Bài Học 6 · 1 Tháng 8 – 7 Tháng 8

Ân tứ thuộc linh

Kinh Thánh Nghiên Cứu: 1 Cô-rinh-tô 12; Ê-phê-sô 4:11–13; 1 Cô-rinh-tô 13; 1 Phi-e-rơ 4:8–11; 1 Cô-rinh-tô 14:27; A-mốt 3:7

"Hãy nôn nả tìm kiếm tình yêu thương. Cũng hãy ước ao các sự ban cho thiêng liêng, nhứt là sự ban cho nói tiên tri" — 1 Cô-rinh-tô 14:1
Sa-bát Ân tứ thuộc linh

Câu gốc

"Hãy nôn nả tìm kiếm tình yêu thương. Cũng hãy ước ao các sự ban cho thiêng liêng, nhứt là sự ban cho nói tiên tri" (1 Cô-rinh-tô 14:1).

Kinh Thánh nghiên cứu

1 Cô-rinh-tô 12; Ê-phê-sô 4:11–13; 1 Cô-rinh-tô 13; 1 Phi-e-rơ 4:8–11; 1 Cô-rinh-tô 14:27; A-mốt 3:7.

Giống như thân thể con người, Hội Thánh là một nhưng có nhiều chi thể, mỗi chi thể có vai trò, chức năng và ân tứ khác nhau. Khi được thực hành với tình yêu thương, các ân tứ thuộc linh này thúc đẩy ý thức về sự hiệp một phản ánh bản tính của Đức Chúa Trời ba ngôi.

Tuần này chúng ta sẽ khảo sát 1 Cô-rinh-tô 12–14 cùng sự dạy dỗ của các đoạn này về ân tứ thuộc linh. Phần này nằm trong một đơn vị lớn hơn một chút, nơi Phao-lô bàn về hành vi Cơ-đốc nhân được mong đợi trong bối cảnh tôn giáo (1 Cô-rinh-tô 11–14). Mối quan tâm chính của Phao-lô liên quan đến vấn đề những buổi nhóm họp mất trật tự. Câu trả lời của ông cho vấn đề này là Hội Thánh giống như một thân thể, mà các bộ phận có những chức năng khác nhau cùng góp phần “gây dựng thân thể Đấng Cơ-đốc” (Ê-phê-sô 4:12). Tóm lại, Đức Chúa Trời ban cho Hội Thánh các ân tứ thuộc linh để thúc đẩy sự hiệp một qua sự đa dạng.

Chắc chắn Phao-lô vẫn còn nghĩ đến vấn đề bè phái được đề cập trong bốn đoạn đầu của 1 Cô-rinh-tô, nơi câu trả lời cho sự thiếu hiệp ý giữa các tín hữu trong Hội Thánh là sự hiệp một trong Đấng Cơ-đốc. Bây giờ, ông phát triển ý tưởng đó bằng cách trình bày sự hiểu biết của mình về vai trò của các ân tứ thuộc linh. Theo Phao-lô, sự hiệp một trong Đấng Cơ-đốc và trong Thánh Linh là phương cách duy nhất để tránh chia rẽ.

Nghiên cứu bài học tuần này để chuẩn bị cho ngày Sa-bát, ngày 8 tháng 8.

Thứ Nhất Nhiều loại ân tứ

Trong 1 Cô-rinh-tô 12:1, Phao-lô giới thiệu một đề tài mới với công thức “luận về”. Các học giả tranh luận liệu ông đang nói về “các ân tứ thuộc linh” hay “những người thuộc linh”, bởi vì cụm từ Hy Lạp tōn pneumatikōn cho phép cả hai cách hiểu. Cách hiểu “các ân tứ thuộc linh” thích hợp hơn dưới ánh sáng của 1 Cô-rinh-tô 12:4, nơi Phao-lô rõ ràng đề cập đến các ân tứ thuộc linh. Trong 1 Cô-rinh-tô 12:2, 3, Phao-lô chỉ ra rằng ân tứ đầu tiên của Thánh Linh là sự xưng nhận dạn dĩ rằng Đức Chúa Giê-su là Chúa. Vào thời Tân Ước, nói rằng Đức Chúa Giê-su là Chúa tức là nói rằng Sê-sa không phải là chúa (Công-vụ 17:7; cũng xem Giăng 19:12, 15). Điều này được xem là phản nghịch chống lại quyền lực của hoàng đế, và do đó, có thể bị xử tử.

