Bức chân dung của tình yêu thương
Kinh Thánh Nghiên Cứu: 1 Cô-rinh-tô 13; Ma-thi-ơ 24:12; Ga-la-ti 5:22, 23; 1 Ti-mô-thê 1:14; 1 Giăng 4:8
"Nên bây giờ còn có ba điều nầy: đức tin, sự trông cậy, tình yêu thương; nhưng điều trọng hơn trong ba điều đó là tình yêu thương" — 1 Cô-rinh-tô 13:13
Sa-bát Bức chân dung của tình yêu thương
Câu gốc
"Nên bây giờ còn có ba điều nầy: đức tin, sự trông cậy, tình yêu thương; nhưng điều trọng hơn trong ba điều đó là tình yêu thương" (1 Cô-rinh-tô 13:13).
Kinh Thánh nghiên cứu
1 Cô-rinh-tô 13; Ma-thi-ơ 24:12; Ga-la-ti 5:22, 23; 1 Ti-mô-thê 1:14; 1 Giăng 4:8.
Tình yêu thương có thể chinh phục mọi sự. Đó là lý do tại sao Phao-lô nói rất nhiều về tình yêu thương. Họ từ của chữ agapaō—chữ Hy Lạp phổ biến nhất trong Tân Ước diễn tả khái niệm tình yêu thương—xuất hiện hơn 135 lần trong các thư tín của ông. Con số nầy chiếm gần một nửa số lần xuất hiện trong toàn bộ Tân Ước. Điều nầy hẳn cho chúng ta biết điều gì đó về chủ đề trọng tâm trong các thư của Phao-lô gởi cho Hội Thánh Cô-rinh-tô.
Có nhiều phân đoạn đáng chú ý về tình yêu thương trong Tân Ước—Rô-ma 8:35–39, 1 Cô-rinh-tô 2:9, 1 Cô-rinh-tô 8:3, Ga-la-ti 2:20, Cô-lô-se 1:13, 1 Tê-sa-lô-ni-ca 3:12, và nhiều phân đoạn khác—nhưng không gì sánh được với 1 Cô-rinh-tô 13.
Tuần trước, chúng ta đã thấy rằng nếu không có tình yêu thương thì mọi sự, ngay cả các ân tứ thuộc linh, đều vô giá trị. Tuần nầy, chúng ta sẽ nghiên cứu sâu hơn về 1 Cô-rinh-tô 13 và bức chân dung tuyệt diệu về tình yêu thương trong đó.
Như chúng ta sẽ thấy, tình yêu thương không hẳn là một cảm xúc cho bằng là một thái độ, một thái độ phải được bày tỏ trong đời sống, trong việc làm, và trong lời nói; nếu không, nó chẳng có ý nghĩa gì.
Tình yêu thương thật sự là gì, và làm điều gì, đã được bày tỏ trọn vẹn trong đời sống của Đức Chúa Giê-su.
Nghiên cứu bài học tuần này để chuẩn bị cho ngày Sa-bát, ngày 15 tháng 8.
Thứ Nhất Sự thiết yếu của tình yêu thương
Tuần trước chúng ta đã đề cập đến chủ đề tình yêu thương như được thấy trong 1 Cô-rinh-tô 13. Chúng ta cần khám phá lời của Phao-lô ở đây sâu sắc hơn nữa.
Đọc 1 Cô-rinh-tô 13. Hãy tóm tắt điều ông đang nói với chúng ta về tình yêu thương.
Phao-lô không nói rằng các thứ tiếng (1 Cô-rinh-tô 13:1), lời tiên tri, sự thông biết, sự hiểu biết, đức tin (1 Cô-rinh-tô 13:2), và lòng nhân từ (1 Cô-rinh-tô 13:3) là vô ích. Chúng chỉ vô ích nếu không được thúc đẩy bởi tình yêu thương.
