Chức vụ được thúc đẩy bởi tình yêu thương
Kinh Thánh Nghiên Cứu: 2 Cô-rinh-tô 1:3–14; 2 Cô-rinh-tô 2:17; 2 Cô-rinh-tô 4:2; 1 Cô-rinh-tô 16:5–7; 2 Cô-rinh-tô 7:5–13; 2 Cô-rinh-tô 2:5–17
"Vì chính trong cơn hoạn nạn lớn và lòng đau buồn, nước mắt đầm đìa, mà tôi đã viết thư cho anh em, nào phải để cho anh em buồn rầu, nhưng để anh em biết tình yêu thương dư dật mà tôi có đối với anh em" — 2 Cô-rinh-tô 2:4
Sa-bát Chức vụ được thúc đẩy bởi tình yêu thương
Câu gốc
"Vì chính trong cơn hoạn nạn lớn và lòng đau buồn, nước mắt đầm đìa, mà tôi đã viết thư cho anh em, nào phải để cho anh em buồn rầu, nhưng để anh em biết tình yêu thương dư dật mà tôi có đối với anh em" (2 Cô-rinh-tô 2:4).
Kinh Thánh nghiên cứu
2 Cô-rinh-tô 1:3–14; 2 Cô-rinh-tô 2:17; 2 Cô-rinh-tô 4:2; 1 Cô-rinh-tô 16:5–7; 2 Cô-rinh-tô 7:5–13; 2 Cô-rinh-tô 2:5–17.
Sứ đồ Phao-lô không phải lúc nào cũng có cuộc sống dễ dàng. Ngoài tù ngục và những hoàn cảnh đe dọa tánh mạng mà ông phải đối diện, Phao-lô còn viết: “Năm lần bị người Giu-đa đánh roi, mỗi lần thiếu một roi đầy bốn chục; ba lần bị đánh đòn; một lần bị ném đá; ba lần bị chìm tàu. Tôi đã ở trong biển sâu một ngày một đêm. Lại nhiều lần tôi đi đường, nguy trên sông bến, nguy với trộm cướp, nguy với giữa dân mình, nguy với dân ngoại, nguy trong các thành, nguy trong các đồng vắng, nguy trên biển, nguy với anh em giả dối; chịu khó chịu nhọc, lắm lúc thức đêm, chịu đói khát, thường khi nhịn ăn, chịu lạnh và lõa lồ. Còn chưa kể mọi sự khác, là mỗi ngày tôi phải lo lắng về hết thảy các Hội Thánh” (2 Cô-rinh-tô 11:24–28).
Điều chúng ta thấy trong các bức thư của ông gởi cho người Cô-rinh-tô là một phần “sự lo lắng” sâu sắc mà Phao-lô dành cho Hội Thánh này. Tuy nhiên, giữa tất cả những điều đó, tình yêu thương của ông dành cho họ không hề phai nhạt, cũng như tình yêu thương của Đấng Cơ-đốc dành cho chúng ta không bao giờ phụ chúng ta. Thật vậy, chính từ nơi Đức Chúa Giê-su mà Phao-lô đã học cách yêu thương các Hội Thánh theo cách phản ánh tình yêu thương mà Đức Chúa Giê-su dành cho chúng ta (2 Cô-rinh-tô 5:14; xem 1 Cô-rinh-tô 11:1).
Nghiên cứu bài học tuần này để chuẩn bị cho ngày Sa-bát, ngày 29 tháng 8.
Thứ Nhất Sự tạ ơn
Đọc 2 Cô-rinh-tô 1:3–7. Lý do cho thái độ tạ ơn của Phao-lô ở đây là gì?
Lòng biết ơn của Phao-lô tập trung vào sự an ủi mà Đức Chúa Trời ban cho những người đang chịu khổ. Trong đoạn này, động từ parakaleō (an ủi) và danh từ paraklēsis (sự an ủi) xuất hiện cùng nhau mười lần. Điều này chiếm một phần ba tổng số lần xuất hiện của các từ ngữ này trong sách 2 Cô-rinh-tô (29 lần). Đức Chúa Trời được mô tả là “Cha hay thương xót, là Đức Chúa Trời ban mọi sự yên ủi, Ngài yên ủi chúng tôi trong mọi sự khốn nạn” (2 Cô-rinh-tô 1:3, 4).