Đức Chúa Giê-su và Phao-lô nhấn mạnh rằng đức tin nơi Đức Chúa Trời—ngay cả khi đối diện với sự bắt bớ và hiểm họa của cái chết—là một ân tứ của Thánh Linh. Thật vậy, đức tin là ân tứ căn bản nhất. Không có gì lạ khi đức tin đứng đầu danh sách trong 1 Cô-rinh-tô 13:13. Việc đức tin là một ân tứ thuộc linh được làm rõ qua lời tuyên bố của Phao-lô trong 1 Cô-rinh-tô 12:9. Tuy nhiên, còn có nhiều ân tứ khác. Sự kiện Đức Thánh Linh phân phát các loại ân tứ khác nhau “cho mỗi người tùy theo ý Ngài muốn” (1 Cô-rinh-tô 12:11) chứng tỏ rằng tất cả các ân tứ đều cần thiết.

Đọc 1 Cô-rinh-tô 12:1–6. Trọng tâm của phân đoạn này là gì?

Sự lặp lại của từ “nhiều thứ” nhấn mạnh sự đa dạng của các ân tứ. Điều Phao-lô gọi là “các ân tứ thuộc linh” trong 1 Cô-rinh-tô 12:1 được khai triển trong các câu 4–6, qua ba góc độ khác nhau: “ân tứ” (charisma), “sự phục vụ” hay “chức vụ” (diakonia), và “việc làm” (energēma). Mặc dù những từ này mang ý nghĩa khác nhau, điều quan trọng là đừng phân biệt quá rạch ròi giữa chúng vì tính tương đồng của phân đoạn. Người ta cũng nên lưu ý rằng các ân tứ thuộc linh được thiết kế để thúc đẩy sự hiệp một dựa trên bản tính ba ngôi của Đức Chúa Trời (cũng xem Ê-phê-sô 4:8–11). Trong khi Thánh Linh ban các ân tứ cho các tín hữu, thì chính Đức Chúa Trời là Đấng ban quyền năng cho họ để phục vụ Đấng Cơ-đốc trong cộng đồng tín hữu (1 Cô-rinh-tô 12:5, 6). Mỗi tín hữu được ban ân tứ một cách cá nhân (1 Cô-rinh-tô 12:11), nhưng tất cả đều phải đem lại lợi ích cho toàn thể cộng đồng tín hữu.

Hãy lưu ý lần nữa sự nhấn mạnh của Phao-lô về sự hiệp một. Tại sao điều này lại quan trọng đối với Hội Thánh đến vậy?

Thứ Hai Hiệp một qua sự đa dạng

Ngôn ngữ về sự hiệp một được giới thiệu trong 1 Cô-rinh-tô 12:4–6 (“cũng một Thánh Linh,” “cũng một Chúa,” và “cũng một Đức Chúa Trời”) được khai triển trong phần còn lại của 1 Cô-rinh-tô 12. Điều này được thể hiện qua việc Phao-lô sử dụng các cụm từ như “chỉ một Thánh Linh” (1 Cô-rinh-tô 12:11), “thân là một” (1 Cô-rinh-tô 12:12), “một thân” (1 Cô-rinh-tô 12:12, 13, 20), “một Thánh Linh” (1 Cô-rinh-tô 12:13 [hai lần]), và “săn sóc nhau” (1 Cô-rinh-tô 12:25).

Bên cạnh khái niệm về sự hiệp một, Phao-lô làm nổi bật sự đa dạng của các chi thể trong thân thể Đấng Cơ-đốc qua những cách diễn đạt như “nhiều chi thể” (1 Cô-rinh-tô 12:12, 20), “thảy đều chịu phép báp-têm” (1 Cô-rinh-tô 12:13), “chẳng phải một chi thể, bèn là nhiều chi thể” (1 Cô-rinh-tô 12:14), “cả thân” (1 Cô-rinh-tô 12:17), “mỗi một chi thể” (1 Cô-rinh-tô 12:18), “chi thể của thân” (1 Cô-rinh-tô 12:22, 23), và “hết thảy các chi thể” (1 Cô-rinh-tô 12:26). Sự nhấn mạnh về cả sự hiệp một lẫn sự đa dạng này cho thấy các ân tứ thuộc linh nhắm đến việc thúc đẩy sự hiệp một qua sự đa dạng.

