Bài Học 11 · 5 Tháng 9 – 11 Tháng 9

Sự quản trị và sứ mạng

Kinh Thánh Nghiên Cứu: 2 Cô-rinh-tô 8–9; Giăng 3:16; Giăng 17:5; Lu-ca 9:58; Khải-huyền 13:8; Rô-ma 12:8; Rô-ma 15:26, 27

"Vì anh em biết ơn của Đức Chúa Jêsus Cơ-đốc chúng ta, Ngài vốn giàu, vì anh em mà tự làm nên nghèo, hầu cho bởi sự nghèo của Ngài, anh em được nên giàu" — 2 Cô-rinh-tô 8:9
Sa-bát Sự quản trị và sứ mạng

Câu gốc

"Vì anh em biết ơn của Đức Chúa Jêsus Cơ-đốc chúng ta, Ngài vốn giàu, vì anh em mà tự làm nên nghèo, hầu cho bởi sự nghèo của Ngài, anh em được nên giàu" (2 Cô-rinh-tô 8:9).

Kinh Thánh nghiên cứu

2 Cô-rinh-tô 8–9; Giăng 3:16; Giăng 17:5; Lu-ca 9:58; Khải-huyền 13:8; Rô-ma 12:8; Rô-ma 15:26, 27.

2 Cô-rinh-tô 8 và 9 cho thấy Phao-lô đã ban cho người Cô-rinh-tô cơ hội để phục vụ anh chị em mình tại xứ Giu-đê. Phân đoạn này cho thấy rằng dâng hiến là một đặc ân Đức Chúa Trời ban cho chúng ta, để chúng ta có thể noi theo bản tánh hy sinh của Đấng Cơ-đốc. Ngôn ngữ của thiên đàng là ngôn ngữ của sự dâng hiến. Hãy lưu ý những lời đáng chú ý này: “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài” (Giăng 3:16; nhấn mạnh được thêm vào).

Hơn nữa, Giăng 3:16 bày tỏ cách rõ ràng mục đích của Đức Chúa Trời khi ban Đức Chúa Giê-su, để “hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời” (Giăng 3:16). Trong phân đoạn này, sự quản trị và sứ mạng đi đôi với nhau. Chúng không thể tách rời, như hai mặt của một đồng tiền. Chẳng có gì lạ khi Phao-lô tự nhận chính mình và những người đồng lao là “kẻ quản trị những sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời” (1 Cô-rinh-tô 4:1). Theo nghĩa đó, chúng ta cũng là những người quản trị.

Tuần này chúng ta sẽ thấy rằng các khái niệm về sự quản trị và sứ mạng bắt rễ sâu xa trong tấm gương của Đức Chúa Giê-su. Thật vậy, sự quản trị và sứ mạng không thể tách rời. Sự quản trị cung cấp cho Hội Thánh các nguồn lực về tài chánh và nhân sự để hoàn thành sứ mạng của Đức Chúa Trời.

Nghiên cứu bài học tuần này để chuẩn bị cho ngày Sa-bát, ngày 12 tháng 9.

Thứ Nhất Tấm gương của Đức Chúa Giê-su

Bối cảnh của 2 Cô-rinh-tô 8 và 9 liên quan đến việc Phao-lô khích lệ các tín hữu tại Cô-rinh-tô hoàn tất việc quyên góp cho các Hội Thánh nghèo khó tại xứ Giu-đê. Dường như họ đã cam kết làm điều đó (2 Cô-rinh-tô 8:10, 11; 2 Cô-rinh-tô 9:5; xem thêm 1 Cô-rinh-tô 16:1–4), nhưng những vấn đề trong mối quan hệ giữa họ và Phao-lô đã làm cho sự việc trở nên phức tạp. Sau khi giải quyết những vấn đề này (2 Cô-rinh-tô 1–7), giờ đây Phao-lô quay lại với phần kết của công tác đó (2 Cô-rinh-tô 8–9).

