Bài Học 10 · 29 Tháng 8 – 4 Tháng 9

Chức vụ Cơ-đốc chân chính

Kinh Thánh Nghiên Cứu: 2 Cô-rinh-tô 3:1–9; 2 Cô-rinh-tô 4:7–18; 2 Cô-rinh-tô 5:11–15; Cô-lô-se 1:19–23; Ê-phê-sô 2:13–16; 2 Cô-rinh-tô 6:11–7:1; 2 Cô-rinh-tô 7

"Chúng tôi bị ép đủ cách, nhưng không đến cùng; bị túng thế, nhưng không ngã lòng; bị bắt bớ, nhưng không đến bỏ; bị đánh đập, nhưng không đến chết mất; chúng tôi thường mang sự chết của Đức Chúa Jêsus trong thân thể mình, hầu cho sự sống của Đức Chúa Jêsus cũng tỏ ra trong thân thể chúng tôi" — 2 Cô-rinh-tô 4:8–10
Sa-bát Chức vụ Cơ-đốc chân chính

Câu gốc

"Chúng tôi bị ép đủ cách, nhưng không đến cùng; bị túng thế, nhưng không ngã lòng; bị bắt bớ, nhưng không đến bỏ; bị đánh đập, nhưng không đến chết mất; chúng tôi thường mang sự chết của Đức Chúa Jêsus trong thân thể mình, hầu cho sự sống của Đức Chúa Jêsus cũng tỏ ra trong thân thể chúng tôi" (2 Cô-rinh-tô 4:8–10).

Kinh Thánh nghiên cứu

2 Cô-rinh-tô 3:1–9; 2 Cô-rinh-tô 4:7–18; 2 Cô-rinh-tô 5:11–15; Cô-lô-se 1:19–23; Ê-phê-sô 2:13–16; 2 Cô-rinh-tô 6:11–7:1; 2 Cô-rinh-tô 7.

Tuần qua, chúng ta đã thấy rằng Phao-lô, qua việc khẳng định lòng chất phác và sự chân thành của mình, đã tự bênh vực trước những lời cáo buộc về sự thay đổi không kiên định và thiếu tình yêu thương đối với người Cô-rinh-tô. Ông luôn làm việc vì lợi ích tốt nhất của những con cái thuộc linh của mình. Ông bắt đầu một dòng tư tưởng trong 2 Cô-rinh-tô 2:12–17 và kéo dài đến 2 Cô-rinh-tô 7. Trong khi làm như vậy, ông suy ngẫm về một chức vụ chân chính cho Đấng Cơ-đốc trông như thế nào. Chúng ta có thể rút ra rất nhiều bài học từ những suy nghĩ của Phao-lô về phương diện đó.

Tuần này, chúng ta sẽ tìm hiểu 2 Cô-rinh-tô 3–7, nơi Phao-lô nói về chức vụ chinh phục linh hồn cho Đấng Cơ-đốc của mình. Ellen G. White nói: “Sự ăn năn trở lại của tội nhân và sự nên thánh của họ qua lẽ thật là bằng chứng mạnh mẽ nhất mà một mục sư có thể có rằng Đức Chúa Trời đã kêu gọi người vào chức vụ. Bằng chứng về chức sứ đồ của người được ghi khắc trên lòng của những người được hoán cải, và được chứng thực bởi đời sống đổi mới của họ. Đấng Cơ-đốc được hình thành bên trong, là sự trông cậy về vinh hiển. Một mục sư được củng cố rất nhiều bởi những dấu ấn này của chức vụ mình."—Công Vụ Các Sứ Đồ, tr. 328.

*Nghiên cứu bài học tuần này để chuẩn bị cho ngày Sa-bát, ngày 5 tháng 9.

Thứ Nhất Bông trái của một chức vụ chân chính

Đọc 2 Cô-rinh-tô 3:1–9. Theo nghĩa nào chúng ta có thể là một bức thư của Đấng Cơ-đốc?

