Đấng Tạo Hóa phán
Kinh Thánh Nghiên Cứu: Sáng-thế Ký 1:27,28; Sáng-thế Ký 3:1–8; Lu-ca 15:11–32; Sáng-thế Ký 3:14–24; Xuất Ê-díp-tô Ký 19:16–22; Giăng 10:27–30
"Đời xưa, Đức Chúa Trời đã dùng các Đấng tiên tri phán dạy tổ phụ chúng ta nhiều lần nhiều cách, rồi đến những ngày sau rốt này, Ngài phán dạy chúng ta bởi Con Ngài, là Con mà Ngài đã lập lên kế tự muôn vật, lại bởi Con mà Ngài đã dựng nên thế gian" — Hê-bơ-rơ 1:1,2
Sa-bát Đấng Tạo Hóa phán
Câu gốc
“Đời xưa, Đức Chúa Trời đã dùng các Đấng tiên tri phán dạy tổ phụ chúng ta nhiều lần nhiều cách, rồi đến những ngày sau rốt này, Ngài phán dạy chúng ta bởi Con Ngài, là Con mà Ngài đã lập lên kế tự muôn vật, lại bởi Con mà Ngài đã dựng nên thế gian” (Hê-bơ-rơ 1:1,2).
Kinh Thánh nghiên cứu
Sáng-thế Ký 1:27,28; Sáng-thế Ký 3:1–8; Lu-ca 15:11–32; Sáng-thế Ký 3:14–24; Xuất Ê-díp-tô Ký 19:16–22; Giăng 10:27–30.
Công nghệ kỹ thuật số cho phép nhiều người trong chúng ta nhìn thấy bạn bè và người thân ở những nơi xa xôi. Điều đó thật tốt. Nhưng gặp gỡ trực tiếp vẫn tuyệt vời hơn biết bao! Có điều gì đó rất đặc biệt xảy ra khi chúng ta quây quần bên nhau, trao nhau những cái ôm và trò chuyện mặt đối mặt
Trong tuần này, chúng ta sẽ được nhắc nhớ rằng con người được tạo dựng để có mối quan hệ trực diện với Đấng Tạo Hóa của mình. Tuy nhiên, tội lỗi đã phá vỡ mối liên hệ mật thiết ấy từ lâu. Để khôi phục sự thông giao với những tạo vật yêu dấu của Ngài, Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta những phương cách để Ngài tương tác với chúng ta. Hình thức tương tác thiêng liêng được biết đến nhiều nhất của Ngài với nhân loại là qua những người phát ngôn được Ngài chọn lựa cẩn thận, gọi là các tiên tri, là những người bày tỏ sứ điệp của Ngài cho chúng ta. Các tiên tri này thường được ghi chép trong Kinh Thánh, nhưng không phải lúc nào cũng vậy.
Kế hoạch tối hậu của Đức Chúa Trời là phục hồi hình ảnh của Ngài trong chúng ta—hình ảnh mà tội lỗi đã làm tan vỡ. Ý nghĩa của kế hoạch cứu rỗi là: phục hồi, một sự phục hồi sẽ được hoàn tất khi Đức Chúa Trời tạo dựng “trời mới và đất mới, nơi sự công bình ăn ở”(2 Phi-e-rơ 3:13).
Trong khi chờ đợi ngày ấy, Đức Chúa Trời vẫn đang phán cùng chúng ta, và Ngài vẫn dùng các tiên tri của Ngài để truyền đạt ý muốn của Ngài.
Nghiên cứu bài học tuần này để chuẩn bị cho Sa-bát ngày 03 tháng 10.
Thứ Nhất Sự giao tiếp trong vườn Ê-đen
Sáng-thế Ký 1 và 2 thuật lại câu chuyện về sự Sáng Tạo. Đức Chúa Trời đã dựng nên một thế giới tốt đẹp, rồi Ngài đặt A-đam và Ê-va trong đó—cao điểm của công cuộc sáng tạo. Con người khác biệt với mọi loài thọ tạo khác trên đất vì họ được tạo dựng “theo hình ảnh của Đức Chúa Trời” (Sáng-thế Ký 1:27), điều này chỉ được nói về con người chứ không phải về chim chóc hay các loài động vật khác. Vì thế, họ được kêu gọi sống một đời sống trọn vẹn, dư dật, trải nghiệm tình yêu dưới mọi hình thức, và bước đi trong sự thông công với chính Đức Chúa Trời.