Trước hết, Phao-lô kêu gọi dựa trên tấm gương của người Ma-xê-đoan (2 Cô-rinh-tô 8:1–7), là những người mà sự nghèo khó cùng cực không ngăn cản họ tràn đầy “lòng rộng rãi dư dật” (2 Cô-rinh-tô 8:2). Phải, sự nghèo khó và lòng rộng rãi có thể đi đôi với nhau. Tuy nhiên, lòng rộng rãi đáng ngưỡng mộ này của người Ma-xê-đoan chỉ là sự phản chiếu lòng rộng rãi của Đức Chúa Giê-su khi Ngài ban chính mình cho chúng ta (2 Cô-rinh-tô 8:8–15).

Đọc 2 Cô-rinh-tô 8:9. Phân đoạn này nói gì với chúng ta về tấm gương của Đức Chúa Giê-su?

Lời tuyên bố của Phao-lô trong 2 Cô-rinh-tô 8:9 là một trong những phân đoạn kinh ngạc, đầy quyền năng và sâu sắc nhất trong toàn bộ Kinh Thánh. Phao-lô kể lại câu chuyện về sứ mạng của Đức Chúa Giê-su nhưng với một số từ ngữ vô cùng cô đọng. Có biết bao thần học chứa đựng trong đó. Đây là câu chuyện cứu chuộc nhưng chỉ trong một câu duy nhất.

Càng ấn tượng hơn nữa là câu chuyện này được kể bằng ngôn ngữ tài chánh. Phải, Đức Chúa Giê-su vốn giàu. Sự giàu có của Ngài chỉ về sự hiện hữu từ trước của Ngài ở trên trời (Giăng 17:5). Ngài quyết định trở nên nghèo bằng cách từ bỏ vinh hiển trên trời mà đến với thế gian đầy đau khổ này. Ngài thật sự trở nên nghèo (Lu-ca 9:58). Dầu Ngài ngang hàng với Đức Chúa Trời, nhưng Ngài “tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người” (Phi-líp 2:7). “Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự” (Phi-líp 2:8).

Đức Chúa Giê-su đã ban chính mạng sống Ngài để chúng ta có thể sống đời đời với Ngài. Sự dâng hiến của Ngài có một mục đích: sự cứu rỗi của chúng ta. Sự quản trị và sứ mạng đi đôi với nhau. 2 Cô-rinh-tô 8–9 kể câu chuyện về một của dâng cụ thể bằng tiền bạc, nhưng câu chuyện này dựa trên Đức Chúa Giê-su. Trong tuần này, chúng ta sẽ thấy các nguyên tắc thần học liên quan đến việc thực hành dâng hiến, dựa trên sự dâng hiến chính mình của Đấng Cơ-đốc.

Hãy suy gẫm về sự ra đời, đời sống, sự chết và sự sống lại của Đức Chúa Giê-su. Khi bạn nhận ra rằng tất cả những điều này đã được thực hiện vì bạn, để bạn có thể có hy vọng về điều gì đó vượt trên sự tồn tại khốn khổ ở đây, thì phản ứng của bạn phải như thế nào?

Thứ Hai Động cơ

Đọc 2 Cô-rinh-tô 8:1, 5 và 2 Cô-rinh-tô 9:7, 9, 13, 15. Sứ điệp trọng tâm của các phân đoạn này là gì?