Sự an ủi mà một người nhận được từ Đức Chúa Trời không phải để giữ riêng cho mình (2 Cô-rinh-tô 1:4, 5). Chỉ có tấm lòng từng chịu hoạn nạn và đã được nhận lãnh sự an ủi của Đức Chúa Trời mới có thể chia sẻ sự an ủi cách hiệu quả cho những người cũng đang chịu hoạn nạn.
Phao-lô có thể an ủi người khác bởi vì chính ông, trong những đau khổ của mình, đã nhận được sự an ủi từ Đức Chúa Trời. “Như chúng tôi gặp hoạn nạn, ấy là để cho anh em được yên ủi và được rỗi . . . Hoặc chúng tôi được yên ủi, ấy là để cho anh em được yên ủi và được rỗi” (2 Cô-rinh-tô 1:6; phần nhấn mạnh được thêm vào). Đây là tình yêu thương!
Phao-lô bày tỏ lòng biết ơn về điều gì trong 2 Cô-rinh-tô 1:8–11?
Phao-lô nói về sự khốn khổ “quá chừng, quá sức mình chịu” đã khiến ông và các bạn đồng lao tưởng rằng mình đã đến hồi tận số (2 Cô-rinh-tô 1:8). Trong một khoảnh khắc, họ tưởng rằng sự sống lại là hy vọng duy nhất của họ. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã giải cứu họ, và tình cảnh đã thay đổi (2 Cô-rinh-tô 1:10). Từ nỗi sợ chết (2 Cô-rinh-tô 1:8), họ vươn lên một niềm hy vọng ngầm rằng Đức Chúa Trời sẽ một lần nữa giải cứu họ (2 Cô-rinh-tô 1:10). Những chiến thắng của Đức Chúa Trời trong quá khứ đem lại cho chúng ta sự tin chắc rằng Ngài sẽ làm điều tương tự trong tương lai. Đức Chúa Trời dùng những hoạn nạn để dạy chúng ta tin cậy nơi Ngài. Những gian khổ có thể dẫn chúng ta đến sự trưởng thành thuộc linh, ít nhất là trong mức độ chúng ta để cho chúng kéo chúng ta đến gần Đức Chúa Trời hơn. Sự tạ ơn của Phao-lô cũng cho thấy quyền năng của sự cầu thay và lòng biết ơn mà chúng ta cảm nghiệm nhờ sự giải cứu của Đức Chúa Trời (2 Cô-rinh-tô 1:11).
Bạn đã thấy điều gì hữu ích trong việc đối diện với sự đau khổ mà, cách này hay cách khác, tất cả chúng ta đều phải đối mặt?
Thứ Hai Sự đơn sơ và chân thành
Hôm qua, chúng ta đã học rằng tình yêu thương của Phao-lô dành cho người Cô-rinh-tô được thể hiện qua việc ông an ủi họ trong những gian khổ của họ, cũng như chính ông đã nhận được sự an ủi từ Đức Chúa Trời trong những gian khổ của mình (2 Cô-rinh-tô 1:1–11). Hôm nay, chúng ta sẽ thấy rằng tình yêu thương của ông dành cho họ cũng được bày tỏ qua sự liêm chính mà ông và các bạn đồng lao đã thể hiện đối với các tín hữu trong Hội Thánh tại Cô-rinh-tô.
Đọc 2 Cô-rinh-tô 1:12–14 dưới ánh sáng của 2 Cô-rinh-tô 2:17 và 2 Cô-rinh-tô 4:2. Sự chân thành của Phao-lô bày tỏ tình yêu thương của ông dành cho người Cô-rinh-tô như thế nào?
2 Cô-rinh-tô 1:12–14 giới thiệu luận điểm mà Phao-lô sẽ triển khai trong phần còn lại của bức thư. Sự liêm chính và chức sứ đồ của ông đã bị một số người tại Cô-rinh-tô nghi ngờ. Họ cho rằng Phao-lô có một tánh cách hay dao động và thiếu kiên định, điều không phù hợp với chức vụ sứ đồ. Để đáp lại, Phao-lô nhấn mạnh rằng ông và các đồng sự đã cư xử với họ bằng sự liêm chính tột bậc.