Ngoài ra, chúng ta đọc trong Sáng-thế Ký 2:18–23 rằng Đức Chúa Trời đã tạo dựng Ê-va cho A-đam, vì như Đức Chúa Trời đã phán, “loài người ở một mình thì không tốt” (Sáng-thế Ký 2:18). Như vậy, ngay từ ban đầu, con người đã được tạo dựng như những hữu thể có tính xã hội. Ngày nay, các nhà xã hội học dạy rằng sự tương tác giữa con người mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe thể chất và tinh thần, trong khi sự cô đơn có thể gây chết chóc.
Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi sau khi Ê-va được tạo dựng, A-đam đã thốt lên: “Người này là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi mà ra. Người này sẽ được gọi là người nữ, vì nó do người nam mà ra” (Sáng-thế Ký 2:23). Cấu trúc gia đình được thiết lập bởi một người nam và một người nữ kết hiệp trong hôn nhân, chính là thể chế xã hội đầu tiên mà Đức Chúa Trời ban cho loài người, để họ có thể trải nghiệm mối quan hệ và sự thông công trọn vẹn. Không có gì lạ khi một trong những mục tiêu chính của Sa-tan từ trước đến nay luôn là phá hủy những động lực nền tảng của gia đình nguyên thủy.
Đọc Sáng-thế Ký 1:27–28; Sáng-thế Ký 2:15–17; và Sáng-thế Ký 3:9. Giữa Đức Chúa Trời và con người đã có sự giao tiếp như thế nào trong vườn Ê-đen?
A-đam và Ê-va được hưởng mối tương giao trực diện với Đức Chúa Trời. Như những hữu thể có trí tuệ, họ có thể gặp gỡ Đức Chúa Trời và lắng nghe sự dạy dỗ của Ngài. Với vai trò là những người quản lý khu vườn tuyệt diệu của Đức Chúa Trời, họ lớn lên trong tri thức và kỹ năng khi chăm sóc các loài thực vật và động vật sống. Mỗi ngày, họ cũng có khoảng thời gian đặc biệt với Đức Chúa Trời “vào buổi chiều” (Sáng-thế Ký 3:8). Đặc biệt, ngày Sa-bát—một phần thiết yếu trong công trình sáng tạo của Đức Chúa Trời—được biệt riêng làm thời gian tương giao giữa Đức Chúa Trời và con cái Ngài (Sáng-thế Ký 2:2,3; Xuất Ê-díp-tô Ký 20:8–11). Trong ngày ấy, tổ phụ đầu tiên của chúng ta đã kinh nghiệm tình yêu và sự chăm sóc của Đức Chúa Trời dành cho họ theo một cách rất đặc biệt.
Đối với chúng ta ngày nay, cách xa Ê-đen hàng ngàn năm, thật khó để tưởng tượng cuộc sống trước khi tội lỗi xuất hiện như thế nào. Tuy nhiên, ngay cả bây giờ, thế giới thiên nhiên vẫn bày tỏ công trình sáng tạo ban đầu của Đức Chúa Trời như thế nào?
Thứ Hai Trốn tránh Đức Chúa Trời
Vì Đức Chúa Trời là sự yêu thương (1 Giăng 4:8), Ngài không tạo dựng con người như những “cỗ máy”. Tình yêu bao hàm sự lựa chọn. Để có thể yêu thương, A-đam và Ê-va phải được tạo dựng với ý chí tự do; nếu không, họ sẽ không thể trao cho nhau tình yêu—tình yêu đích thực—một cách thật sự.
Vì vậy, A-đam và Ê-va có quyền tự do để vâng lời hoặc không vâng lời Đấng Tạo Hóa của mình. Thực tế về sự tự do lựa chọn này được thể hiện qua mệnh lệnh không được ăn trái của cây biết điều thiện và điều ác (xem Sáng-thế Ký 2:15–17). Nếu ngay từ đầu Đức Chúa Trời không cho họ sự tự do lựa chọn, thì tại sao Ngài lại phải cảnh báo họ không được ăn trái cây ấy?