Ngôn ngữ của sự dâng hiến tràn ngập trong 2 Cô-rinh-tô 8 và 9: “Ơn Đức Chúa Trời . . . đã ban” (2 Cô-rinh-tô 8:1); “Họ đã dâng chính mình” (2 Cô-rinh-tô 8:5); “Mỗi người nên tùy theo lòng mình đã định mà quyên ra . . . , vì Đức Chúa Trời yêu kẻ dâng của cách vui lòng” (2 Cô-rinh-tô 9:7); “Người đã ban cho kẻ nghèo” (2 Cô-rinh-tô 9:9); “Họ sẽ tôn vinh Đức Chúa Trời vì . . . lòng rộng rãi trong sự đóng góp của anh em” (2 Cô-rinh-tô 9:13); “Tạ ơn Đức Chúa Trời vì sự ban cho không xiết kể của Ngài!” (2 Cô-rinh-tô 9:15). 2 Cô-rinh-tô 8 và 9 bắt đầu và kết thúc bằng ngôn ngữ của sự dâng hiến (2 Cô-rinh-tô 8:1 và 2 Cô-rinh-tô 9:15). Chúng ta phải đọc hai chương này với ý tưởng về sự dâng hiến trong tâm trí. Hai chương này trình bày ít nhất bốn lý do chính để dâng của dâng của chúng ta.

Lòng biết ơn về ân điển của Đức Chúa Trời (2 Cô-rinh-tô 8:1; 2 Cô-rinh-tô 9:14, 15). 2 Cô-rinh-tô 8–9 bắt đầu bằng việc nhắc đến “ơn Đức Chúa Trời” (2 Cô-rinh-tô 8:1). Xa hơn một chút, Phao-lô nói: “Anh em biết ơn của Đức Chúa Jêsus Cơ-đốc chúng ta” (2 Cô-rinh-tô 8:9). Ân điển của Đức Chúa Trời và của Đấng Cơ-đốc được trình bày ở đây như là lý do hàng đầu cho việc thực hành dâng hiến. Đức Chúa Trời đã làm quá nhiều cho chúng ta bằng cách ban Đấng Cơ-đốc cho chúng ta. Bằng cách dâng của dâng để đáp lại, chúng ta nhìn nhận ân điển của Đức Chúa Trời trong đời sống mình.

Cũng như khái niệm về sự dâng hiến, từ “ân điển” (trong tiếng Hy Lạp, charis) cũng xuất hiện nhiều lần trong 2 Cô-rinh-tô 8–9. Tương tự, từ charis xuất hiện ở đầu và cuối phân đoạn này (2 Cô-rinh-tô 8:1; 2 Cô-rinh-tô 9:14, 15). Phao-lô dùng từ này với những ý nghĩa khác nhau trong phân đoạn để nhấn mạnh rằng ân điển của Đấng Cơ-đốc trong đời sống chúng ta đem lại ân điển cho người khác và đem lại sự tạ ơn.

Khao khát noi theo tấm gương của Đức Chúa Giê-su (2 Cô-rinh-tô 8:9). Đức Chúa Giê-su vốn giàu mà trở nên nghèo (hãy nhớ rằng những điều này lần lượt là biểu tượng cho sự hiện hữu đời đời từ trước của Ngài và rồi việc Ngài đến trong thân phận loài người). Chỉ có một cách duy nhất để điều đó xảy ra: Ngài đã ban cho tất cả. Còn về chúng ta, bằng cách chia sẻ của dâng của mình, chúng ta cung cấp phương tiện để người khác có thể biết đến Đấng Cơ-đốc.

Khao khát chia sẻ phước lành của Đức Chúa Trời (2 Cô-rinh-tô 9:10, 11). Chúng ta dâng cho người khác chỉ vì trước hết chúng ta đã nhận lãnh từ Đức Chúa Trời. Ngài làm cho chúng ta giàu có để chúng ta có thể rộng rãi.

Tình yêu thương chân thành (2 Cô-rinh-tô 8:8, 24). Sự dâng hiến là phép thử của tình yêu thương chân thành và thật. Đó là bằng chứng thực chất nhất cho thấy tình yêu thương ngự trị trong lòng một người. Như một câu thành ngữ tiếng Anh, đó là “đặt tiền bạc của bạn nơi miệng bạn nói” (việc làm phải đi đôi với lời nói).