Loại tình yêu thương mà Phao-lô đang nói đến không được diễn tả qua những câu như “Tôi yêu dâu tây” hay “Tôi yêu bạn bè của tôi” hoặc thậm chí “Tôi yêu vợ con tôi.” Ông cũng không nói về loại tình yêu mà người ta thấy trong phim ảnh. Và không, đó cũng không phải là tình yêu nhục dục, mặc dù phân đoạn nầy thường được dùng trong các bài giảng lễ cưới.
Tình yêu thương nầy không thể bị thu hẹp thành sự trìu mến, hay lòng bác ái, hay đức hạnh, hay lòng nhân từ. Tuy nhiên, tất cả những điều đó đều biểu thị nó ở mức độ ít hơn hay nhiều hơn. Tình yêu thương nầy là một ân điển đặc biệt được Đức Thánh Linh ban cho chúng ta. Thật vậy, tình yêu thương trong 1 Cô-rinh-tô 13 là động lực do Đức Thánh Linh ban cho thúc đẩy chúng ta hành động với sự trìu mến, lòng bác ái, đức hạnh, và lòng nhân từ. Đó là sự dâng hiến trọn vẹn các hành động, cảm xúc, và tư tưởng của chúng ta cho Đấng Cơ-đốc và những người lân cận.
Đọc Ma-thi-ơ 24:12. Đức Chúa Giê-su ban cho chúng ta lời cảnh báo nào ở đây?
Đó là lý do tại sao tình yêu thương agapē lại thiết yếu và cần thiết đến vậy. Trong quyền năng của Đấng Cơ-đốc, chúng ta không thể để tình yêu thương trở nên nguội lạnh trong gia đình, Hội Thánh, và khu xóm của mình. Chúng ta có gương của Đấng Cơ-đốc trên thập tự giá, chịu chết vì chúng ta. Còn có sự bày tỏ nào tốt đẹp hơn và mạnh mẽ hơn của loại tình yêu thương nầy không? Dĩ nhiên chúng ta không bao giờ có thể bày tỏ loại tình yêu thương đó cách ngang bằng, nhưng nhờ ân điển của Đức Chúa Trời, chúng ta nên cố gắng tỏ bày nó trong chính đời sống mình đến mức tối đa có thể.
Có những lúc nào mà thật ra, sự bày tỏ loại tình yêu thương nầy có thể đã tạo nên một ấn tượng tích cực đầy mạnh mẽ trên một người đang cần tình yêu thương nầy hơn bất cứ điều gì khác?
Thứ Hai Tình yêu thương làm gì
1 Cô-rinh-tô 13:4–7 là trọng tâm của chương nầy. Phao-lô tập trung vào các đặc tính của tình yêu thương—cho thấy tình yêu thương là gì và không là gì, hay tình yêu thương làm gì và không làm gì. Ông nhân cách hóa tình yêu thương để chúng ta có thể có một cái nhìn thoáng qua về cách một người đầy dẫy tình yêu thương do Đức Thánh Linh thúc đẩy hành xử ra sao. Trong sự mô tả tình yêu thương, Phao-lô sử dụng một loạt các động từ. Đối với ông, tình yêu thương liên quan đến hành động nhiều hơn là cảm xúc hay tình cảm.
Vậy thì, tình yêu thương làm gì?
Bày tỏ sự nhịn nhục (makrothymeō). Makrothymeō có nghĩa là bày tỏ sự nhịn nhục, ngay cả giữa những hoàn cảnh khó khăn. Sự nhịn nhục cũng làm nổi bật khả năng chịu đựng lẫn nhau (Ê-phê-sô 4:2).
Bày tỏ sự nhân từ (chrēsteuomai). Chrēsteuomai chỉ xuất hiện ở đây trong Tân Ước, nhưng các từ khác cùng gốc lại phổ biến ở những nơi khác. Trong bản Bảy Mươi (bản dịch Hy Lạp của Cựu Ước), các từ cùng gốc nầy xuất hiện thường xuyên trong sách Thi-thiên để chỉ về sự nhân từ của Đức Chúa Trời gắn liền với lòng thương xót của Ngài (Thi-thiên 145:9). Khi nói rằng tình yêu thương bày tỏ sự nhân từ, Phao-lô muốn nói rằng tình yêu của một người dành cho người khác phải noi theo lòng trắc ẩn và sự thương xót của Đức Chúa Trời đối với chúng ta.