“Tổ phụ đầu tiên của chúng ta, dù được tạo dựng trong sự vô tội và thánh khiết, nhưng vẫn không vượt ra ngoài khả năng làm điều sai trái. Đức Chúa Trời đã tạo dựng họ là những con người tự do nhưng có đạo đức, có khả năng nhận biết và trân trọng sự khôn ngoan cùng lòng nhân từ trong bản tính của Ngài, cũng như sự công chính trong những yêu cầu của Ngài; và với quyền tự do hoàn toàn để vâng phục hoặc từ chối vâng phục. Họ được hưởng mối thông công với Đức Chúa Trời và với các thiên sứ thánh… Nếu không có quyền tự do lựa chọn, sự vâng phục của họ sẽ không phải là tự nguyện, mà là bị ép buộc”—Ellen G. White, Patriarchs and Prophets (Các Tộc trưởng và Tiên tri), tr. 48–49.
Tại sao A-đam và Ê-va tìm cách trốn tránh Đấng Tạo Hóa của mình sau khi họ bất tuân Ngài? Xem Sáng-thế Ký 3:1–8 (so sánh với Giê-rê-mi 23:24 và Hê-bơ-rơ 4:13)
Sáng-thế Ký 3 mô tả một cảnh đáng buồn—sự sa ngã của A-đam và Ê-va. Sau cuộc đối thoại đầy kịch tính giữa con rắn (Sa-tan) và Ê-va, tổ mẫu đầu tiên của chúng ta đã bị cám dỗ ăn trái của “cây biết điều thiện và điều ác”, điều mà Chúa đã cấm họ. Sa-tan đã sử dụng sức mạnh của lời nói, cảm xúc và những sự lôi cuốn đầy khoái lạc để thuyết phục Ê-va; rồi Ê-va lại thuyết phục A-đam vi phạm mạng lệnh của Đức Chúa Trời. Ê-va nhận thấy rằng trái của cây ấy “ăn ngon”, “đẹp mắt,” và “quý để mở trí khôn” (Sáng-thế Ký 3:6). Lời dụ dỗ của Sa-tan rằng họ sẽ “ ‘giống như Đức Chúa Trời, biết điều thiện và điều ác’ ” (Sáng-thế Ký 3:5) nghe thật không thể cưỡng lại được.
Thực tế, lời lẽ của Sa-tan đầy rẫy những sai lầm. Sa-tan đã che giấu khỏi họ những hậu quả của sự không vâng lời. Sau khi họ không vâng lời Đức Chúa Trời, mắt họ lập tức “mở ra”, và họ thấy mình “lõa lồ”. “Y phục” bằng ánh sáng và sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (Thi Thiên 104:1–2), phản chiếu “hình ảnh” thiêng liêng của Ngài, đã không còn nữa. Họ không còn được che phủ bởi điều mà chính Đức Chúa Trời đã ban cho họ. Không có gì lạ khi A-đam và Ê-va ẩn mình khỏi Đấng Tạo Hóa của mình (như thể họ có thể trốn khỏi Đức Chúa Trời vậy). Họ tìm cách trốn vì tội lỗi khiến chúng ta cảm thấy mình phạm tội; và trong cảm giác tội lỗi ấy, chúng ta muốn chạy trốn khỏi sự hiện diện của Đức Chúa Trời.
Kinh nghiệm cá nhân của bạn về sự xấu hổ và việc tìm cách trốn khỏi Đức Chúa Trời sau khi bạn đã phạm tội là gì?
Thứ Ba Đức Chúa Trời tìm kiếm con người
Chúng ta có thể thấy từ Sáng-thế Ký 3:9–10 rằng Đức Chúa Trời đã chủ động đi tìm những con cái sa ngã của Ngài. Câu hỏi “Ngươi ở đâu?” mang tính tu từ¹, vì Đức Chúa Trời biết rõ A-đam và Ê-va đã làm gì và họ đang ở đâu. Tuy nhiên, tội lỗi đã cắt đứt mối giao thông bình thường vốn tồn tại giữa Ngài và đôi vợ chồng đầu tiên của loài người. Mối quan tâm trước mắt của Đức Chúa Trời là khôi phục mối giao thông với các con cái Ngài, gặp gỡ họ và ban cho họ hy vọng trong lúc tuyệt vọng. Thật vậy, động từ tiếng Hê-bơ-rơ qārā’ (“gọi”) trong Sáng-thế Ký 3:9 thường được dùng để mô tả lời kêu gọi của Đức Chúa Trời nhằm thiết lập sự tương giao với dân sự Ngài.