Bạn rộng rãi đến mức nào? Dưới ánh sáng của thập tự giá, bạn dâng hiến bao nhiêu so với những gì bạn có thể dâng?

Thứ Ba Sự hoạch định

Đọc 2 Cô-rinh-tô 9:7. Phân đoạn này nói gì về hành động dâng hiến?

Quyết định cứu thế gian của Đức Chúa Trời đã diễn ra ngay cả trước khi thế gian sa vào tội lỗi. Việc Đấng Cơ-đốc đến để chịu chết cho chúng ta là một phần của một kế hoạch từ xưa (Khải-huyền 13:8). Đức Chúa Trời không bị bất ngờ. Ngài đã lập kế hoạch ban chính mình qua Đức Chúa Giê-su. Trong 2 Cô-rinh-tô 8 và 9, sự hoạch định là một nguyên tắc thần học thiết yếu liên quan đến hành động dâng hiến. Điều này có thể được thấy qua ít nhất hai phương diện:

Thứ nhất, sự hoạch định bao hàm một quyết định có trước. Phao-lô nói rằng “mỗi người nên tùy theo lòng mình đã định mà quyên ra” (2 Cô-rinh-tô 9:7). Từ Hy Lạp được dịch là “đã định” là động từ proaireō. Động từ này là một dạng từ ghép. Tiền tố pro nghĩa là “từ trước” hay “trước đó,” còn aireō trong bối cảnh này nghĩa là “quyết định.” Vì vậy, proaireō chỉ về một quyết định được đưa ra từ trước. Ngoài ra, bằng cách bắt đầu lời tuyên bố của mình với “mỗi người,” Phao-lô cho thấy rằng số tiền dâng sẽ không giống nhau đối với mọi người. Ý của ông đơn giản là dù người ta quyết định dâng điều gì, họ nên làm điều đó với sự cân nhắc kỹ lưỡng. Họ nên dâng những gì họ tin là số lượng phù hợp cho mình để dâng.

Thứ hai, sự hoạch định bao hàm nguyên tắc cân xứng. Phao-lô cho biết rằng người Ma-xê-đoan đã “dâng theo sức của họ” (2 Cô-rinh-tô 8:3). Tiếp theo, ông cũng áp dụng nguyên tắc cân xứng này cho người Cô-rinh-tô. Khích lệ họ hoàn thành công tác mà họ đã cam kết, ông thúc giục họ hoàn tất dự án đó bằng cách sử dụng những nguồn lực mà họ có (2 Cô-rinh-tô 8:11). Ông kết thúc dòng tư tưởng này bằng cách nói rằng của dâng được dâng “tùy theo điều mình có, chớ chẳng tùy theo điều mình không có” (2 Cô-rinh-tô 8:12). Trong khi Kinh Thánh xác định tỷ lệ của phần mười, tức là 10 phần trăm, thì điều đó không áp dụng cho các của dâng. “Mỗi người nên tùy theo lòng mình đã định mà quyên ra” (2 Cô-rinh-tô 9:7) bằng cách áp dụng nguyên tắc cân xứng. Nói cách khác, mỗi người quyết định tỷ lệ thu nhập nào mà mình sẽ dâng làm của dâng. Mỗi người được kỳ vọng dâng theo tỷ lệ với những gì mình có. Điều này không thể thực hiện được nếu không có sự hoạch định.

Bạn trung tín đến mức nào với phần mười và các của dâng, bất kể bạn giàu hay nghèo? Bạn dùng những lời bào chữa nào để giữ lại không dâng khi bạn biết rằng mình có thể làm nhiều hơn?

Thứ Tư Thái độ

Đọc 2 Cô-rinh-tô 8:1–5. Lý do nào có thể đứng đằng sau sự sẵn lòng của người Ma-xê-đoan khi họ dâng của dâng cách rộng rãi như vậy?

Thái độ tích cực của người Ma-xê-đoan có thể được thấy qua nhiều phương diện.