Vui mừng (synchairō) trong lẽ thật. Synchairō chỉ về khả năng cảm nghiệm niềm vui cùng với một người khác (Lu-ca 1:58; Lu-ca 15:6, 9; 1 Cô-rinh-tô 12:26; Phi-líp 2:17, 18).
Dung thứ (stegō) mọi sự. Các học giả tranh luận liệu stegō có nghĩa là “che đậy,” tức là giữ điều gì đó kín đáo (cũng mang ý nghĩa bảo vệ), hay là “chịu đựng,” với ý nghĩa kiên cường. Khái niệm chịu đựng xuất hiện rõ ràng trong 1 Cô-rinh-tô 9:12, khiến hầu hết các nhà giải nghĩa và những người dịch Kinh Thánh chọn nghĩa thứ hai là có khả năng đúng hơn.
Tin (pisteuō) mọi sự. Pisteuō đến từ cùng một gốc với từ Hy Lạp chỉ đức tin (pistis). Trong bối cảnh của 1 Cô-rinh-tô 13, tin mọi sự có nghĩa là cho nhau cơ hội được tin tưởng dù còn nghi ngờ.
Trông cậy (elpizō) mọi sự. Trong Tân Ước, động từ elpizō luôn chỉ về niềm tin hay sự mong đợi rằng điều gì đó tốt lành sẽ xảy ra.
Nín chịu (hypomenō) mọi sự. Có lẽ không có sự khác biệt giữa hai động từ stegō và hypomenō trong 1 Cô-rinh-tô 13:7. Chúng là những từ đồng nghĩa, ở đây có nghĩa là sự chịu đựng giữa nghịch cảnh. Phao-lô dùng hypomenō ở cuối câu để tránh lặp lại stegō. Bằng cách lặp lại cùng một khái niệm dù với một từ khác, ông thu hút sự chú ý đến việc tin và trông cậy như là điểm trọng tâm. Nói cách khác, tình yêu thương nín chịu bằng cách tin và trông cậy.
So sánh 1 Cô-rinh-tô 13:4–7 với Ga-la-ti 5:22, 23. Bạn thấy có những ý tưởng chung nào giữa hai phân đoạn nầy? Làm thế nào chúng ta có thể bày tỏ loại tình yêu thương nầy trong chính đời sống mình?
Thứ Ba Tình yêu thương không làm gì
Hãy đọc lại 1 Cô-rinh-tô 13:4–7. Tại sao Phao-lô đề cập đến các đặc tính tiêu cực thay vì chỉ nói đến những đặc tính tích cực của tình yêu thương?
Hôm qua, chúng ta đã tập trung vào bảy điều tình yêu thương làm; hôm nay, chúng ta sẽ xem xét tám điều nó không làm. Tình yêu thương . . .
Không ghen tị (zeloō). Zeloō có thể được dùng theo nghĩa tích cực như trong “ao ước [zeloō] các ân tứ trọng hơn” (1 Cô-rinh-tô 12:31), “ao ước [zeloō] các ân tứ thuộc linh” (1 Cô-rinh-tô 14:1), và “ao ước [zeloō] nói tiên tri” (1 Cô-rinh-tô 14:39). Tuy nhiên, ở đây, cũng như trong Công-vụ 7:9, từ nầy mang nghĩa tiêu cực. Ao ước các ân tứ thuộc linh thì được, nhưng ghen tị với những người được ban ân tứ thì không. Điều nầy gây ra sự chia rẽ (1 Cô-rinh-tô 3:3).