Đọc Lu-ca 15:11–32. Câu chuyện ví dụ này phản ảnh điều xảy ra trong Sáng-thế Ký 3:9,10 như thế nào?
Sự tìm kiếm A-đam và Ê-va của Đức Chúa Trời bày tỏ tình yêu vô điều kiện của Ngài đối với con cái Ngài. Đức Chúa Trời không bao giờ bỏ cuộc đối với chúng ta (xem Lu-ca 15). Ngài sẵn sàng làm mọi cách để tái lập mối thông công với chúng ta, ngay cả khi chúng ta lẩn trốn. “Trước khi Đức Chúa Giê-su chịu đóng đinh trên thập tự giá, khi Phi-e-rơ ba lần chối bỏ Ngài, Chúa đã ‘xây lại ngó Phi-e-rơ’ (Lu-ca 22:61). Không cần lời nói, Ngài vẫn truyền đạt một thông điệp đến Phi-e-rơ, tìm cách đánh thức lương tâm và kéo người bạn đang lầm lạc ấy trở về với mình.”
Xin để ý trong Sáng-thế Ký 3:11–13, tội lỗi đã đột ngột làm thay đổi mối quan hệ của A-đam và Ê-va như thế nào. Thay vì xưng nhận tội lỗi cá nhân của mình, họ bắt đầu đổ lỗi cho người khác. A-đam đổ lỗi cho Ê-va và gián tiếp đổ lỗi cho Đức Chúa Trời, vì chính Ngài đã ban Ê-va cho ông. Ông nói: “Người nữ mà Chúa đã để gần bên tôi cho tôi trái cây đó và tôi đã ăn rồi” (Sáng-thế Ký 3:12). Còn Ê-va thì đổ lỗi cho con rắn về sự bất tuân của mình. “Con rắn đã dỗ dành tôi, và tôi đã ăn rồi” (Sáng-thế Ký 3:13) là lời bào chữa của nàng. Không ai trong hai người, ít nhất là khi đứng trước tội lỗi của mình, chịu nhận trách nhiệm về sự phạm tội của bản thân. Sau sáu ngàn năm, dường như chẳng có thay đổi gì nhiều. Thực tế là tội lỗi đã ảnh hưởng đến mọi người. Sứ đồ Phao-lô mô tả rất rõ tình trạng của chúng ta trong Rô-ma 7:15–24, khi ông trình bày nỗi đau của việc khao khát làm điều đúng nhưng lại nhận ra mình đang làm điều ngược lại: “Vì tôi không hiểu điều mình làm: Tôi chẳng làm điều mình muốn, nhưng làm điều mình ghét” (Rô-ma 7:15).
Ai trong chúng ta lại không thấy mình giống như vậy?
Điều Phao-lô nói thật sâu sắc. Tất cả chúng ta đều là những con người thất bại, cứ tiếp tục làm những điều mà mình biết là không nên làm. Ai trong chúng ta lại chưa từng trải qua thực tế này?
Niềm hy vọng duy nhất của chúng ta, theo lời Phao-lô, là sự giải cứu “nhờ Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc, là Chúa chúng ta” (Rô-ma 7:25). Chính vì vậy mà Đức Chúa Trời vẫn tiếp tục tìm kiếm chúng ta, để dẫn chúng ta đến với Đức Chúa Giê-su—Đấng duy nhất có thể tạo chúng ta theo hình ảnh của Ngài và cứu chúng ta khỏi sự tàn phá do tội lỗi gây ra.
¹ Tính tu từ: là cách thức sử dụng ngôn ngữ từ vựng, cú pháp để tăng sức gợi hình, tạo ấn tượng mạnh cho câu nói.