Sự hiệp một giữa sự đa dạng này phải phản ánh bản tính của Đức Chúa Trời. Đức Cha là một thân vị, Đức Con là một thân vị khác, và Đức Thánh Linh là một thân vị khác nữa. Ba Ngôi giữ gìn cá tính riêng của mỗi Ngôi trong khi cùng làm việc với nhau để gây dựng Hội Thánh và ban quyền năng cho Hội Thánh thi hành sứ mạng (1 Cô-rinh-tô 12:4–6; Ê-phê-sô 4:11–13).

Đọc 1 Cô-rinh-tô 12:12–31. Tại sao hình ảnh tương tự về một thân thể với nhiều bộ phận của nó lại thích hợp để tượng trưng cho Hội Thánh và các thành viên của Hội Thánh?

Một tư tưởng trung tâm trong 1 Cô-rinh-tô 12 là dù các chi thể của thân thể khác nhau rất nhiều giữa cá thể này với cá thể khác (1 Cô-rinh-tô 12:15–20), tất cả đều tùy thuộc lẫn nhau (1 Cô-rinh-tô 12:21–26). Bàn chân tùy thuộc vào con mắt để thấy mình phải bước đi đâu; ngược lại, con mắt không thể chạm vào bất cứ vật gì—chỉ có bàn tay mới làm được. Ngoài ra, ý tưởng cho rằng một số chi thể yếu đuối hơn (1 Cô-rinh-tô 12:22) hay kém tôn trọng hơn (1 Cô-rinh-tô 12:23) các chi thể khác chỉ là một ấn tượng, vì tất cả đều cần thiết (1 Cô-rinh-tô 12:22).

Đáng tiếc thay, trong vòng người Cô-rinh-tô có khuynh hướng coi trọng một số ân tứ mà bỏ bê những ân tứ khác. Để sửa người Cô-rinh-tô khỏi sai lầm này, Phao-lô lưu ý họ đến tình yêu thương, là “con đường tốt lành hơn” (1 Cô-rinh-tô 12:31). Nói cách khác, dù ân tứ là gì đi nữa, nếu được thực hành cách khôn ngoan và với tình yêu thương, thì điều đó đẹp lòng Đức Chúa Trời.

Hãy xem các danh sách ân tứ trong 1 Cô-rinh-tô 12:8–10, 28; Rô-ma 12:6–8; và Ê-phê-sô 4:11. Ân tứ của bạn là gì? Làm thế nào bạn có thể dùng nó để gây dựng thân thể Đấng Cơ-đốc?

Thứ Ba Con đường tốt lành hơn

“Tình yêu thương không phải là một ân tứ trong số nhiều ân tứ. Nó là phương tiện mà qua đó tất cả các ân tứ đạt đến mục đích tối hậu của chúng."—Carl P. Cosaert, “1 Corinthians,” Andrews Bible Commentary: New Testament (Berrien Springs, MI: Andrews University Press, 2022), tr. 1643.

Đọc 1 Cô-rinh-tô 13:1–7 và 1 Phi-e-rơ 4:8–11. Vai trò của tình yêu thương liên quan đến các ân tứ thuộc linh là gì?

1 Cô-rinh-tô 13 dạy rằng chỉ qua tình yêu thương thì các ân tứ thuộc linh mới có thể được sử dụng cách thích hợp. Phao-lô mở đầu 1 Cô-rinh-tô 13 bằng cách ám chỉ đến các ân tứ được nhắc đến trong 1 Cô-rinh-tô 12, chỉ để nhấn mạnh rằng chúng không có giá trị gì nếu không được thúc đẩy bởi tình yêu thương. Vì thế, sự thông biết (1 Cô-rinh-tô 12:8) và đức tin (1 Cô-rinh-tô 12:9), ngay cả một đức tin “đến nỗi dời núi được” (1 Cô-rinh-tô 13:2), cũng chẳng ra gì nếu không có tình yêu thương (1 Cô-rinh-tô 13:2). Không có tình yêu thương, khả năng nói tiếng lạ (1 Cô-rinh-tô 12:10, 28, 30) chỉ còn là “đồng kêu lên hay là chập chỏa vang tiếng” (1 Cô-rinh-tô 13:1). Cũng vậy, ngay cả ân tứ quan trọng là sự nói tiên tri cũng chẳng ra gì nếu không có tình yêu thương (1 Cô-rinh-tô 13:2).