Không khoe khoang (perpereuomai). Động từ perpereuomai truyền đạt ý tưởng về sự kiêu ngạo và lòng ham muốn được người khác khen ngợi. Tuy nhiên, tình yêu thương không tập trung vào chính mình như vậy. Điều nầy còn rõ ràng hơn trong những gì tiếp theo.
Không lên mình kiêu ngạo (physioō). Động từ physioō xuất hiện trong 1 Cô-rinh-tô 8:1 nơi lời tuyên bố đáng chú ý của Phao-lô, " ‘Sự hiểu biết’ sinh kiêu căng, còn tình yêu thương thì gây dựng" (ESV). Từ nầy chỉ về một người tự cao tự đại quá mức.
Không cư xử trái lẽ (aschēmoneo). Động từ aschēmoneo có thể có một phạm vi nghĩa rộng. Tuy nhiên, nhìn chung, nó có nghĩa là hành động trái với các chuẩn mực xã hội và đạo đức theo cách đáng xấu hổ, nhục nhã, không đứng đắn, hay không phù hợp. Phao-lô có lẽ đang nói đến hành vi kiêu ngạo và thô lỗ của phe “mạnh mẽ” đối với những thành viên “yếu đuối” tại Cô-rinh-tô (1 Cô-rinh-tô 4:10, 1 Cô-rinh-tô 8).
Không tìm kiếm (zēteo) tư lợi [quyền lợi riêng]. Điều nầy tương tự với điều Phao-lô nói trong 1 Cô-rinh-tô 10:24: “Chớ ai tìm kiếm quyền lợi riêng của mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác” (bản dịch của tác giả). Tình yêu thương từ bỏ quyền lợi riêng của mình vì lợi ích của người khác (xem Bài học 5). Trong một bối cảnh mà mọi người đều tìm kiếm quyền lợi của nhau, thì tất cả đều được hưởng lợi.
Không dễ nóng giận (paroxynō). Động từ paroxynō gợi lên một trạng thái nội tâm bị kích động chỉ về một người dễ bị khích lên cơn giận. Điều nầy có nghĩa là tình yêu thương không nóng tính hay dễ tự ái.
Không ghi nhớ (logizomai) điều dữ. Động từ logizomai ở đây mang nghĩa kế toán, có nghĩa là tình yêu thương không tính sổ những điều sai trái của người khác. Nói cách khác, tình yêu thương cũng có nghĩa là tha thứ.
Không vui mừng (chairō) về điều ác. Tình yêu thương không những không ghi nhớ điều dữ của người khác mà còn không lấy làm vui thích về những điều ấy. Khi chúng ta thật sự yêu thương người khác, chúng ta không vui mừng trước những lỗi lầm của họ, mà thay vào đó tìm cách giúp đỡ họ.
Thứ Tư Bức chân dung của Đức Chúa Giê-su
Khi đọc 1 Cô-rinh-tô 13:4–7, chúng ta có thể cảm thấy nản lòng khi nhận ra rằng, ở mức độ ít hơn hay nhiều hơn, chúng ta đều không đạt được tất cả những đặc tính ấy của tình yêu thương. Có lẽ Phao-lô đã có hình ảnh của Đức Chúa Giê-su trong tâm trí khi viết 1 Cô-rinh-tô 13. Thật vậy, chỉ có Đấng Cơ-đốc mới bày tỏ trọn vẹn tất cả những đặc tính ấy của tình yêu thương. Vì thế, xét cho cùng, sự mô tả tình yêu thương của Phao-lô chính là một bức chân dung của Đức Chúa Giê-su.
Đọc Giăng 13:1, 34; Giăng 15:9, 12; 1 Ti-mô-thê 1:14; 2 Ti-mô-thê 1:7, 13; 1 Giăng 3:16; và 1 Giăng 4:7–12, 19–21. Chúng ta có thể học được điều gì về tình yêu thương từ những phân đoạn nầy?