Thứ nhất, họ dâng với niềm vui dư dật (2 Cô-rinh-tô 8:2). Phao-lô nói rằng “sự vui mừng dư dật và sự nghèo khó cùng cực” của người Ma-xê-đoan “đã tràn ra trong lòng rộng rãi dư dật” (2 Cô-rinh-tô 8:2). Về sau, ông nhắc rằng “Đức Chúa Trời yêu kẻ dâng của cách vui lòng” (2 Cô-rinh-tô 9:7). Từ Hy Lạp được dịch là “vui lòng” chỉ xuất hiện ở đây trong Tân Ước. Một từ cùng họ xuất hiện ở nơi khác: “Ai bố thí, hãy lấy lòng vui mà bố thí” (Rô-ma 12:8). Những từ thuộc cùng họ này đôi khi xuất hiện trong văn chương ngoài Kinh Thánh, với ý nghĩa của sự vui sướng và hạnh phúc. Trong 2 Cô-rinh-tô 9:7, là kẻ dâng của cách vui lòng nghĩa là dâng mà không miễn cưỡng.

Thứ hai, họ dâng với lòng rộng rãi (2 Cô-rinh-tô 8:2). Trước khi Phao-lô nhắc đến lòng rộng rãi của người Ma-xê-đoan, ông trước hết nhắc đến “sự nghèo khó cùng cực” của họ. Từ “lòng rộng rãi” (trong tiếng Hy Lạp, haplotētos) xuất hiện thêm hai lần nữa trong 2 Cô-rinh-tô 8 và 9. Phao-lô nói: “Anh em được giàu trong mọi sự để làm đủ mọi cách bố thí” (2 Cô-rinh-tô 9:11; nhấn mạnh được thêm vào), nghĩa là chúng ta được ban cho để rồi chúng ta có thể dâng cho. Xa hơn một chút, ông nhắc đến “lòng rộng rãi trong sự đóng góp của anh em” (2 Cô-rinh-tô 9:13; nhấn mạnh được thêm vào). Trong phân đoạn này, rộng rãi trong sự đóng góp là một cách xưng nhận Tin Lành của Đấng Cơ-đốc.

Thứ ba, họ dâng “theo ý riêng của họ” (2 Cô-rinh-tô 8:3). Điều này nghĩa là họ dâng cách tự nguyện. Điều này càng trở nên đáng ngưỡng mộ hơn khi người ta thấy rằng họ không dâng từ phần dư dật của mình, vì nguồn lực của họ rất hạn hẹp. Phao-lô dùng cùng ý tưởng này để mô tả sự sẵn lòng của Tít khi đi thăm người Cô-rinh-tô. Tít đã đến Cô-rinh-tô cách tự nguyện (2 Cô-rinh-tô 8:17).

Thứ tư, họ dâng với ý thức rằng dâng hiến là một đặc ân (2 Cô-rinh-tô 8:4). Thái độ này có thể nhận thấy trong lời cầu xin của người Ma-xê-đoan được tham dự vào việc quyên góp. “Họ nài xin chúng tôi cách rất khẩn khoản để được dự vào việc giúp đỡ này” (2 Cô-rinh-tô 8:4).

Cuối cùng, họ tham gia vào việc quyên góp như một hành động dâng mình hoàn toàn (2 Cô-rinh-tô 8:5). Phao-lô nói: “Họ đã dâng chính mình họ trước cho Chúa, và sau lại cho chúng tôi, theo ý muốn Đức Chúa Trời” (2 Cô-rinh-tô 8:5). Dâng chính mình cho Chúa dẫn đến việc dâng chính mình cho người khác. Người Ma-xê-đoan đã mở rộng sự dự phần vào sứ mạng của mình vượt ra ngoài việc trợ giúp tài chánh. Nghĩa là, sự dâng hiến và lòng rộng rãi không chỉ giới hạn ở tiền bạc mà thôi.