Hai từ ngữ mô tả cách cư xử của Phao-lô và các cộng sự của ông: sự đơn sơ và sự chân thành (2 Cô-rinh-tô 1:12). Từ “đơn sơ” đến từ tiếng Hy Lạp haplotēs. Ở đây nó được dùng để diễn tả sự liêm chính cá nhân trong lời nói hoặc hành vi; nói tóm lại, nó bày tỏ sự tinh sạch của động cơ (Ê-phê-sô 6:5; Cô-lô-se 3:22). Đến lượt nó, từ “chân thành” (từ tiếng Hy Lạp eilikrineia) cũng chỉ đến sự liêm chính và sự tinh sạch của động cơ.
Người Cô-rinh-tô lẽ ra không nên nghi ngờ sự rõ ràng trong ý định của Phao-lô. Ông làm rõ rằng sự đơn sơ và chân thành của ông có nguồn gốc nơi Đức Chúa Trời. Ý tưởng này được diễn đạt rõ ràng trong bản dịch New English Translation Bible, đề cập đến “những động cơ trong sạch và sự chân thành đến từ Đức Chúa Trời” (2 Cô-rinh-tô 1:12, phần nhấn mạnh được thêm vào). Cũng trong câu này, Phao-lô khẳng định thêm rằng những phẩm chất chức vụ này được ban cho chúng ta “bởi ân điển của Đức Chúa Trời.”
Dường như những kẻ chống đối Phao-lô đã hiểu sai lời của ông, trong những thư từ liên lạc trước đó (2 Cô-rinh-tô 1:13, 14). Phao-lô bảo đảm rằng ý định của ông là rõ ràng và dễ hiểu. Ông tin chắc rằng sự ngay thẳng trong lời nói, ý định và hành động của ông sẽ được làm sáng tỏ “trong ngày Đức Chúa Jêsus” (2 Cô-rinh-tô 1:14).
Kinh nghiệm của chính bạn ra sao khi động cơ hoặc ý định của bạn, dù chân thành và đầy thiện ý đến đâu, lại bị nghi ngờ hoặc thách thức? Điều đó dạy bạn điều gì về việc bạn nên thận trọng đến mức nào khi nghi ngờ động cơ của người khác?
Thứ Ba Thay đổi kế hoạch vì tình yêu thương
Chúng ta đã thấy rằng một số người tại Cô-rinh-tô nghi ngờ ý định và tình yêu thương của Phao-lô. Hôm nay, chúng ta sẽ xem xét một lý do cụ thể: việc ông thay đổi kế hoạch đi đường (2 Cô-rinh-tô 1:15–2:4).
Đọc 1 Cô-rinh-tô 16:5–7. Kế hoạch đi đường ban đầu của Phao-lô là gì?
Phao-lô đã từng ở Cô-rinh-tô trước đó. Theo 1 Cô-rinh-tô 16:5, 6, ông dự định đi ngang qua Ma-xê-đoan trên đường trở về Cô-rinh-tô và, có lẽ, ở lại Cô-rinh-tô trong mùa đông. Từ Cô-rinh-tô, ông sẽ đi đến Giu-đê với phần quyên góp dành cho người nghèo tại Giê-ru-sa-lem không chỉ ở Ma-xê-đoan, mà còn ở A-chai, Ga-la-ti và A-si. Tuy nhiên, ông đã thay đổi kế hoạch vì một báo cáo xấu mà Ti-mô-thê đem đến từ Cô-rinh-tô (1 Cô-rinh-tô 4:17; 1 Cô-rinh-tô 16:10; 2 Cô-rinh-tô 1:1).
Phao-lô dự định đi thẳng từ Ê-phê-sô đến Cô-rinh-tô và tại đó giải quyết các vấn đề mà Ti-mô-thê đã báo cáo. Hành trình mới sẽ là Ê-phê-sô—Cô-rinh-tô—Ma-xê-đoan—Cô-rinh-tô—Giu-đê (2 Cô-rinh-tô 1:15, 16). Ông đi từ Ê-phê-sô đến Cô-rinh-tô, nhưng sau đó ông trở về Ê-phê-sô. Kế hoạch của ông đã thay đổi. Ông không trở lại Cô-rinh-tô như đã định, ít nhất là không ngay lập tức, vì lần thăm viếng gần nhất của ông đã không diễn ra tốt đẹp. Vì vậy, ông trở về Ê-phê-sô và viết thư cho họ thay vì đến thăm. Ông thà gởi một bức thư hơn là liều làm cho tình hình tồi tệ hơn với một chuyến thăm khác (2 Cô-rinh-tô 2:1, 3).
