Ân điển, Tình yêu thương và Sự thông công
Kinh Thánh Nghiên Cứu: 2 Cô-rinh-tô 8:9; Rô-ma 16:20; 1 Giăng 4:8–11; 2 Cô-rinh-tô 13:11; Phi-líp 2:1, 2; Ga-la-ti 4:4–6
"Nguyền xin ơn của Đức Chúa Jêsus Cơ-đốc, sự yêu thương của Đức Chúa Trời, và sự giao thông của Đức Thánh Linh ở với anh em hết thảy!" — 2 Cô-rinh-tô 13:14
Sa-bát Ân điển, Tình yêu thương và Sự thông công
Câu gốc
"Nguyền xin ơn của Đức Chúa Jêsus Cơ-đốc, sự yêu thương của Đức Chúa Trời, và sự giao thông của Đức Thánh Linh ở với anh em hết thảy!" (2 Cô-rinh-tô 13:14).
Kinh Thánh nghiên cứu
2 Cô-rinh-tô 8:9; Rô-ma 16:20; 1 Giăng 4:8–11; 2 Cô-rinh-tô 13:11; Phi-líp 2:1, 2; Ga-la-ti 4:4–6.
Phao-lô kết thúc thư 2 Cô-rinh-tô bằng cách nhấn mạnh lại những yếu tố thiết yếu mà ông đã đề cập trong các thư của mình. Ông làm điều này qua năm mệnh lệnh (2 Cô-rinh-tô 13:11).
Mệnh lệnh thứ nhất, “Hãy mừng rỡ”, gợi nhớ những đoạn đã nêu trước đó trong các thư.
Mệnh lệnh thứ hai, “Hãy cố nên trọn vẹn”, dịch từ một từ duy nhất trong tiếng Hy Lạp (katartizō), xuất hiện ở đây và trong 1 Cô-rinh-tô 1:10.
Mệnh lệnh thứ ba, “Hãy khích lệ lẫn nhau”, tiếp nối 2 Cô-rinh-tô 1:3–7. Phao-lô mở đầu và kết thúc thư thứ hai của mình bằng sự khích lệ. Chúng ta nhận được sự khích lệ của Đức Chúa Trời để khích lệ người khác (2 Cô-rinh-tô 1:4, 6).
Mệnh lệnh thứ tư và thứ năm, “Hãy hiệp một ý nhau, ở cho hòa thuận” (2 Cô-rinh-tô 13:11), là lời kêu gọi đến sự hiệp một. Bầu không khí của niềm vui, sự phục hồi, sự khích lệ, sự hiệp một và sự bình an này là điều kiện cho sự hiện diện của Đức Chúa Trời, “Đức Chúa Trời của sự yêu thương và bình an” (2 Cô-rinh-tô 13:11). Nó là kết quả của công việc Đức Chúa Trời Ba Ngôi của chúng ta thực hiện trong lòng con người (2 Cô-rinh-tô 13:14).
Ân điển, tình yêu thương và sự thông công là kết quả của công việc mà Đức Chúa Trời Ba Ngôi làm cho chúng ta. Ba đặc điểm Cơ-đốc này thúc đẩy một bầu không khí được đánh dấu bởi sự hiện diện của Đức Chúa Trời.
Nghiên cứu bài học tuần này để chuẩn bị cho ngày Sa-bát, ngày 26 tháng 9.
Thứ Nhất Ân điển của Đức Chúa Giê-su
Thật cảm động khi vào cuối thư 2 Cô-rinh-tô, chúng ta thấy một lời nhắc đến ân điển của Đức Chúa Giê-su, giống như ở phần mở đầu (2 Cô-rinh-tô 1:2; 2 Cô-rinh-tô 13:14). Phao-lô mở đầu và kết thúc thư này bằng lời nhắc đến ân điển của Ngài. Như chúng ta đã thấy ở đầu quý này, ông không thể ngừng suy nghĩ và nói về Đức Chúa Giê-su.