Thứ Năm Sự hiệp một

Chúng ta đã thấy rằng Phao-lô khích lệ các tín hữu tại Cô-rinh-tô tham gia vào việc quyên góp cho các Hội Thánh nghèo khó tại xứ Giu-đê. Một trong các mục đích của ông là khơi dậy ý thức về sự hiệp một. Ông muốn họ tham dự, muốn họ trở nên một phần của sứ mạng. Ông muốn cho thấy rằng các Hội Thánh dân ngoại thuộc về cùng một gia đình của Đức Chúa Trời như các tín hữu Do Thái tại Giê-ru-sa-lem. Nghĩa là, những người này, là những kẻ trước đây từng là đối thủ của họ, giờ đây thật sự trở nên những thành viên đồng hành với họ trong số dân sót thuộc giao ước mới của Đức Chúa Trời. Phao-lô muốn thấy cả gia đình Cơ-đốc, người Do Thái lẫn dân ngoại, hiệp một theo một cách đầy quyền năng có thể làm chứng cho Hội Thánh trong các thế hệ mai sau.

Tít và hai người anh em được ngợi khen khác chịu trách nhiệm về số tiền quyên góp. Đức Chúa Trời đã đặt sự quan tâm này đối với Hội Thánh vào lòng của Tít (2 Cô-rinh-tô 8:16). Qua các Hội Thánh, Đức Chúa Trời cũng đã chọn hai người anh em kia (2 Cô-rinh-tô 8:18–23). Họ được gọi là “sứ giả của các Hội Thánh, và là sự vinh hiển của Đấng Cơ-đốc” (2 Cô-rinh-tô 8:23). Dù “sự vinh hiển của Đấng Cơ-đốc” mô tả hai người anh em trung tín này hay mô tả chính các Hội Thánh thì cũng không quan trọng. Việc dâng của dâng rốt cuộc là một dấu hiệu của lòng trung thành đối với Đấng Cơ-đốc, là Đầu của Hội Thánh (Ê-phê-sô 4:15).

2 Cô-rinh-tô 8–9 cho thấy rằng các của dâng nên được trao cho những người được Đức Chúa Trời chỉ định qua Hội Thánh. Các cụm từ “hết thảy các Hội Thánh” (2 Cô-rinh-tô 8:18), “các Hội Thánh đã chọn” (2 Cô-rinh-tô 8:19), và “sứ giả của các Hội Thánh” (2 Cô-rinh-tô 8:23) cho thấy chính xác điều đó. Vì vậy, lời khích lệ sau đây không có gì đáng ngạc nhiên: “Hãy tỏ chứng cớ về sự yêu thương của anh em ra trước mặt các Hội Thánh” (2 Cô-rinh-tô 8:24).

Việc đem của dâng đến cho Hội Thánh—khí cụ được Đức Chúa Trời chỉ định trên đất—thúc đẩy sự hiệp một và đồng thời cũng là kết quả của ý thức về sự hiệp một (2 Cô-rinh-tô 8:13, 14). Tiền bạc có thể là một yếu tố gắn kết tuyệt vời. Mặt khác, nếu mắt của con người không chuyên nhất hướng về sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, thì tiền bạc cũng có thể tạo ra sự chia rẽ.

Rô-ma 15:26, 27 bày tỏ thế nào lòng khao khát của Phao-lô về sự hiệp một ở đây?

Cuối cùng, Phao-lô mô tả việc quyên góp như là sự phục vụ hay chức vụ, như một hành động của ân điển, như một phước lành, như một hành động thờ phượng, và cũng như sự thông công. Tất cả những điều đó từ một của dâng? Hãy suy nghĩ về điều đó.

Việc chúng ta dâng hiến cho các Hội Thánh bạn và các sứ mạng ở hải ngoại, thường ở những nơi xa xôi, giúp đem lại sự hiệp một cho Hội Thánh hoàn vũ của chúng ta như thế nào?