Ý định của Phao-lô trong chuyến thăm cuối cùng đã bị hiểu sai. Một số người tại Cô-rinh-tô nói rằng ông không đáng tin cậy và rằng ông không yêu thương họ đủ (2 Cô-rinh-tô 1:17). Trong lời đáp lại những lời cáo buộc, ông hướng mắt của người Cô-rinh-tô đến Tin Lành của Đấng Cơ-đốc. Ông trung thành với ý định thăm viếng người Cô-rinh-tô vào thời điểm thuận lợi nhất, cũng như Đức Chúa Trời đã trung thành trong việc làm trọn những lời hứa của Ngài với họ qua Đấng Cơ-đốc (2 Cô-rinh-tô 1:18–22).
“Vì chưng cũng như các lời hứa của Đức Chúa Trời đều là phải trong Ngài cả, ấy cũng bởi Ngài mà chúng tôi nói ‘A-men,’ làm sáng danh Đức Chúa Trời” (2 Cô-rinh-tô 1:20).
Như vậy, lời đáp của ông không phải là một sự pha trộn khó hiểu giữa “phải” hay “không” tùy theo hoàn cảnh, như họ đã nói, nhưng “luôn luôn là phải,” cũng như công việc của Đức Chúa Trời trong Đấng Cơ-đốc “luôn luôn là phải” (2 Cô-rinh-tô 1:19).
Do đó, lý do Phao-lô viết thư cho người Cô-rinh-tô thay vì đến thăm họ chính là tình yêu thương chân thành của ông dành cho họ, chứ không phải điều ngược lại (2 Cô-rinh-tô 2:4). Một chuyến thăm khác ngay sau chuyến thăm đau buồn sẽ đem đến cho họ thêm đau buồn, chứ không phải niềm vui mà ông muốn đem lại bằng sự hiện diện của mình (2 Cô-rinh-tô 1:24; 2 Cô-rinh-tô 2:3). Những ý định tốt đẹp của ông đã bị hiểu sai dễ dàng biết bao.
Thứ Tư Sự tha thứ và sự tái khẳng định tình yêu thương
Thay vì đến thăm người Cô-rinh-tô lần thứ hai, sau khi trở về Ê-phê-sô, Phao-lô đã gởi bức thư được biết đến là “bức thư nghiêm khắc” (xem 2 Cô-rinh-tô 2:3, 4; 2 Cô-rinh-tô 7:8, 12).
Đọc 2 Cô-rinh-tô 7:5–13. Kết quả của những gì ông đã viết cho họ là gì, và phản ứng của Phao-lô vì kết quả đó là gì?
Phao-lô và Tít gặp nhau sau đó tại Ma-xê-đoan, nơi Phao-lô nghe Tít báo tin tốt lành tuyệt vời rằng những lời lẽ mạnh mẽ của ông đã đem lại kết quả tích cực, điều đã đem đến niềm vui lớn cho tấm lòng của sứ đồ. Nếu trước đây, một số người tại Cô-rinh-tô đứng về phía chống lại Phao-lô, thì nay Hội Thánh đã đứng về phía ông. Việc nâng đỡ các vị lãnh đạo của chúng ta thật quan trọng biết bao. Là tín hữu của Hội Thánh, chúng ta có thể khiến công việc của họ dễ dàng hơn nhiều so với mức nó vốn có.
Đọc 2 Cô-rinh-tô 2:5–11. Ý tưởng trọng tâm ở đây là gì?
Đoạn này liên quan đến một trường hợp kỷ luật Hội Thánh. Các học giả tranh luận liệu kẻ phạm tội ở đây là người loạn luân trong 1 Cô-rinh-tô 5:1–5 hay là một người khác, một người đã ảnh hưởng người khác trong Hội Thánh trong việc cáo buộc rằng Phao-lô đã thiếu nhất quán và thiếu quan tâm đến họ trong những quyết định đi đường của ông. Bối cảnh dường như nghiêng về phương án thứ hai. Trong bất cứ trường hợp nào, bài học quan trọng nhất của đoạn này liên quan đến cách Hội Thánh nên đối xử với một người đang sống trong tội lỗi.