Đức Chúa Trời là sự yêu thương (1 Giăng 4:8). Ngài yêu chúng ta đến nỗi đã ban Con một của Ngài (Giăng 3:16). Đức Chúa Giê-su là sự bày tỏ trọn vẹn của tình yêu thương nầy (Hê-bơ-rơ 1:3). Nếu chúng ta muốn biết tình yêu thương tỏ bày chính mình ra sao, chúng ta phải nhìn thật lâu vào Đức Chúa Giê-su. Nếu chúng ta chú ý kỹ đến sự mô tả về Đức Chúa Giê-su trong Tân Ước, chúng ta sẽ nhận ra rằng tất cả các đặc tính tích cực của tình yêu thương trong 1 Cô-rinh-tô 13 đều được thấy nơi Ngài.
Đức Chúa Giê-su nhịn nhục. “Nhưng chính vì lý do đó mà tôi đã được thương xót, để trong tôi, kẻ đứng đầu trong những tội nhân, Đức Chúa Jêsus Cơ-đốc có thể bày tỏ lòng nhịn nhục vô hạn [makrothymia] của Ngài” (1 Ti-mô-thê 1:16, NIV).
Đức Chúa Giê-su nhân từ. Kinh Thánh nói rằng “Chúa là nhân từ” (1 Phi-e-rơ 2:3, LEB). Chữ “Chúa” trong phân đoạn nầy chỉ về Đức Chúa Giê-su. Từ “nhân từ” dịch từ chữ Hy Lạp chrēstos, đến từ cùng một gốc với động từ chrēsteuomai (“bày tỏ sự nhân từ”) trong 1 Cô-rinh-tô 13:4.
Đức Chúa Giê-su vui mừng trong lẽ thật. Đức Chúa Giê-su đã cảm nghiệm niềm vui khi Ngài làm theo ý muốn của Cha và cảm nhận tình yêu của Cha dành cho Ngài (Giăng 15:9–11, Giăng 17:12–14).
Đức Chúa Giê-su dung thứ/nín chịu mọi sự. Hê-bơ-rơ 12:2, 3 nói rằng Đức Chúa Giê-su “đã chịu thập tự giá. . . . [Ngài] đã chịu đựng sự chống đối dữ dội của những kẻ tội lỗi nghịch cùng Ngài” (NKJV). Không ai từng chịu đựng nhiều như Đức Chúa Giê-su (Phi-líp 2:8). Ngài đã làm điều nầy vì niềm vui đặt trước mặt Ngài!
Đức Chúa Giê-su tin mọi sự. Khi A-na-nia nghi ngờ sự chân thật trong sự cải đạo của Phao-lô (Công-vụ 9:13, 14), Đức Chúa Giê-su đáp, “Người nầy là một đồ dùng ta đã chọn lựa” (Công-vụ 9:15, ESV). Đức Chúa Giê-su nhìn người ta không chỉ như họ hiện tại mà như họ sẽ trở nên qua quyền năng của Ngài.
Có những cách nào khác mà Đức Chúa Giê-su bày tỏ cho chúng ta thấy tình yêu thương thật sự là gì?
Thứ Năm Đức tin, sự trông cậy, và tình yêu thương
Cho đến nay, chúng ta đã học rằng tình yêu thương là nhịn nhục, nhân từ, vui mừng, kiên cường, tin tưởng, đầy hy vọng, và nín chịu (hay bền lòng) bởi vì Đức Chúa Giê-su là tất cả những điều đó. Một khi chúng ta thấy những phẩm chất nầy nơi Đức Chúa Giê-su, bước kế tiếp là noi theo Ngài. Đó là điều Phao-lô mong ước cho người Cô-rinh-tô. Tuy nhiên, nếu chúng ta loại bỏ chữ “không” trong tám đặc tính tiêu cực của tình yêu thương, “chúng ta có được một sự mô tả khá chính xác về cách cư xử của người Cô-rinh-tô trong vòng Hội Thánh của họ: ghen tị, khoe khoang, kiêu ngạo, thô lỗ, ích kỷ, dễ bị xúc phạm, và chăm chăm xem người khác làm điều gì sai. Phao-lô đang điều chỉnh các động từ ông dùng ở đây cho phù hợp với hoàn cảnh tại Cô-rinh-tô."—Verlyn D. Verbrugge, “1 Corinthians,” trong The Expositor’s Bible Commentary: Romans–Galatians, ấn bản hiệu đính (Grand Rapids, MI: Zondervan, 2008), tr. 372.