“Vì anh em biết ơn của Đức Chúa Jêsus Cơ-đốc chúng ta, Ngài vốn giàu, vì anh em mà tự làm nên nghèo, hầu cho bởi sự nghèo của Ngài, anh em được nên giàu” (2 Cô-rinh-tô 8:9).
Ân điển của Đức Chúa Giê-su thật đáng ngưỡng mộ và không thể chối từ! Ngài đã rời bỏ sự giàu sang của sự hiện hữu đời đời trên trời để trở nên nghèo. Ngài đã bước đi trên những con đường đầy bụi của xứ Ga-li-lê thuở xưa. “Ngài đã hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự” (Phi-líp 2:8). Ngài làm điều đó để chúng ta trở nên “giàu”, nghĩa là để chúng ta có cơ hội được ở với Ngài trên trời. Thật khó cho chúng ta, những người chỉ biết một thế giới đầy tội lỗi, sự chết và khổ đau, để dù chỉ bắt đầu nắm bắt được ý nghĩa của việc Đức Chúa Giê-su rời bỏ cung điện thiên đàng để đến đây và hiến dâng mạng sống Ngài vì chúng ta.
Đọc Rô-ma 16:20, Ga-la-ti 6:18, Phi-líp 4:23 và 1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:28. Bạn thấy điều dạy dỗ quan trọng nào trong những đoạn này?
Phao-lô nhắc đến ân điển của Đức Chúa Giê-su rất thường xuyên trong các thư của mình. Một vài viên ngọc quý gồm có: “Sự ban cho của ân điển bởi . . . Đức Chúa Jêsus Cơ-đốc, ban cho dư dật cho nhiều người” (Rô-ma 5:15). Những ai nhận được sự dư dật của ân điển này sẽ “nhờ . . . Đức Chúa Jêsus mà cai trị trong sự sống” (Rô-ma 5:17). Cũng như xảy ra với thư 2 Cô-rinh-tô, Phao-lô cũng mở đầu và kết thúc các thư khác bằng cách nhắc đến ân điển của Đức Chúa Giê-su (Rô-ma 1:7; Rô-ma 16:20; 1 Cô-rinh-tô 1:3; 1 Cô-rinh-tô 16:23; Ga-la-ti 1:3; Ga-la-ti 6:18; Phi-líp 1:2; Phi-líp 4:23). Đề tài này chiếm lấy tâm trí ông, và ông muốn nó cũng tràn ngập tâm trí của người Cô-rinh-tô nữa.
Đây là điều ông ao ước cho mọi Hội Thánh. Hãy chú ý điều ông nói với người Ê-phê-sô: “Nguyền xin ân điển ở với hết thảy những kẻ lấy lòng yêu thương chẳng phai mà kính mến Đức Chúa Jêsus Cơ-đốc chúng ta!” (Ê-phê-sô 6:24). Liệu ông có ước ao chúng ta yêu mến Đức Chúa Giê-su ít hơn thế, một tình yêu chẳng phai chăng? Chắc chắn là không. Suy cho cùng, ước ao của ông là ân điển của Đức Chúa Giê-su đến với “càng nhiều người” (2 Cô-rinh-tô 4:15) và trở nên đầy đủ cho họ như đã đầy đủ cho ông (2 Cô-rinh-tô 12:9).
Hãy suy nghĩ về ân điển của Đức Chúa Trời đối với bạn theo cách này. Với những điều bạn đã nói và đã làm, bạn đáng phải nhận điều gì? Nhưng thay vào đó, ân điển của Đức Chúa Trời ban cho bạn điều gì?
Thứ Hai Tình yêu thương của Đức Chúa Trời
“Nguyền xin ơn của Đức Chúa Jêsus Cơ-đốc, sự yêu thương của Đức Chúa Trời, và sự giao thông của Đức Thánh Linh ở với anh em hết thảy! A-men” (2 Cô-rinh-tô 13:14). Bằng câu này, Phao-lô kết thúc thư thứ hai của mình. Hãy lưu ý rằng ông nhắc đến ba Ngôi của Đức Chúa Trời Ba Ngôi theo thứ tự này—Con, Cha và Đức Thánh Linh. Chính qua công việc của cả ba Ngôi mà chúng ta có thể hiểu rõ hơn Đức Chúa Trời là Đấng như thế nào và Ngài đã làm gì cho chúng ta.