Trong 1 Cô-rinh-tô 13:4–7, Phao-lô tập trung vào điều tình yêu thương là gì và không là gì; cụ thể hơn, điều tình yêu thương làm gì và không làm gì. Các động từ ông chọn để mô tả tình yêu thương cho thấy tình yêu thương không hẳn là điều chúng ta cảm nhận cho bằng là điều chúng ta thực hành. Vì thế, Phao-lô nêu rằng tình yêu thương (1) tỏ ra nhịn nhục; (2) tỏ ra nhân từ; (3) vui trong lẽ thật; (4) hay dung thứ mọi sự; (5) tin mọi sự; (6) trông cậy mọi sự; và (7) nín chịu mọi sự. Ngược lại, tình yêu thương (1) chẳng ghen tị; (2) chẳng khoe mình; (3) chẳng lên mình kiêu ngạo; (4) chẳng làm điều trái phép; (5) chẳng kiếm tư lợi [cho riêng mình]; (6) chẳng nóng giận; (7) chẳng ghi nhớ điều dữ; và (8) chẳng vui về điều không công bình.

Tổng cộng 15 động từ này cung cấp sự hướng dẫn vững chắc cho hành vi thích hợp trong việc thực hành các ân tứ. Đáng chú ý, phần bàn luận về bản chất thật của tình yêu thương này nằm chính giữa 1 Cô-rinh-tô 12 và 14, nơi Phao-lô bàn về xung đột liên quan đến các ân tứ thuộc linh. Thật vậy, tình yêu thương là chìa khóa để sử dụng các ân tứ thuộc linh cách khôn ngoan. Tình yêu thương cũng được đặt cạnh đức tin và sự trông cậy, “nhưng điều trọng hơn trong ba điều đó là tình yêu thương” (1 Cô-rinh-tô 13:13).

Tại sao tình yêu thương lại là trung tâm của đức tin chúng ta đến vậy? Còn cách nào tốt hơn để cảm nghiệm thực tại của tình yêu thương Đức Chúa Trời hơn là cầu nguyện tìm kiếm cách phản chiếu tình yêu thương ấy đến với người khác?

Thứ Tư Ân tứ nói tiếng lạ

Còn về ân tứ nói tiếng lạ thì sao? Phù hợp với sự biểu hiện của ân tứ này ở những chỗ khác trong Kinh Thánh (Mác 16:17; Công-vụ 2:1–13; Công-vụ 10:44–48; Công-vụ 19:6), ân tứ nói tiếng lạ trong 1 Cô-rinh-tô rất có thể là khả năng do Thánh Linh ban cho để nói các thứ tiếng ngoại quốc.

Phao-lô đề cập đến ân tứ nói tiếng lạ trong danh sách các ân tứ ở 1 Cô-rinh-tô 12:8–10 (cũng xem 1 Cô-rinh-tô 12:28, 30; 1 Cô-rinh-tô 13:1, 8). Tuy nhiên, ông nhắc đến nó nhiều lần trong 1 Cô-rinh-tô 14. Thật vậy, từ Hy Lạp glōssa (“tiếng,” “lưỡi”) xuất hiện hơn hai mươi lần trong 1 Cô-rinh-tô 12–14, riêng trong 1 Cô-rinh-tô 14 đã có mười lăm lần. Bên cạnh đó, từ Hy Lạp heteroglōssos (“tiếng khác”) cũng xuất hiện, trong 1 Cô-rinh-tô 14:21. Số lần nhắc đến ân tứ nói tiếng lạ nhiều như vậy gợi ý rằng vấn đề này đặc biệt khiến Phao-lô quan tâm. Việc lạm dụng và sử dụng sai ân tứ này của Hội Thánh tại Cô-rinh-tô đã gây ra sự mất trật tự và lộn xộn trong buổi thờ phượng công cộng (1 Cô-rinh-tô 14:23, 27, 33, 40).

Đọc 1 Cô-rinh-tô 14:5, 13, 26, 27 và 1 Cô-rinh-tô 12:10, 30. Phao-lô đưa ra chỉ dẫn cụ thể nào liên quan đến ân tứ nói tiếng lạ?

Lý do mà ân tứ nói tiếng lạ phải đi đôi với ân tứ thông giải các tiếng đó là vì tiếng lạ phải dễ hiểu (1 Cô-rinh-tô 14:9); nếu không, sử dụng ân tứ ấy chẳng đem lại ích lợi gì (1 Cô-rinh-tô 14:6). Điều này giải thích tại sao Phao-lô đặt quá nhiều sự nhấn mạnh vào sự thông giải và sự hiểu biết. Rõ ràng, ông không phê phán ân tứ nói tiếng lạ tự nó, nhưng, như chúng ta sẽ thấy ngày mai, là sự nổi bật quá mức mà người Cô-rinh-tô gán cho nó, dẫn đến việc bỏ bê ân tứ nói tiên tri.

