại Ai Cập, Đức Chúa Trời ban cho họ đất Ca-na-an. Ngài hứa sẽ ban phước dồi dào nếu họ vâng giữ luật pháp và các điều răn của Ngài. Ngài cũng cảnh báo rằng nếu họ phá vỡ giao ước với Ngài thì sẽ dẫn đến đau khổ và sự hủy diệt (Phục Truyền Luật Lệ Ký 27–30).

Sau khi Giô-suê qua đời, dân Y-sơ-ra-ên rời xa giao ước với Đức Chúa Trời. Vì thế họ bị các dân tộc lân cận áp bức và họ kêu cầu Đức Chúa Trời. Đáp lại, “Đức Giê-hô-va dấy lên các quan xét để giải cứu họ khỏi tay những kẻ cướp bóc họ” (Các Quan Xét 2:16). Ngài cũng sai các tiên tri đến để khích lệ dân Y-sơ-ra-ên làm mới lại giao ước với Đức Chúa Trời và ban sức mạnh cho họ chống lại kẻ áp bức.

Đọc Các Quan Xét 4:4–16 và Các Quan Xét 5:1–5. Đê-bô-ra đã làm gì cho dân Y-sơ-ra-ên?

Đê-bô-ra đóng một vai trò tiên tri rất quan trọng khi truyền đạt sứ điệp của Đức Chúa Trời cho dân Y-sơ-ra-ên và cho Ba-rác, vị chỉ huy quân đội của quốc gia, khi ông tập hợp quân lính. Chính bà là người ra hiệu cho Ba-rác bắt đầu trận chiến, nói rằng: Đê-bô-ra nói cùng Ba-rác rằng: “Hãy đứng dậy, vì này là ngày Đức Giê-hô-va phó Si-sê-ra vào tay ngươi.” (Các Quan Xét 4:14).

Là một quan xét của Y-sơ-ra-ên, Đê-bô-ra giữ vai trò then chốt. Sự lãnh đạo và đức tin của bà vào lời hứa chiến thắng của Đức Chúa Trời đã làm vững lòng dân Y-sơ-ra-ên trong cuộc chiến chống lại kẻ thù. Kỹ năng quân sự của Ba-rác và sự sẵn lòng lãnh đạo quân đội của ông cũng rất quan trọng, nhưng đó không phải là điều quyết định chiến thắng.

Có lẽ đây là thông điệp quan trọng nhất từ câu chuyện của nữ tiên tri Đê-bô-ra và người lính Ba-rác . Giữa lúc ăn mừng một chiến thắng lớn, hai người quyền lực nhất trong Y-sơ-ra-ên, một quan xét và một vị tướng chiến thắng đã dẫn dắt cộng đồng tôn vinh Đức Chúa Trời. Đó chính là bản chất của sự lãnh đạo tâm linh chân thật.

Chức vụ tiên tri của Đê-bô-ra làm chứng về sự thành tín của Đức Chúa Trời trong thời kỳ khốn khó và áp bức. Khi Đức Chúa Trời ban cho bà sứ điệp dành cho Ba-rác, bà không nghi ngờ khả năng tập hợp đủ quân lính, cũng không tranh luận rằng dân Y-sơ-ra-ên quá yếu để chiến thắng. Thay vào đó, bà truyền đạt sứ điệp với sự xác tín và khích lệ Ba-rác gạt bỏ nghi ngờ để tin cậy vào sự tể trị của Đức Chúa Trời.

Làm thế nào chúng ta có thể học cách tin cậy Đức Chúa Trời khi hiện tại mọi việc dường như không có nhiều hy vọng?

Thứ Ba Sự kêu gọi ăn năn

Đọc Các Quan Xét 2:16–19. Bạn thấy mẫu hình nào xuất hiện ở đây?

Khi có sự chuyển tiếp quan trọng sang chế độ quân chủ và khi dân Y-sơ-ra-ên yêu cầu có một vị vua (1 Sa-mu-ên 8), thời kỳ các quan xét kết thúc. Nhưng sự thay đổi này lại làm gia tăng nhu cầu về các tiên tri để khuyên bảo, sửa dạy và quở trách nhà vua, các lãnh đạo quốc gia và dân chúng.

Trong thời trị vì của A-háp, Đức Chúa Trời sai Ê-li đến với một sứ điệp phán xét: sẽ không có mưa, vì dân Y-sơ-ra-ên đã “từ bỏ các điều răn của Đức Giê-hô-va và theo các thần Ba-anh” (1 Các Vua 18:18). Thay vì ăn năn, A-háp tìm cách truy lùng và giết Ê-li, nhưng Đức Chúa Trời đã bảo vệ ông (1 Các Vua 18:10–12).