Người Cô-rinh-tô có nhiều điều phải học. Chúng ta cũng vậy. Sau khi mô tả tình yêu thương làm gì và không làm gì, Phao-lô kết thúc phần nầy bằng cách nhấn mạnh đến bản chất đời đời của tình yêu thương nhằm khích lệ việc thực hành tình yêu thương chân thật.
Một ngày kia, các lời tiên tri sẽ không còn cần thiết nữa; chúng ta sẽ chỉ nói một ngôn ngữ; và sự hiểu biết khiếm khuyết của con người sẽ được thay thế bằng một sự hiểu biết hoàn toàn mới về Đức Chúa Trời (1 Cô-rinh-tô 13:12). Các ân tứ của Đức Thánh Linh sẽ chỉ chấm dứt khi mục đích vì đó mà chúng tồn tại đã đạt được sự ứng nghiệm trọn vẹn (1 Cô-rinh-tô 13:10). “Nhưng tình yêu thương sẽ còn lại đời đời!” (1 Cô-rinh-tô 13:8, NLT).
Cũng vậy, khi Đấng Cơ-đốc trở lại, đức tin sẽ nhường chỗ cho sự thấy tận mắt (2 Cô-rinh-tô 5:7), và điều chúng ta đã trông cậy bấy lâu sẽ trở thành hiện thực (Rô-ma 8:24). Và trên hết, tình yêu thương sẽ tồn tại như một biểu tượng cho bản tánh của Đức Chúa Trời Ba Ngôi của chúng ta. Tuy nhiên, theo một nghĩa nào đó, đức tin và sự trông cậy cũng sẽ còn lại đời đời. Đức tin như là sự cảm nghiệm về sự cứu rỗi (Rô-ma 4:3), và sự trông cậy như là lòng khao khát và mong đợi những niềm vui và sự hiểu biết mới mẻ trong trời mới đất mới, sẽ đánh dấu sự cảm nghiệm của những người được cứu chuộc mãi mãi. Tuy nhiên tình yêu thương, tình yêu của Đức Chúa Trời, sẽ ngự trị đời đời.
Chẳng bao lâu nữa, chúng ta sẽ thấy Chúa của chúng ta mặt đối mặt (1 Cô-rinh-tô 13:12). Cho đến ngày ấy, chúng ta phải định hình đời sống mình bằng ba đức tính nầy: đức tin, sự trông cậy, và tình yêu thương. Bộ ba nầy tiêu biểu cho sự đầy trọn của đời sống Cơ-đốc nhân qua Đức Thánh Linh. Đó là lý do tại sao nó thường được nhắc đến trong vòng các Cơ-đốc nhân (Rô-ma 5:1–5; Ga-la-ti 5:5, 6; Ê-phê-sô 1:15, 18; 4:1–5). Tuy nhiên, tình yêu thương là điều trọng hơn hết; xét cho cùng, đó là đức tính duy nhất được dùng để mô tả chính bản tánh của Đức Chúa Trời (1 Giăng 4:8).
Hãy suy gẫm về câu nói "Đức Chúa Trời là sự yêu thương." Làm thế nào chúng ta hiểu được chính xác điều đó có nghĩa là gì? Và mặc dù chúng ta chỉ có thể nắm bắt ý tưởng nầy phần nào, tại sao câu nói đó lại là tin tốt lành đến vậy cho chúng ta?