Thứ Tư Ra khỏi vườn Ê-đen
Một trong những hậu quả tàn khốc nhất của tội lỗi của A-đam và Ê-va là sự xa cách khỏi Đức Chúa Trời. Họ bị đuổi ra khỏi vườn Ê-đen và không còn có thể trò chuyện mặt đối mặt với Đức Chúa Trời nữa. Tiên tri Ê-sai đã diễn tả rất sâu sắc về tình trạng khó khăn này của con người: “Nhưng ấy là sự gian ác các ngươi làm xa cách mình với Đức Chúa Trời; và tội lỗi các ngươi đã che khuất mặt Ngài khỏi các ngươi, đến nỗi Ngài không nghe các ngươi nữa.” (Ê-sai 59:2).
Thật vậy, A-đam và Ê-va vẫn là con cái của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, hậu quả của tội lỗi thì không thể tránh khỏi, và họ buộc phải rời khỏi vườn Ê-đen. Mọi sự đã không còn như trước kể từ khi họ không vâng theo lời của Đức Chúa Trời.
Tội lỗi đã thay đổi loài người theo nhiều cách khác nhau (xem Sáng-thế Ký 3:14–24). Nhưng tội lỗi đã đặc biệt làm thay đổi sự giao tiếp của chúng ta với Đức Chúa Trời như thế nào? (Cũng xem Xuất Ê-díp-tô Ký 19:16–22.)
Tội lỗi đã hoàn toàn làm thay đổi đời sống con người theo những cách mà chúng ta khó có thể tưởng tượng được, bởi vì tất cả những gì chúng ta biết đó là một thế giới đã bị tội lỗi bao phủ. Vì tội lỗi, đất đai bị “rủa sả” và phải sinh ra “chông gai và cây tật lê”. Con người nay phải chịu đau đớn, phải “đổ mồ hôi” mới có thể làm ra lương thực cho mình, rồi cuối cùng cũng phải chết và trở về bụi đất. Trong mọi lời nhắc nhở về tội lỗi, sự chết vẫn là điều mạnh mẽ nhất. Đồng thời, cũng vì tội lỗi mà chúng ta đã mất đi sự giao tiếp trực tiếp với Đức Chúa Trời.
Tuy nhiên, A-đam và Ê-va đã được hứa ban một giải pháp để đối phó với sự tàn phá của tội lỗi. Mặc dù tổ phụ của loài người không còn được thấy và trò chuyện trực tiếp với Đức Chúa Trời, họ rời khỏi vườn Ê-đen với niềm hy vọng cho hiện tại và tương lai. Chính Đức Chúa Trời đã chủ động hành động và giải thích cho họ kế hoạch cứu rỗi của Ngài.
Sáng-thế Ký 3:15, thường được gọi là “lời hứa phúc âm đầu tiên”, tràn đầy hy vọng cho họ (và cho chúng ta), bất chấp những gì đã xảy ra. Lời hứa về một Đấng Cứu Chuộc sẽ đến đem lại sự thù nghịch hiện tại đối với tội lỗi và niềm hy vọng về sự cứu rỗi trong tương lai cho nhân loại. Thật vậy, việc Đức Chúa Trời ban y phục cho A-đam và Ê-va trước khi họ rời khỏi vườn Ê-đen là một hành động mang tính biểu tượng, nói trước sự cứu chuộc trong tương lai của họ. Qua sự chết và sự phục sinh của Đức Chúa Giê-su trong tương lai, mối tương giao với Đức Chúa Trời sẽ được phục hồi (Giăng 14:1–3).
Nghĩa là, ngay tại vườn Ê-đen, ngay sau khi tội lỗi xâm nhập, nhân loại đã được ban cho niềm hy vọng và lời hứa rằng vấn đề tội lỗi cuối cùng sẽ được giải quyết. Ngay khi có tội lỗi thì lập tức có lời hứa về một Đấng Cứu Thế.
Bạn đã cảm thấy thế nào sau khi làm một điều không đúng? Cảm giác tội lỗi? Xấu hổ? Tự ghét chính mình? Những hậu quả là gì? Đức tin của bạn nơi Đức Chúa Trời và lời hứa của phúc âm đã giúp bạn không từ bỏ đức tin như thế nào?