Đến năm thứ ba của nạn đói, khi Ê-li gặp nhà vua, A-háp lại đổ lỗi cho ông về việc không có mưa (1 Các Vua 18:17). Sau đó Ê-li triệu tập toàn dân Y-sơ-ra-ên để có một cuộc đối đầu quyết định giữa Đức Chúa Trời và các tiên tri của Ba-anh (1 Các Vua 18:19).

Đọc lời tuyên bố của Ê-li và phản ứng của dân chúng trong 1 Các Vua 18:21,38,39. Điều gì đã xảy ra?

Hành động quyền năng khi lửa từ trời giáng xuống, cùng với sứ điệp tiên tri của Ê-li, đã tác động mạnh mẽ đến dân sự Đức Chúa Trời và khiến họ ăn năn. Cũng giống như dân Y-sơ-ra-ên đã do dự không muốn hoàn toàn cam kết với Đức Chúa Trời, ngày nay chúng ta cũng sống trong những nền văn hóa không thừa nhận Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa và Đấng Cứu Chuộc. Thay vì làm chứng cho Ngài và kêu gọi người khác trung tín với Ngài, nhiều khi chúng ta lại né tránh sự kêu gọi của mình và chạy theo những ham muốn riêng tư, giống như dân Y-sơ-ra-ên đã làm.

Đức Chúa Trời cảnh báo rằng việc chạy theo ham muốn riêng sẽ dẫn đến sự đổ vỡ, đau khổ và cuối cùng là sự chết. Nhưng nếu chúng ta nghe theo tiếng Ngài, thì: “Đức Giê-hô-va sẽ luôn luôn dẫn dắt ngươi, làm thỏa mãn linh hồn ngươi trong nơi khô hạn, và làm cho xương cốt ngươi mạnh mẽ; ngươi sẽ như vườn được tưới nước, như nguồn nước không bao giờ cạn.” (Ê-sai 58:11).

Bản tính xác thịt của chúng ta thường thúc đẩy chúng ta chống nghịch Đức Chúa Trời, đôi khi ngay cả một cách vô thức. Chúng ta cần đưa ra những lựa chọn nào để không bị khuất phục bởi bản tính đó?

Thứ Tư Hy vọng trong thời lưu đày

“Đức Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của tổ phụ họ, đã sai các sứ giả của Ngài đến cảnh báo họ, Ngài dậy sớm và sai họ đi, vì Ngài thương xót dân Ngài và nơi ở của Ngài.” (2 Sử Ký 36:15).

Sau thời của Ê-li-se, Đức Chúa Trời tiếp tục sai nhiều tiên tri đến để an ủi, cảnh báo và dạy dỗ dân sự Ngài. Tuy nhiên, các vương quốc Y-sơ-ra-ên và Giu-đa đã sa vào tình trạng bại hoại đến mức Đức Chúa Trời so sánh họ với Sô-đôm và Gô-mô-rơ (Ê-sai 1:9–10).

Dân sự của Đức Chúa Trời trở nên kiêu ngạo, tham lam và thờ hình tượng. Họ áp bức người làm công, góa phụ, trẻ mồ côi và những người ngoại quốc đến nhờ giúp đỡ (xem Ê-sai 58 về phản ứng của Đức Chúa Trời đối với những thất bại của Y-sơ-ra-ên). Cuối cùng, sự phán xét của Đức Chúa Trời đã đưa Y-sơ-ra-ên vào cảnh bị lưu đày tại A-si-ry (2 Các Vua 17:1–6) và Giu-đa bị lưu đày sang Ba-by-lôn (2 Các Vua 24–25).

Trong khi Đức Chúa Trời sửa phạt dân Ngài, Ngài không bỏ rơi họ trong cảnh lưu đày. Ngài vẫn sai các tiên tri như Ê-xê-chi-ên và Đa-ni-ên đến để đem lại hy vọng cho tương lai.

Đọc Ê-sai 59:1–4 và Nê-hê-mi 9:30. Điều gì được nói ở đây mà vẫn áp dụng cho mọi thời đại?

Trong suốt lịch sử của mình, hai vương quốc Y-sơ-ra-ên và Giu-đa đã phải gánh chịu hậu quả của tội lỗi. Khi quay lưng với Đức Chúa Trời, họ rời khỏi sự che chở an toàn của Ngài và phải đối diện với sự phán xét của Ngài. Đức Chúa Trời không dung thứ cho sự áp bức và thờ hình tượng, nhưng Ngài cũng không lập tức đày họ đi ngay lần đầu họ phạm tội.