Thứ Sáu Suy gẫm thêm

Đọc Ellen G. White, “A Liberal Church” (Một Hội Thánh Rộng Rãi), tr. 335–345, trong Công Vụ Các Sứ Đồ.

“Những ai có lòng tràn đầy tình yêu thương của Đấng Cơ-đốc sẽ noi theo tấm gương của Đấng vì cớ chúng ta đã trở nên nghèo, để bởi sự nghèo của Ngài, chúng ta được trở nên giàu. Tiền bạc, thời gian, ảnh hưởng—tất cả các ân tứ họ đã nhận lãnh từ tay Đức Chúa Trời, họ sẽ chỉ xem trọng như một phương tiện để đẩy mạnh công việc của Tin Lành. Trong Hội Thánh thời ban đầu, sự việc đã diễn ra như vậy; và khi trong Hội Thánh ngày nay người ta thấy rằng bởi quyền năng của Đức Thánh Linh, các tín hữu đã rút lòng yêu mến của mình khỏi những điều thuộc về thế gian, và họ sẵn lòng hy sinh để đồng loại mình có thể nghe Tin Lành, thì các lẽ thật được rao truyền sẽ có ảnh hưởng đầy quyền năng trên những người nghe."—Ellen G. White, Công Vụ Các Sứ Đồ, tr. 71.

“Đức Chúa Trời không cần các của dâng của chúng ta. Chúng ta không thể làm cho Ngài giàu thêm bằng các lễ vật của mình. Tác giả Thi-thiên nói: ‘Mọi vật đều do Chúa mà đến, chúng tôi lấy của Chúa mà dâng cho Chúa.’ Tuy nhiên, Đức Chúa Trời cho phép chúng ta bày tỏ lòng cảm kích đối với những ơn thương xót của Ngài bằng những nỗ lực hy sinh để mở rộng các ơn ấy đến cho người khác. Đây là cách duy nhất chúng ta có thể bày tỏ lòng biết ơn và tình yêu thương của mình đối với Đức Chúa Trời. Ngài không cung cấp một cách nào khác."—Ellen G. White, Counsels on Stewardship, tr. 18, 19.

“Sự ban cho của Đức Chúa Trời cho loài người lớn lao biết bao, và rất giống với Đức Chúa Trời của chúng ta khi Ngài thực hiện điều đó! Với một lòng rộng rãi không bao giờ có thể vượt qua được, Ngài đã ban, để Ngài có thể cứu các con cái phản nghịch của loài người và đem họ đến chỗ nhìn thấy mục đích của Ngài và nhận biết tình yêu thương của Ngài. Liệu bạn, qua các lễ vật và của dâng của mình, có bày tỏ rằng bạn nghĩ không có gì là quá tốt đối với Đấng đã ‘ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời’ chăng?"—Ellen G. White, trong The Advent Review and Sabbath Herald, ngày 15 tháng 5 năm 1900.

Câu hỏi thảo luận:

Hãy suy gẫm thêm về 2 Cô-rinh-tô 8:9. Tại sao tấm gương của Đức Chúa Giê-su lại quan trọng đến vậy khi nói đến sự quản trị?

Giăng 3:16 gợi ý rằng ngôn ngữ của thiên đàng là ngôn ngữ của sự dâng hiến. Đọc Giăng 15:13; Ê-phê-sô 5:2, 25; Ga-la-ti 2:19, 20; và 1 Giăng 3:16. Các phân đoạn này cùng với Giăng 3:16 có điểm gì chung, và chúng ta có thể rút ra sứ điệp nào từ đó?

Dựa trên những gì bạn đã đọc trong 2 Cô-rinh-tô 8–9, những ích lợi cá nhân của việc dâng hiến là gì?

Ngoài việc dâng các của dâng cách có hệ thống, bạn còn có thể làm những điều gì khác để noi theo tấm gương hy sinh chính mình của Đức Chúa Giê-su?