Thứ Sáu Suy gẫm thêm
Đọc Ellen G. White, “The Need of Love,” tr. 545, 546, The Advent Review and Sabbath Herald, ngày 28 tháng 8 năm 1888.
“Dù lời tuyên xưng có cao trọng đến đâu, người nào mà lòng không đầy dẫy tình yêu thương đối với Đức Chúa Trời và đồng loại thì không phải là môn đồ thật của Đấng Cơ-đốc. Dù người ấy có đức tin lớn và có quyền năng làm phép lạ đi nữa, nhưng nếu không có tình yêu thương thì đức tin của người ấy cũng vô giá trị. Người ấy có thể tỏ ra hết sức rộng rãi; nhưng nếu vì một động cơ nào khác hơn là tình yêu thương chân thật mà bố thí hết của cải mình để nuôi kẻ nghèo, thì hành động đó cũng không khiến người ấy được đẹp lòng Đức Chúa Trời. Trong lòng sốt sắng, người ấy thậm chí có thể chịu chết như một người tử vì đạo, nhưng nếu không được thúc đẩy bởi tình yêu thương, thì người ấy sẽ bị Đức Chúa Trời xem như một kẻ cuồng nhiệt bị lừa dối hoặc một kẻ giả hình đầy tham vọng."—Ellen G. White, Công Vụ Các Sứ Đồ, tr. 318, 319.
“Chúng ta có dư dật những bài giảng. Điều cần thiết nhất . . . là tình yêu thương dành cho những linh hồn hư mất, tình yêu thương ấy tuôn chảy thành dòng dồi dào từ ngôi của Đức Chúa Trời. Cơ-đốc giáo chân thật làm cho tình yêu thương lan tỏa khắp toàn bộ con người. Nó chạm đến mọi phần thiết yếu, bộ óc, tấm lòng, đôi tay giúp đỡ, đôi chân, giúp con người đứng vững nơi Đức Chúa Trời đòi hỏi họ phải đứng, để họ không làm cho đường lối mình quanh co, kẻo kẻ què bị trẹo chân chăng. Tình yêu thương cháy bỏng, nồng nàn của Đấng Cơ-đốc dành cho những linh hồn hư mất chính là sự sống của toàn bộ hệ thống Cơ-đốc giáo."—Ellen G. White, Lift Him Up, tr. 134.
“Chỉ có tình yêu thương tuôn chảy từ tấm lòng của Đấng Cơ-đốc mới có thể chữa lành. Chỉ người nào có tình yêu thương ấy tuôn chảy trong mình, như nhựa cây trong cây hay huyết trong thân thể, mới có thể phục hồi linh hồn bị tổn thương."—Ellen G. White, Education, tr. 114.
Câu hỏi thảo luận:
Bạn có nghĩ rằng danh sách các đặc tính tích cực của tình yêu thương mà Phao-lô đưa ra là đầy đủ không? Nếu không, bạn sẽ thêm những yếu tố nào khác vào danh sách?
Bạn nghĩ Phao-lô muốn nói gì qua mệnh lệnh "Hãy nôn nả tìm kiếm tình yêu thương" (1 Cô-rinh-tô 14:1, NKJV)? Điều nầy có liên quan gì đến những gì ông nói trong 1 Cô-rinh-tô 13:4–7?
Đặc tính nào của tình yêu thương mà bạn cần thực hành nhất trong đời sống hằng ngày của mình? Những đặc tính nào cần thiết hơn trong Hội Thánh địa phương của bạn? Nhân tiện, tại sao Phao-lô lại so sánh tình yêu thương với các ân tứ như lời tiên tri, các thứ tiếng, và sự hiểu biết (1 Cô-rinh-tô 13:8)?
Phao-lô ngụ ý rằng tình yêu thương là giải pháp tối hậu cho sự thiếu hiệp một giữa các thành viên tại Cô-rinh-tô. Tại sao? Điều nầy áp dụng thế nào cho các Hội Thánh của chúng ta ngày nay?