Đọc Giăng 3:16, 17; Rô-ma 8:37–39; và 1 Giăng 4:8–11. Những đoạn này nói gì với chúng ta về tình yêu thương của Đức Chúa Trời?
1 Giăng 4:8 nói rằng “Đức Chúa Trời là sự yêu thương”. Tình yêu thương là một thuộc tính thiết yếu của Đức Chúa Trời. Giăng nhấn mạnh rằng chúng ta có thể biết được tình yêu thương ở chỗ Đức Chúa Trời ban Con một của Ngài chịu chết vì chúng ta (Giăng 3:16). Đức Chúa Trời đã sai Đức Chúa Giê-su đến trong một sứ mạng giải cứu (Giăng 3:17), và đây là một phần của kế hoạch cứu rỗi (Công-vụ 3:20, 21; 1 Giăng 4:10, 14). Đức Chúa Giê-su nhiều lần nhắc đến Đức Chúa Cha trong các sách Tin Lành là Đấng đã sai Ngài đến (Ma-thi-ơ 10:40; Mác 9:37).
Trong một lời tuyên bố đáng chú ý, Phao-lô nói: “Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Cơ-đốc vì chúng ta chịu chết” (Rô-ma 5:8). Chúng ta có thể thoáng thấy tình yêu thương của Đức Chúa Trời trong mối quan hệ ngọt ngào giữa vợ chồng, cũng như giữa cha mẹ với con cái, trong những tình bạn chân thành, và nhiều điều khác nữa. Chúng ta cũng có thể thấy tình yêu thương của Đức Chúa Trời trong thiên nhiên. Về điều này, bà Ellen G. White nói: “‘Đức Chúa Trời là sự yêu thương’ được viết trên mỗi nụ hoa hé nở, trên mỗi nhánh cỏ đâm chồi. Những con chim đáng yêu khiến không trung vang vọng những khúc hát hân hoan, những đóa hoa với màu sắc tinh tế trong vẻ hoàn mỹ của chúng tỏa hương thơm ngát trong không khí, những cây cao trong rừng với tán lá xanh tươi sum suê—tất cả đều làm chứng về sự chăm sóc dịu dàng, đầy tình phụ tử của Đức Chúa Trời chúng ta và về ước muốn của Ngài muốn làm cho con cái Ngài được hạnh phúc."—Steps to Cơ-đốc, tr. 10.
Tuy nhiên, không gì thuyết phục hơn việc Đức Chúa Trời ban Đức Chúa Giê-su làm của lễ chuộc tội cho chúng ta. Khi chúng ta hiểu rằng Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta đến mức sai Đức Chúa Giê-su hi sinh mạng sống Ngài vì chúng ta, thì sự đáp ứng của chúng ta là sẵn lòng “phó sự sống vì anh em mình” (1 Giăng 3:16).
Phao-lô muốn người Cô-rinh-tô sống trong sự hiệp một. Tuy nhiên, không có tình yêu thương thì không có sự hiệp một. Đó là lý do ông dạy họ rằng “sự yêu thương làm gương tốt” (1 Cô-rinh-tô 8:1) và rằng không có tình yêu thương thì mọi sự đều vô ích và trống rỗng (1 Cô-rinh-tô 13:1–3). Vậy nên, mọi điều chúng ta làm đều phải được làm trong tình yêu thương (1 Cô-rinh-tô 16:14), một tình yêu thương là sự nối dài của tình yêu thương Đức Chúa Trời.
Chúng ta sẽ mất đi điều gì trong Tin Lành nếu chính Đức Chúa Giê-su không phải là Đức Chúa Trời cách trọn vẹn và đời đời?