Thứ Năm Những phát ngôn viên của Đức Chúa Trời
Những câu Kinh Thánh sau cho biết Đức Chúa Trời đã giao tiếp với con người bằng cách nào sau khi tội lỗi xâm nhập? (Xin đọc Hê-bơ-rơ 1:1,2; Rô-ma 1:19,20; Dân số Ký 12:6; 2 Ti-mô-thê 3:16,17; Giăng 14:7–9; Giăng 10:27–30.)
Mặc dù tội lỗi xâm nhập, Đức Chúa Trời vẫn tìm ra nhiều cách để giao tiếp với loài người sa ngã. Một cách mà Đức Chúa Trời bày tỏ chính Ngài cho chúng ta là qua sự sáng tạo. Thiên nhiên là sự bày tỏ mạnh mẽ về những công việc kỳ diệu của Ngài. Các nhà khoa học kinh ngạc trước những điều kỳ diệu của vũ trụ và trước sự phức tạp của ngay cả những dạng sự sống được xem là “đơn giản” nhất. Tuy nhiên, thiên nhiên cũng cho thấy những hậu quả của sự Sa Ngã, với cái chết của mọi sinh vật sống là minh chứng mạnh mẽ nhất.
Một cách khác mà Đức Chúa Trời đã phán với nhân loại là qua các nhà tiên tri—những người mà Ngài chọn làm người phát ngôn của Ngài. Chẳng hạn, Đức Chúa Trời đã phán với Nô-ê, Áp-ra-ham, Môi-se và Đa-ni-ên, bày tỏ ý muốn của Ngài cho dân sự Ngài. Cốt lõi của các sứ điệp tiên tri của Đức Chúa Trời là lời nhắc nhở rằng Ngài không quên con cái Ngài và vẫn luôn ở cùng họ. Và mặc dù một số nhà tiên tri đã viết những điều Chúa phán và ngày nay trở thành Kinh Thánh, thì những người khác lại không hề viết bất kỳ sách nào trong Kinh Thánh.
Tuy nhiên, nhiều lời của các nhà tiên tri đã được truyền đạt qua Kinh Thánh (2 Ti-mô-thê 3:16,17). Kinh Thánh là sự mặc khải về chính Đức Chúa Trời. Qua lời của Ngài, chúng ta biết Ngài là ai, thấy được tình yêu vô hạn của Ngài, và nhận thấy sự dẫn dắt của Ngài trong cuộc sống của chúng ta.
Hơn nữa, qua Kinh Thánh chúng ta hiểu mình là ai, chúng ta đến từ đâu và chúng ta đang đi về đâu. Nhờ Kinh Thánh, chúng ta tìm thấy mục đích của Đức Chúa Trời dành cho cuộc đời của mình.
Nhưng cách hiệu quả nhất mà Đức Chúa Trời đã phán với chúng ta là qua Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc—Đấng dĩ nhiên được bày tỏ cho chúng ta trong Kinh Thánh. Cũng như Đức Chúa Trời đã tìm kiếm A-đam và Ê-va trong vườn Ê-đen, thì Đấng Cơ-đốc đã đến để “tìm và cứu kẻ bị mất” (Lu-ca 19:10). Đức Giê-su phán: “Ai đã thấy Ta là đã thấy Cha” (Giăng 14:9). Qua đời sống, sự chết và sự sống lại của Ngài, Đấng Cơ-đốc đã làm trọn lời hứa được ban cho A-đam và Ê-va tại Ê-đen. Ngài đã đến và chết thay cho chúng ta, để chúng ta nhận được sự sống đời đời qua Ngài.
Sau khi Đức Giê-su thăng thiên, Đức Thánh Linh vẫn tiếp tục dẫn dắt chúng ta “vào mọi lẽ thật” và phán với chúng ta về “những điều sẽ đến” (Giăng 16:13).
Bạn được an ủi nhiều như thế nào, khi biết rằng Đức Giê-su—tình yêu của Ngài, bản tính của Ngài và sự hy sinh quên mình của Ngài—bày tỏ cho chúng ta biết gì về Đức Chúa Trời là Cha?