Đoạn này dạy rằng mục đích của kỷ luật Hội Thánh là sự phục hồi qua sự tha thứ và qua sự tái khẳng định tình yêu thương dành cho kẻ phạm tội (2 Cô-rinh-tô 2:6–8, 10). Đoạn này cũng ngụ ý rằng kỷ luật Hội Thánh có thể gây đau đớn, nhưng nó là điều cần thiết. Nghĩa là, dù có thiện ý đến đâu, và muốn hướng đến “ân điển,” một số Hội Thánh có lẽ không bao giờ đối diện hay xử lý tội lỗi trắng trợn hoặc thậm chí công khai. Mặt khác, một số Hội Thánh khác lại có thể rất cứng nhắc, không khoan dung và khắc nghiệt. Tội lỗi cần được xử lý, nhưng trong tình yêu thương. Vì vậy, Phao-lô có thể khuyên giục Hội Thánh tái khẳng định tình yêu thương đối với kẻ phạm tội (2 Cô-rinh-tô 2:8) bởi vì chính ông yêu thương Hội Thánh (2 Cô-rinh-tô 2:4)!
Hội Thánh tại Cô-rinh-tô có thể yêu thương kẻ phạm tội (2 Cô-rinh-tô 2:8) bởi vì chính Hội Thánh ấy là đối tượng của tình yêu thương của Đức Chúa Trời qua tình yêu thương của Phao-lô. Điều này dạy chúng ta điều gì về tình yêu thương?
Thứ Năm Sự đắc thắng trong Đấng Cơ-đốc
Đọc 2 Cô-rinh-tô 2:12, 13. Phao-lô đã đi đâu sau khi viết "bức thư nghiêm khắc" cho họ? Ông đã làm gì ở đó?
Tấm lòng của Phao-lô không yên trong khi chờ đợi Tít (2 Cô-rinh-tô 7:5, 6). Bất chấp sự bất an đó, ông không thể ngừng nói về Đức Chúa Giê-su (2 Cô-rinh-tô 2:12). Ông yêu Đức Chúa Giê-su biết bao. Vào lúc ấy, ông vẫn chưa biết kết quả của bức thư mình. Ông nóng lòng được gặp Tít và nghe về phản ứng của người Cô-rinh-tô.
Công việc của Phao-lô tại Trô-ách thành công, nhưng “ông không thể ở lại đó lâu. ‘Sự lo lắng về hết thảy các Hội Thánh,’ và đặc biệt là Hội Thánh tại Cô-rinh-tô, đè nặng trên tấm lòng ông. Ông đã hy vọng gặp Tít tại Trô-ách và nghe từ người về việc những lời khuyên bảo và quở trách gởi cho các anh em tại Cô-rinh-tô đã được tiếp nhận ra sao, nhưng về điều này ông đã thất vọng. ‘Trong lòng tôi chẳng được yên nghỉ,’ ông viết về kinh nghiệm này, ‘vì tôi không gặp anh em tôi là Tít.’ Vì vậy ông rời Trô-ách và vượt sang Ma-xê-đoan, nơi mà, tại Phi-líp ông gặp Ti-mô-thê."—Ellen G. White, Công Vụ Các Sứ Đồ, tr. 323.
Đọc 2 Cô-rinh-tô 2:14–17. Phản ứng của Phao-lô là gì khi gặp Tít tại Ma-xê-đoan và nghe về sự đáp ứng tích cực của người Cô-rinh-tô?
Trong một niềm vui bùng nổ, Phao-lô khẳng định rằng Đức Chúa Trời “hằng làm cho chúng tôi được thắng trong Đấng Cơ-đốc” (2 Cô-rinh-tô 2:14). Thật là một lời tuyên bố tuyệt diệu! Một tấm lòng đầy dẫy sự hiện diện của Đấng Cơ-đốc lan tỏa “mùi thơm về sự nhận biết Ngài khắp chốn” (2 Cô-rinh-tô 2:14).