Thứ Ba Đức Chúa Trời của tình yêu thương
Trong thế giới ngoại giáo thời xưa, người ta không tin rằng các thần linh yêu thương con người. Trái lại, các thần linh được xem là độc ác, giận dữ, và phải được làm cho nguôi cơn giận. Ý niệm về một Đức Chúa Trời của tình yêu thương, như chúng ta thấy trong Kinh Thánh, là điều mới mẻ. Dù lời tuyên bố này gây ngạc nhiên trong thời của ông, Phao-lô vẫn mô tả Đức Chúa Trời của chúng ta là “Đức Chúa Trời của sự yêu thương và bình an” (2 Cô-rinh-tô 13:11).
Đọc 2 Cô-rinh-tô 13:11. Làm thế nào bạn có thể rút ra hi vọng từ điều được nói ở đây? Làm thế nào bạn có thể trải nghiệm tốt hơn điều câu này dạy?
Cụm từ “Đức Chúa Trời của sự yêu thương và bình an” có thể được hiểu theo hai cách khác nhau. Một mặt, Đức Chúa Trời được nhìn nhận là nguồn của tình yêu thương và bình an. Mặt khác, Đức Chúa Trời được đặc trưng bởi tình yêu thương và bình an. Tuy nhiên, không cần phải chọn giữa hai cách hiểu này. Bởi vì tình yêu thương và bình an là những đặc tính nội tại của Đức Chúa Trời, nên Ngài ban cho chúng ta tình yêu thương và bình an.
Ở những nơi khác, Phao-lô nhắc đến Đức Chúa Trời là “Đức Chúa Trời hay nhịn nhục và yên ủi” (Rô-ma 15:5); “Đức Chúa Trời của sự trông cậy” (Rô-ma 15:13); “Đức Chúa Trời của sự bình an” (Rô-ma 15:33; Rô-ma 16:20; 1 Cô-rinh-tô 14:33; Phi-líp 4:9; 1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:23), “Cha hay thương xót” (2 Cô-rinh-tô 1:3), và “Đức Chúa Trời ban mọi sự yên ủi” (2 Cô-rinh-tô 1:3). Đức Chúa Trời là nguồn của tất cả những phước lành này. Ngài ban hết thảy cho chúng ta vì tình yêu thương không hề phai nhạt của Ngài.
Ngoài ra, mặc dù cụm từ “Đức Chúa Trời của sự bình an” khá phổ biến trong Kinh Thánh, cụm từ “Đức Chúa Trời của tình yêu thương” chỉ xuất hiện ở đây (2 Cô-rinh-tô 13:11), và do đó nó đáng để chúng ta suy ngẫm sâu sắc nhất.
Như nhiều nhà giải kinh đã nhận thấy, việc Phao-lô nhắc đến Đức Chúa Trời của tình yêu thương chỉ vài câu trước lời chúc phước Ba Ngôi trong 2 Cô-rinh-tô 13:14 cho thấy rằng ông nghĩ về Đức Chúa Trời như ba Ngôi. “Mặc dù ở đây ông dùng từ ‘Đức Chúa Trời’ như một trong ba Ngôi, nhưng sự hiểu biết của ông về Đức Chúa Giê-su và Thánh Linh ở những nơi khác trong các thư của ông . . . buộc chúng ta phải nhìn cả cụm từ này như mô tả về một Đức Chúa Trời duy nhất mà Hội Thánh thuở ban đầu dần nhìn nhận trong hình thức ba ngôi. Phải hơn một thế kỷ sau, các nhà thần học . . . mới bắt đầu dùng những từ như ‘ba ngôi’ (trinity) như một cách nói tắt để diễn đạt điều mà Phao-lô đã trình bày rõ."—Tom Wright, Paul for Everyone: 2 Corinthians (London: Society for Promoting Cơ-đốcian Knowledge, 2004), tr. 148.
Chúng ta tin vào một Đức Chúa Trời, sự hiệp một của ba Ngôi cùng sống đời đời trong mối quan hệ yêu thương. Đức Chúa Trời Ba Ngôi này yêu thương chúng ta và kêu gọi chúng ta yêu thương lẫn nhau theo cách phản ánh tình yêu thương giữa Ba Ngôi của Đức Chúa Trời.