Đức Chúa Trời đã kiên nhẫn làm việc với dân Ngài, khẩn nài họ qua các tiên tri để họ ăn năn và quay trở lại với Ngài. Nhưng họ từ chối lắng nghe. Thật đáng kinh ngạc khi thấy Đức Chúa Trời đã kiên nhẫn trong thời gian dài như thế nào khi tìm cách đưa dân Ngài rời bỏ tội lỗi. Suốt nhiều thế kỷ, qua hết tiên tri này đến tiên tri khác, qua hết lời cảnh báo này đến lời cảnh báo khác, Đức Chúa Trời vẫn tìm cách chạm đến lòng họ.

Chính Đức Chúa Giê-su đã nói phán rõ điều này: “Hỡi Giê-ru-sa-lem, Giê-ru-sa-lem, ngươi là kẻ giết các tiên tri và ném đá những người được sai đến cùng ngươi! Bao nhiêu lần Ta muốn nhóm các con ngươi lại như gà mái túc con mình dưới cánh, mà các ngươi không muốn!” (Ma-thi-ơ 23:37).

Tuy vậy, ngay cả khi họ bị lưu đày, Đức Chúa Trời vẫn không để dân Ngài mất hy vọng. Mặc dù họ nhiều lần thất bại, Ngài vẫn hứa: “Đấng Cứu Chuộc sẽ đến Si-ôn, đến với những người trong Gia-cốp từ bỏ sự vi phạm.” (Ê-sai 59:20).

Hãy suy nghĩ về sự thành tín của Đức Chúa Trời ngay cả khi Y-sơ-ra-ên quay lưng với Ngài. Bạn đã thấy thực tế về tình yêu kiên nhẫn đó của Đức Chúa Trời trong đời sống mình như thế nào? Nếu Ngài không kiên nhẫn và yêu thương như vậy, cuộc đời bạn sẽ ra sao?

Thứ Năm Tiên tri cho thời kỳ cuối cùng

Đọc Khải Huyền 1:1–3. Giăng được kêu gọi làm gì?

Những Cơ-đốc nhân đầu tiên sống trong sự trông đợi về lời hứa ràng Đức Chúa Giê-su sẽ trở lại. Sứ đồ Giăng đã thấy Đấng Cơ-đốc thăng lên trong đám mây và nghe thiên sứ giải thích rằng Ngài sẽ trở lại cũng một thể ấy (Công Vụ 1:10,11). Nhưng giờ đây Hội Thánh đầu tiên phải đối diện với điều chưa biết. Đúng vậy, Đức Chúa Giê-su đã phán rằng Ngài sẽ trở lại. Nhưng khi nào?

Khi Giăng bị lưu đày trên đảo Bát-mô, Đức Chúa Trời đã phán với ông về lời hứa liên quan đến sự tái lâm của Đức Chúa Giê-su: “Kìa, Ngài đến với những đám mây, mọi mắt sẽ trông thấy, cả đến những kẻ đã đâm Ngài” (Khải Huyền 1:7). Giăng cũng nhận được một sự mặc khải rộng lớn về những biến cố sẽ báo hiệu thời kỳ cuối cùng. Ngoài sự khích lệ và quở trách dành cho bảy Hội Thánh (Khải Huyền 2, 3), các sự mặc khải còn bao gồm những khải tượng về sự phán xét (Khải Huyền14:6–12), về sự tận thế (Khải Huyền 20), về sự tái lâm của Đấng Cơ-đốc (Khải Huyền 14:14–16), và về sự tái tạo thế giới (Khải Huyền 21,22).

“Giăng tự nhận mình là anh em và là người cùng chia sẻ với họ trong hoạn nạn, trong nước Đức Chúa Trời, và trong sự kiên nhẫn nơi Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc.”(Khải Huyền 1:9). Ông hiểu thế nào là chịu khổ, không chỉ vì sự chờ đợi, mà còn vì sự bắt bớ khi rao giảng lời Đức Chúa Trời và làm chứng về Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc.

Suốt sách Khải Huyền, Giăng được mời xem và được truyền phải viết lại những gì ông thấy. Trong chương cuối, ông viết: “Chính tôi là Giăng đã thấy và đã nghe những điều đó” (Khải Huyền 22:8). Giăng là một nhân chứng tiên tri về các biến cố của thời kỳ cuối cùng, được giao nhiệm vụ chia sẻ với Hội Thánh trong thời của ông, những điều đã được bày tỏ qua khải tượng (Khải Huyền 22:16). Ông gợi nhớ đến Giăng Báp-tít, người đã rao báo về sự giáng lâm thứ nhất của Đấng Cơ-đốc (Giăng 1:6–8) vào một thời điểm then chốt trong lịch sử thế gian.