Phao-lô vui mừng trong Đấng Cơ-đốc bởi vì bức thư đau buồn đã sanh ra bông trái mà ông mong muốn gặt hái (2 Cô-rinh-tô 7:5–9). Đây là một chiến thắng lớn lao. Trong khi đó, trong 2 Cô-rinh-tô 2:17, Phao-lô tái khẳng định sự chân thành của mình với tư cách là một sứ đồ của Đấng Cơ-đốc (2 Cô-rinh-tô 2:17; 2 Cô-rinh-tô 1:12). Theo đoạn này, điều phân biệt một đầy tớ trung thành của Đấng Cơ-đốc với một người hầu việc giả dối là trong khi kẻ giả dối rao bán Tin Lành vì tư lợi, thì người trung thành rao giảng Lời của Đức Chúa Trời trong tình yêu thương trọn vẹn dành cho Đấng Cơ-đốc.
Điều gì thúc đẩy bạn trong tất cả những gì bạn làm, đặc biệt là khi bạn làm điều đó trong danh Đức Chúa Giê-su?
Thứ Sáu Suy gẫm thêm
Đọc Ellen G. White, “The Message Heeded,” tr. 323–334, trong Công Vụ Các Sứ Đồ.
“Những người đã mang gánh đau buồn lớn nhất thường là những người đem đến sự an ủi lớn nhất cho người khác, đem ánh nắng đến bất cứ nơi nào họ đến. Những người như vậy đã được tôi luyện và làm cho dịu dàng bởi những hoạn nạn của họ; họ đã không mất lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời khi gian truân ập đến, nhưng càng bám chặt hơn vào tình yêu thương che chở của Ngài. Những người như vậy là bằng chứng sống động về sự chăm sóc dịu dàng của Đức Chúa Trời."—Ellen G. White, God’s Amazing Grace, tr. 122.
“Một đời sống Cơ-đốc tận hiến luôn luôn tỏa ra ánh sáng, sự an ủi và sự bình an. Nó được đặc trưng bởi sự tinh sạch, sự khôn khéo, sự đơn sơ và sự hữu ích. Nó được điều khiển bởi tình yêu thương vô kỷ làm thánh hóa ảnh hưởng. Nó đầy dẫy Đấng Cơ-đốc, và để lại một vệt sáng bất cứ nơi nào người sở hữu nó đi qua."—God’s Amazing Grace, tr. 122.
“Sứ đồ Phao-lô thấy cần thiết phải quở trách điều sai trong Hội Thánh, nhưng ông đã không mất tự chủ khi quở trách điều sai lầm. Ông lo lắng giải thích lý do cho hành động của mình. Ông đã hành động cẩn trọng biết bao để lại ấn tượng rằng ông là một người bạn của những kẻ lầm lạc! Ông làm cho họ hiểu rằng ông phải trả giá bằng nỗi đau để làm cho họ đau. Ông đã để lại trong tâm trí họ ấn tượng rằng lợi ích của ông gắn liền với lợi ích của họ."—Ellen G. White Comments, The SDA Bible Commentary, tập 6, tr. 1094.
Câu hỏi thảo luận:
Trong 2 Cô-rinh-tô 2:1–14, Phao-lô khẳng định sự liêm chính của mình trong chức vụ. Tại sao phẩm chất chức vụ này lại quan trọng đến vậy?
Việc Phao-lô thay đổi kế hoạch đi đường cho chúng ta biết điều gì về sự cần thiết của tính linh hoạt trong chức vụ Cơ-đốc? Tại sao điều quan trọng là phải sẵn sàng thay đổi khi cần thiết?
Phao-lô đã đối diện với sự đau buồn và lo âu trong chức vụ của mình. Điều này cho thấy rõ ràng rằng các vị lãnh đạo Hội Thánh là con người cũng dễ bị tổn thương trước nỗi đau như bất cứ người nào khác. Các tín hữu Hội Thánh có thể làm gì để giúp công việc của họ được nhẹ nhàng hơn?
Phao-lô nhắc đến sự bất an của mình (2 Cô-rinh-tô 2:13) ngay trước khi đề cập đến sự đắc thắng của mình trong Đấng Cơ-đốc (2 Cô-rinh-tô 2:14). Làm thế nào ông có thể nói về sự yếu đuối và sức mạnh của mình cùng một lúc? Làm thế nào chúng ta cũng có thể làm như vậy?