Thứ Tư Sự thông công của Đức Thánh Linh
Ân điển của Đức Chúa Giê-su không chỉ bày tỏ tình yêu thương của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta mà còn mang đến sự thông công của Đức Thánh Linh như một kết quả khác của tình yêu thương đó. Đồng thời, sự thông công có nguồn gốc trong tình yêu thương của Đức Chúa Trời. Và đó là vì không có tình yêu thương thì không có sự thông công. Như Phao-lô viết: “Vậy nếu trong Đấng Cơ-đốc có điều yên ủi nào, nếu vì lòng yêu thương có điều cứu giúp nào, nếu có sự thông công với Thánh Linh, nếu có lòng yêu mến và lòng thương xót, thì anh em hãy hiệp ý với nhau, đồng tình yêu thương, đồng tâm, đồng tư tưởng mà làm cho tôi vui mừng trọn vẹn” (Phi-líp 2:1, 2).
Có người nói rằng Đức Thánh Linh chỉ là một sức mạnh hay ảnh hưởng, nhưng điều đó không thể đúng. Suy cho cùng, tại sao Phao-lô lại đặt hai thân vị—Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con—cùng với một “sức mạnh” đơn thuần trong một công thức Ba Ngôi? Điều đó hẳn vô nghĩa. Cũng như Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con được trình bày trong một mối quan hệ thân vị (2 Cô-rinh-tô 1:3; 2 Cô-rinh-tô 11:31), mối quan hệ của Thánh Linh với con người đưa chúng ta đến kết luận rằng Ngài cũng là một thân vị (Rô-ma 8:15, 16; xem thêm Giăng 14:16, 17, 26; Giăng 15:26).
Cụm từ “sự thông công của Thánh Linh” (Phi-líp 2:1) có thể được hiểu theo hai cách. Nó có thể có nghĩa là sự thông công với nhau do Thánh Linh ban cho, hoặc sự thông công với chính Thánh Linh. Một số nhà giải kinh lập luận rằng hai ý nghĩa này không loại trừ lẫn nhau. Suy cho cùng, sự thông công với nhau là hệ quả của sự thông công với Thánh Linh.
Đọc 1 Cô-rinh-tô 2:10, 11; 1 Cô-rinh-tô 3:16; 1 Cô-rinh-tô 12:11; và 2 Cô-rinh-tô 3:6, 17. Phao-lô đã dạy người Cô-rinh-tô điều gì về Thánh Linh?
Phao-lô có nhiều điều để nói về công việc của Thánh Linh. Trong thư 1 và 2 Cô-rinh-tô, có hơn bốn mươi lần nhắc đến Đức Thánh Linh. Đức Thánh Linh thúc đẩy sự gây dựng Hội Thánh (1 Cô-rinh-tô 14:12), trang bị cho con người để thi hành sứ mạng (1 Cô-rinh-tô 2:4, 5), bày tỏ cho chúng ta những điều sâu nhiệm của Đức Chúa Trời (1 Cô-rinh-tô 2:10, 11), và dạy dỗ chúng ta những điều ấy (1 Cô-rinh-tô 2:13), ngự trong chúng ta (1 Cô-rinh-tô 3:16; 1 Cô-rinh-tô 6:19), cùng làm việc với Đấng Cơ-đốc cho sự xưng công bình của chúng ta (1 Cô-rinh-tô 6:11), ban các ân tứ thuộc linh cho Hội Thánh (1 Cô-rinh-tô 12–14), đóng ấn chúng ta cho sự cứu rỗi (2 Cô-rinh-tô 1:22), in luật pháp vào lòng con người (2 Cô-rinh-tô 3:3), ban sự sống mới trong Đấng Cơ-đốc (2 Cô-rinh-tô 3:6), và sự tự do khỏi tội lỗi (2 Cô-rinh-tô 3:17). Chắc chắn, chúng ta không thể sống thiếu Đức Thánh Linh.
Tại sao việc hiểu biết về thần tính của Đức Thánh Linh cũng quan trọng để nắm bắt trọn vẹn tình yêu thương của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta?