Thứ Sáu Ellen G. White
NGHIÊN CỨU BỔ TÚC
Sự giao tiếp của Đức Chúa Trời không chỉ giới hạn trong thời kỳ Kinh Thánh. Như chúng ta sẽ thấy trong những tuần tới, Đức Chúa Trời vẫn luôn phán với loài người không ngừng, và lời phán của Ngài sẽ được bày tỏ bằng những cách thức hiện đại cho đến khi Đấng Cơ-đốc tái lâm.
Ellen Gould Harmon [White] và người chị em sinh đôi của bà là Elizabeth sinh vào ngày 26 tháng 11 năm 1827, tại Gorham, bang Maine. Họ là hai người con nhỏ nhất trong tám người con của ông bà Eunice và Robert Harmon. Vài năm sau, gia đình chuyển đến thành phố Portland, bang Maine, nơi Robert Harmon hy vọng mở rộng công việc làm mũ của mình. Năm 9 tuổi, Ellen bị một tai nạn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chất, tinh thần và đời sống của bà. Khi đang ở trong một công viên gần nhà, một bạn học tức giận đã ném đá trúng vào mặt bà, khiến Ellen rơi vào trạng thái nửa tỉnh nửa mê trong nhiều tuần lễ. Tai nạn này chấm dứt việc học của bà và để lại cho bà những vấn đề về sức khỏe suốt đời. Những thương tích trên khuôn mặt cũng khiến Ellen mặc cảm về ngoại hình của mình, hạn chế các mối quan hệ và sự giao tiếp xã hội.
Chính trong tình cảnh vô vọng này khiến cho cô gái trẻ Ellen Harmon bắt đầu suy nghĩ về số phận tâm linh của mình. Cô sợ hãi Đức Chúa Trời và cảm thấy mình không xứng đáng với thiên đàng. Những cảm giác sợ hãi ấy càng gia tăng khi gia đình Harmon chấp nhận giáo lý Millerite về sự tái lâm sắp đến của Đức Chúa Giê-su. Ngay cả sau khi được làm phép báp-têm tại Hội Thánh Giám Lý vào năm 1842, Ellen vẫn không cảm thấy mình xứng đáng với tình yêu của Đức Chúa Trời. Cô tin rằng mình “đã bị hư mất đời đời” (Life Sketches of Ellen G. White, tr. 29; xem thêm tr. 20–31).
Giữa những suy nghĩ đầy đau đớn ấy, Ellen đã có hai giấc mơ bắt đầu làm thay đổi cách cô nhìn về Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, phải đến khi gặp Levi Stockman, một mục sư Giám Lý, cô mới thật sự hiểu và cảm nhận được tình yêu cùng ân điển của Đức Chúa Trời. Như thể Đức Chúa Trời đã phán với cô ngay trong lúc tuyệt vọng. Sau này bà viết: “Đức tin lúc ấy đã chiếm trọn lòng tôi. Tôi cảm nhận được một tình yêu không thể diễn tả đối với Đức Chúa Trời và có sự chứng nhận của Thánh Linh Ngài rằng tội lỗi tôi đã được tha.
Cách nhìn của tôi về Đức Chúa Cha đã thay đổi. Giờ đây, tôi nhìn Ngài như một người Cha nhân từ và dịu dàng, chứ không phải một bạo chúa nghiêm khắc buộc con người phải vâng phục mù quáng. Lòng tôi hướng về Ngài với một tình yêu sâu sắc và nồng cháy.” —Life Sketches of Ellen G. White (Phác họa cuộc sống của Ellen G. White), tr. 39. Đồng thời, Ellen White cũng hiểu được giáo lý về “tình trạng của người chết” và dần dần nắm bắt ý niệm rằng không có một địa ngục cháy đời đời. Sự hiểu biết mới mẻ của bà về Đức Chúa Trời và tình yêu của Ngài đã hoàn toàn thay đổi thái độ sống của bà. Như chúng ta sẽ học vào mỗi ngày thứ sáu trong những tuần sắp tới, Ellen White đã yêu mến Đức Chúa Giê-su cách sâu sắc và phục vụ Ngài cho đến hết cuộc đời mình.
Để tìm hiểu thêm, xin truy cập tại: https://whiteestate.org/absg/1