Đến đây, điều quan trọng cần lưu ý là dù Phao-lô ao ước rằng tất cả người Cô-rinh-tô đều có thể nói các thứ tiếng ngoại quốc (1 Cô-rinh-tô 14:5), ông không trông đợi điều đó xảy ra (1 Cô-rinh-tô 12:10). Vì thế, ý tưởng cho rằng “tất cả phải nói tiếng lạ trước khi có thể xưng nhận phép báp-têm trong Đức Thánh Linh là một sự xuyên tạc sự dạy dỗ của Phao-lô trong 1 Cô-rinh-tô 12 và 14."—Raoul Dederen, Handbook of Seventh-day Adventist Theology, Commentary Reference Series, vol. 12 (Hagerstown, MD: Review and Herald Publishing Association, 2001), tr. 620.

Có những người trong Hội Thánh bạn nói các thứ tiếng khác không? Làm thế nào họ có thể dùng khả năng này để đưa người khác đến với Đấng Cơ-đốc? Điều này có thể giúp chúng ta hiểu bản chất thật của tiếng lạ mà Phao-lô đang đề cập như thế nào?

Thứ Năm Ân tứ nói tiên tri

Ân tứ nói tiên tri chiếm một vị trí nổi bật trong phần bàn luận của Phao-lô về các ân tứ thuộc linh. Điều thú vị là ân tứ nói tiên tri thường được nhắc đến trước ân tứ nói tiếng lạ (1 Cô-rinh-tô 12:10, 28; 1 Cô-rinh-tô 13:8). Khi ân tứ nói tiếng lạ được nhắc đến trước, thì điều đó chỉ để nhấn mạnh tầm quan trọng tương đối kém của nó so với ân tứ nói tiên tri (1 Cô-rinh-tô 14:4, 5, 6, 22).

Đọc Ê-phê-sô 4:11–13 và 1 Cô-rinh-tô 14:3, 4. Các phân đoạn này nói gì về mục đích của các ân tứ thuộc linh nói chung và ân tứ nói tiên tri nói riêng?

Ân tứ nói tiên tri nhằm đem lại sự gây dựng, sự khuyên bảo và sự yên ủi (1 Cô-rinh-tô 14:3; so sánh với Công-vụ 15:32). Điều này gợi ý rằng nói tiên tri không hẳn là việc dự đoán tương lai cho bằng là việc làm thế nào để sống trong hiện tại. Động từ Hy Lạp prophēteuō có thể mang nghĩa “nói điều gì đó trước” hoặc “nói điều gì đó thay cho người khác.” Chẳng hạn, nghĩa thứ nhất được thấy trong Công-vụ 2:29–31 (so sánh với A-mốt 3:7), nơi ý tưởng rằng Đa-vít là một tiên tri được giải thích là “thấy trước.” Nghĩa thứ hai được thấy trong Công-vụ 15:32, nơi Giu-đe và Si-la được xác định là các tiên tri. Tuy nhiên, “sự nói tiên tri” của họ bao gồm việc khích lệ và làm vững mạnh “anh em bằng nhiều lời giảng.”

Từ Ê-phê-sô 4:11–13, chúng ta học biết rằng các ân tứ thuộc linh không chấm dứt trong thời đại các sứ đồ. Chúng phải tồn tại cho đến tận cùng (Công-vụ 2:39). Tuy nhiên, nếu ai đó tự xưng là tiên tri, người ấy phải được đánh giá dựa trên Kinh Thánh. Nói chung, bốn quy tắc cần được thỏa đáp. Thứ nhất, các lời tiên tri vô điều kiện luôn ứng nghiệm (Phục-truyền Luật-lệ Ký 18:22; Giê-rê-mi 28:8, 9). Thứ hai, sứ điệp đó phù hợp với sứ điệp của các tiên tri trước đó (Phục-truyền Luật-lệ Ký 13:1–3; Ê-sai 8:20). Thứ ba, đời sống hằng ngày thể hiện sự tận hiến cho Đấng Cơ-đốc (1 Giăng 4:1–3). Thứ tư, Đức Chúa Giê-su phán rằng các tiên tri giả sẽ được nhận biết bởi kết quả của họ (Ma-thi-ơ 7:15–20). Điều này cũng đúng đối với các tiên tri thật.