Thứ Năm Đức Chúa Trời Ba Ngôi của chúng ta
Khi đọc 2 Cô-rinh-tô 13:14, người ta có thể nghĩ rằng Đấng Cơ-đốc là nguồn duy nhất của ân điển, Đức Chúa Trời là nguồn duy nhất của tình yêu thương, và Đức Thánh Linh là nguồn duy nhất của sự thông công, nhưng không gì có thể sai lầm hơn thế.
Đọc 1 Cô-rinh-tô 1:3, 4, 9; 1 Cô-rinh-tô 10:16; 2 Cô-rinh-tô 1:2, 12; Rô-ma 8:35; Rô-ma 15:30; Ga-la-ti 2:20; và Ê-phê-sô 3:19. Những đoạn này nói gì về ân điển, tình yêu thương và sự thông công liên quan đến các Ngôi của Đức Chúa Trời Ba Ngôi?
Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh cùng làm việc cho sự cứu rỗi của chúng ta. Ân điển, tình yêu thương và sự thông công đến không phải chỉ từ một Ngôi mà từ cả Ba Ngôi của Đức Chúa Trời. Tuy vậy, mỗi Ngôi có những chức năng cụ thể trong lịch sử cứu rỗi. Phao-lô ý thức được điều đó và nhấn mạnh sự dạy dỗ này trong các thư của ông. Chẳng hạn, kế hoạch cứu rỗi được kể lại với một sự cô đọng đáng kinh ngạc về từ ngữ trong Ga-la-ti 4:4–6, với sự tham gia tương ứng của cả Ba Ngôi của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Cha sai Đức Chúa Giê-su đến, điều này cho thấy Đức Chúa Cha là Nguồn của kế hoạch ấy (Ga-la-ti 4:4). Đức Chúa Con bởi một người nữ sanh ra (Ga-la-ti 4:4), đây là lời nhắc đến sự Nhập Thể và chỉ về sự ứng nghiệm của một lời hứa thuở xưa (Sáng-thế Ký 3:15). Đức Chúa Con cứu chuộc chúng ta và đem chúng ta trở lại mối quan hệ đúng đắn với Đức Chúa Cha, là Đấng mà Sa-tan đã nói dối về Ngài (Sáng-thế Ký 3:5). Và Đức Thánh Linh xác chứng danh phận của chúng ta là con cái Đức Chúa Trời (Ga-la-ti 4:6).
Còn có nhiều lời nhắc khác đến Đức Chúa Trời Ba Ngôi trong các thư của Phao-lô. Ba Ngôi cùng hành động, trang bị cho Hội Thánh để thi hành sứ mạng (1 Cô-rinh-tô 12:4–6), ban cho chúng ta sức mạnh thuộc linh (Ê-phê-sô 3:14–19), và thúc đẩy một sự hiệp một sâu sắc giữa các tín hữu trong Hội Thánh, một sự hiệp một sao chép lại sự hiệp một vốn đặc trưng cho chính mối quan hệ giữa các Ngôi của Đức Chúa Trời (Ê-phê-sô 4:4–6). Theo cách hiểu của Phao-lô, không những Đức Chúa Trời là Ba Ngôi, mà cả ba thân vị của Đức Chúa Trời còn cùng làm việc cho sự cứu rỗi của chúng ta (Ê-phê-sô 1:3, 13, 14). Trong thư Ê-phê-sô, Phao-lô thậm chí còn nói rằng chúng ta phải được đầy dẫy sự sung mãn của Đức Chúa Cha (Ê-phê-sô 3:19), Đức Chúa Con (Ê-phê-sô 4:13), và Đức Thánh Linh (Ê-phê-sô 5:18).
Khi đưa thư từ trao đổi với người Cô-rinh-tô đến hồi kết (2 Cô-rinh-tô 13:14), Phao-lô không thể kết thúc bằng một cái kết nào tốt đẹp hơn—một lời hứa rằng ba Đấng Tôn Quý của vũ trụ, Bộ Ba thiên thượng, sẽ ở cùng chúng ta bây giờ và trong đời sau.
Sự thông công giữa các tín hữu trong Hội Thánh phải phản ánh thế nào mối quan hệ đáng yêu của Đức Chúa Trời?