Chúng ta cũng được kêu gọi làm chứng như Giăng. Chúng ta cũng phải giữ lời chứng của Đức Chúa Giê-su (Khải Huyền 19:10)—là lời chứng Ngài đã bày tỏ về chính mình qua các tiên tri. Có thể chúng ta không nhận được khải tượng như Giăng, nhưng chúng ta có thể kiên nhẫn chờ đợi sự trở lại của Đấng Cơ-đốc, đồng thời làm chứng về công việc của Ngài trong đời sống mình và nhận biết những dấu hiệu về sự cứu rỗi sắp đến.

Hãy suy nghĩ về ánh sáng mà chúng ta đã được nhận. Thậm chí chúng ta đã nhận được quá nhiều, thì trách nhiệm nào đang đặt trên chúng ta?

Thứ Sáu Tiếng nói tiên tri

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC

Đức Chúa Trời từ xưa vẫn luôn truyền đạt với loài người qua các tiên tri của Ngài. Điều ấy đặc biệt đúng trong những thời điểm then chốt của lịch sử. Vậy thì, chẳng phải là hợp lý sao khi chúng ta kỳ vọng rằng Đức Chúa Trời cũng sẽ phán với dân Ngài trong thời kỳ cuối cùng?

Khi những tín hữu Phục Lâm theo phong trào Miller trải qua “Sự Thất Vọng Lớn” vào ngày 22 tháng 10 năm 1844, Đức Chúa Trời đã kêu gọi Ellen G. White bước vào chức vụ tiên tri và ban cho bà một sứ điệp dành cho những tín hữu đang thất vọng. Khải tượng đầu tiên của bà nhằm mục đích an ủi họ giữa cơn tuyệt vọng.

Một bước ngoặt quan trọng khác là sự khởi đầu của các ấn phẩm Phục Lâm và việc tổ chức chính thức những tín hữu giữ ngày Sa-bát thành một giáo hội. Qua các ấn phẩm và công tác truyền giáo, đến thập niên 1860, nhóm tín hữu này đã phát triển lên đến hàng ngàn người. Họ cần được tổ chức để có thể rao truyền sứ điệp ba thiên sứ (Khải Huyền 14:6–12) một cách hữu hiệu hơn. Dù một số người phản đối ý tưởng tổ chức, Đức Chúa Trời đã dùng Ellen G. White để khích lệ bước đi này. Ngày 21 tháng 5 năm 1863, Hội Thánh Cơ-đốc Phục Lâm chính thức được thành lập.

Cũng trong năm đó, Đức Chúa Trời đã sử dụng ân tứ tiên tri để khích lệ công cuộc cải cách sức khỏe giữa vòng các tín hữu. Phần lớn các tín hữu Cơ-đốc Phục Lâm thời bấy giờ không có sức khỏe tốt và cũng không có lối sống lành mạnh. Qua hai khải tượng toàn diện về sức khỏe mà Ellen G. White nhận được vào các năm 1863 và 1865, hướng đi này đã được thay đổi. Từ đó, Cơ-đốc Phục Lâm trở thành những người khích lệ cho sức khỏe và lối sống lành mạnh.

Từ thập niên 1870 đến 1890, Ellen G. White đóng vai trò then chốt trong việc xây dựng hệ thống giáo dục Cơ-đốc Phục Lâm. Triết lý giáo dục toàn diện của bà (bao gồm học thuật, thực hành và thuộc linh) dần dần được chấp nhận và thực hiện. Như bà đã viết: “Giáo dục chân chính không chỉ là việc theo đuổi một chương trình học nhất định. Nó không chỉ là sự chuẩn bị cho đời sống hiện tại. Nó liên quan đến toàn bộ con người, và toàn bộ thời gian tồn tại mà con người có thể đạt được. Đó là sự phát triển hài hòa của các năng lực thể chất, trí tuệ và thuộc linh.”—Giáo dục, tr. 13.

Vào thập niên 1880, bà giữ vai trò quan trọng trong việc đem lại sự quân bình cho thần học Cơ-đốc Phục Lâm về sự cứu rỗi. Bà nhấn mạnh tính trọng tâm của ân điển Đức Chúa Trời và sự công bình bởi đức tin trong khuôn khổ sự nhấn mạnh đặc trưng của Cơ-đốc Phục Lâm về luật pháp. Từ năm 1901 đến 1903, bà góp phần tái tổ chức cơ cấu giáo hội để sứ mạng của Hội Thánh đối với thế giới được thực hiện cách hiệu quả hơn.

Tóm lại, sẽ không có Hội Thánh Cơ-đốc Phục Lâm như chúng ta biết ngày nay nếu không có chức vụ của Ellen G. White. Bà là sứ giả của Đức Chúa Trời trong những thời điểm mang tính quyết định.

Để tìm hiểu thêm, truy cập: https://whiteestate.org/absg/11