Sách Khải-huyền cho thấy rằng ân tứ nói tiên tri là một đặc điểm riêng biệt của Hội Thánh còn sót lại (Khải-huyền 12:17; Khải-huyền 19:10). Là tín đồ Cơ-đốc Phục Lâm, chúng ta tin rằng ân tứ nói tiên tri đã được ban cho Ellen G. White và được phản ánh trong các tác phẩm của bà.

Chúng ta có tất cả những lý do nào để tin vào ân tứ tiên tri của Ellen G. White? Còn những câu hỏi nào vẫn còn về vai trò và thẩm quyền của bà?

Thứ Sáu Suy gẫm thêm

Đọc Roswell F. Cottrell, “Spiritual Gifts,” tr. 5–16, trong Ellen G. White, Spiritual Gifts, vol. 1.

“Hãy để cho người ta ra đi lao động, tin cậy nơi Chúa, và Ngài sẽ đi cùng họ, cáo trách và cải hóa các linh hồn. Một người lao động có thể là người ăn nói lưu loát, người khác là người viết lách thành thạo, người khác có thể có ân tứ cầu nguyện chân thành, tha thiết, sốt sắng, người khác có ân tứ ca hát. Người khác có thể có năng lực đặc biệt để giải thích lời Đức Chúa Trời cách rõ ràng. Và mỗi ân tứ trở nên một quyền năng cho Đức Chúa Trời vì Ngài cộng tác với người lao động. Đức Chúa Trời ban cho người này lời nói khôn ngoan, cho người kia sự thông biết, cho người khác đức tin. Nhưng tất cả đều phải làm việc dưới cùng một đầu. Sự đa dạng của các ân tứ dẫn đến sự đa dạng của các công việc, ‘song chỉ có một Đức Chúa Trời, là Đấng làm mọi việc trong mọi người’ (1 Cô-rinh-tô 12:6).

“Đừng ai khinh dể những ân tứ tưởng là nhỏ hơn. Hãy để mọi người bắt tay vào việc. Đừng ai khoanh tay trong sự chẳng tin vì nghĩ rằng mình không thể làm được công việc lớn lao. Hãy thôi nhìn vào chính mình. Hãy nhìn lên Đấng Lãnh Đạo của bạn. Trong sự nhu mì, chân thành và yêu thương, hãy làm điều bạn có thể làm."—Ellen G. White, trong The Advent Review and Sabbath Herald, ngày 12 tháng 4 năm 1906.

“Mỗi người chúng ta cần sự giúp đỡ mà chúng ta có thể nhận được từ những tâm trí khác. Đức Chúa Trời sẽ làm việc trong những tâm trí khác ngoài tâm trí chúng ta. Các ân tứ khác nhau ban cho những người khác nhau phải hòa hợp để ’làm cho các thánh đồ được trọn vẹn về công việc của chức dịch và sự gây dựng thân thể Đấng Cơ-đốc’ (Ê-phê-sô 4:12). . . .

“Sẽ luôn có những trở ngại trước mắt chúng ta, nhưng chúng ta phải theo Đấng Lãnh Đạo của mình, và cùng nhau đối diện với những khó khăn, tay nắm tay."—Ellen G. White, The Upward Look, tr. 141.

Câu hỏi thảo luận:

Hãy suy nghĩ thêm một chút về ân tứ nói tiên tri. Tại sao sự nói tiên tri lại quan trọng hơn tiếng lạ nếu các tiếng đó không được thông giải? Nếu cần, hãy đọc lại 1 Cô-rinh-tô 14 để tóm tắt các lập luận của Phao-lô.

Trong lớp học, hãy trao đổi về đời sống và chức vụ của Ellen G. White và tại sao chúng ta, là một Hội Thánh, tin rằng bà thật sự đã thể hiện ân tứ nói tiên tri. Những phước lành lớn lao nào đến với Hội Thánh từ ân tứ này? Cũng có những thách thức nào trong việc biết cách sử dụng ân tứ này một cách tốt nhất?

Hãy nghĩ đến ba đến năm người thật lòng yêu thương bạn. Làm thế nào bạn biết tình yêu thương của họ dành cho bạn là chân thật? Điều này cho bạn biết gì về lý do tại sao Phao-lô nói nhiều về tình yêu thương đến vậy trong phần bàn luận của ông về các ân tứ thuộc linh?

Dù tình yêu thương quan trọng đến đâu, tại sao đó không thể là tiêu chuẩn duy nhất để phán đoán liệu một người có đang nói lẽ thật và đáng được lắng nghe hay không?