Thứ Sáu Suy gẫm thêm
Đọc Ellen G. White, “‘Lòng các ngươi chớ hề bối rối,’” tr. 662–680, trong sách Nguyện Ước Thời Đại.
“Chỉ một mình ân điển của Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc mới có thể biến đổi tấm lòng bằng đá thành tấm lòng bằng thịt, và làm cho nó sống lại đối với Đức Chúa Trời. . . . Con người không có quyền năng để xưng công bình cho linh hồn, để thánh hóa tấm lòng. Căn bệnh đạo đức không thể được chữa lành ngoại trừ qua quyền năng của Đấng Đại Y Sĩ. Món quà cao quý nhất của thiên đàng, là chính Con một của Đức Chúa Cha, đầy ơn và lẽ thật, mới là Đấng duy nhất có thể cứu chuộc kẻ hư mất."—Ellen G. White, trong The Signs of the Times, ngày 2 tháng 5 năm 1892.
“‘Đức Chúa Trời là sự yêu thương.’ 1 Giăng 4:16. Bản tính Ngài, luật pháp Ngài, là tình yêu thương. Xưa nay vẫn vậy; mãi mãi vẫn vậy. ‘Đấng Cao Cả ngự nơi đời đời vô cùng,’ Đấng mà ‘các đường lối Ngài là đời đời,’ chẳng hề thay đổi. Nơi Ngài ‘chẳng có sự thay đổi, cũng chẳng có bóng của sự biến cải nào.’ Ê-sai 57:15; Ha-ba-cúc 3:6; Gia-cơ 1:17. Mỗi sự biểu lộ của quyền năng sáng tạo là một sự bày tỏ của tình yêu thương vô hạn. Quyền tể trị của Đức Chúa Trời bao hàm sự đầy trọn của phước lành cho mọi loài thọ tạo. . . . Lịch sử của cuộc đại tranh chấp giữa thiện và ác, từ khi nó khởi đầu trên trời cho đến sự lật đổ cuối cùng của sự phản nghịch và sự tận diệt hoàn toàn của tội lỗi, cũng là một sự minh chứng cho tình yêu thương bất biến của Đức Chúa Trời."—Ellen G. White, Patriarchs and Prophets, tr. 33.
“Chúng ta cần nhận thức rằng Đức Thánh Linh . . . là một thân vị thật như Đức Chúa Trời là một thân vị vậy. . . . Đức Thánh Linh có nhân vị, nếu không thì Ngài đã không thể làm chứng với tâm linh chúng ta và cùng tâm linh chúng ta rằng chúng ta là con cái Đức Chúa Trời. Ngài cũng phải là một thân vị thần linh, nếu không thì Ngài đã không thể dò xét những điều bí mật ẩn giấu trong tâm trí Đức Chúa Trời."—Ellen G. White, The Faith I Live By, tr. 52.
“Có ba thân vị sống động của Bộ Ba thiên thượng; trong danh của ba quyền năng vĩ đại này—Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con, và Đức Thánh Linh—những ai tiếp nhận Đấng Cơ-đốc bằng đức tin sống động thì được làm phép báp-têm, và những quyền năng này sẽ cộng tác với các thần dân vâng phục của thiên đàng trong nỗ lực sống đời sống mới trong Đấng Cơ-đốc."—Ellen G. White, Evangelism, tr. 615.
Câu hỏi thảo luận:
Một bài thánh ca nổi tiếng của Cơ-đốc giáo có tựa đề "Amazing Grace" (Ân Điển Diệu Kỳ). Điều gì là diệu kỳ về ân điển của Đức Chúa Giê-su?
Một sự khắc họa tuyệt đẹp về tình yêu thương của Đức Chúa Trời có thể được tìm thấy trong câu chuyện ngụ ngôn về người con trai hoang đàng. Làm thế nào chúng ta biết người cha trong câu chuyện này là một người cha đầy yêu thương?
Làm thế nào các Hội Thánh địa phương có thể chứng tỏ rằng "sự thông công của Thánh Linh" là một thực tại ở đó?