Thư giới thiệu là điều phổ biến trong thế giới Hy-La. Tuy nhiên, Phao-lô không mang theo những bức thư như vậy. Quyền năng biến đổi của Đức Thánh Linh trong đời sống của người Cô-rinh-tô chính là bằng chứng cho chức vụ chân chính của ông. Tuy vậy, Phao-lô chắc chắn rằng không phải nhờ trí thông minh hay những nỗ lực của ông mà Hội Thánh tại Cô-rinh-tô được thành lập (2 Cô-rinh-tô 3:4–6). Ông không hề tự đề cao bản thân (2 Cô-rinh-tô 3:5; 1 Cô-rinh-tô 2:2).

Phao-lô nói về chức vụ của mình bằng cách bàn luận vắn tắt về hai giao ước: giao ước cũ được đại diện bởi Môi-se và giao ước mới được đại diện bởi Phao-lô cùng các bạn đồng lao của ông. Một người đọc vội vàng có thể nghĩ rằng giao ước cũ không đem lại hy vọng về sự cứu rỗi, nhưng điều này không đúng. Sự cứu rỗi đã có sẵn trong giao ước cũ cũng như trong giao ước mới. Giao ước cũ là Tin Lành được rao báo trước. “Kinh-thánh cũng biết trước rằng Đức Chúa Trời sẽ xưng dân ngoại là công-bình bởi đức-tin, nên đã rao-truyền trước cho Áp-ra-ham tin-lành nầy: Các dân sẽ nhờ ngươi mà được phước” (Ga-la-ti 3:8).

Trong 2 Cô-rinh-tô 3:1–4:6, chúng ta có thể thấy rằng giao ước cũ được dùng để tượng trưng cho kinh nghiệm theo chủ nghĩa luật pháp của những người trông cậy vào các việc vâng giữ của riêng mình như là phương tiện để làm đẹp lòng Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, giao ước mới đại diện cho kinh nghiệm của những người hoàn toàn nương cậy vào ân điển của Đức Chúa Trời để làm tất cả những gì Đức Chúa Trời đã hứa làm cho họ và trong họ.

Phao-lô đang nói về hai sự đáp ứng khác nhau, của người tin và người không tin, đối với Tin Lành. Ông không nói về những Tin Lành khác nhau, một cái trong Cựu Ước và một cái khác trong Tân Ước—vì chỉ có một Tin Lành duy nhất, được Đức Chúa Trời ban cho, “là Đấng đã cứu chúng ta, đã gọi chúng ta bởi sự kêu-gọi thánh, chẳng phải theo việc-làm chúng ta, bèn theo ý-riêng Ngài chỉ-định, theo ân-điển đã ban cho chúng ta trong Đức Chúa Jêsus-Cơ-đốc từ trước muôn đời vô-cùng” (2 Ti-mô-thê 1:9).

“Điều này không phủ nhận rằng 2 Cô-rinh-tô 2:14–4:6 có chứa một số yếu tố lịch sử."—Skip MacCarty, In Granite or Ingrained?: What the Old and New Covenants Reveal about the Gospel, the Law, and the Sabbath (Berrien Springs, MI: Andrews University Press, 2007), tr. 120. Nhưng Phao-lô đang dùng lịch sử đó để nêu ra luận điểm rằng một số người trong vòng họ “đang được cứu” và một số “đang bị hư mất” (2 Cô-rinh-tô 2:15). Vì sự phản ứng, tức là sự chẳng tin và thiếu đức tin đối với chức vụ của Môi-se, chức vụ của ông có thể được xem là chức vụ định tội và sự chết. Vì Hội Thánh tại Cô-rinh-tô đã tin, nên chức vụ của Phao-lô giữa vòng họ tỏ ra là chức vụ của sự công bình, chức vụ của Đức Thánh Linh, Đấng ban sự sống.

Kinh nghiệm cứu rỗi này của Hội Thánh tại Cô-rinh-tô chính là bằng chứng cho chức vụ chân chính của Phao-lô.

Thứ Hai Sự đau khổ và vinh hiển

Đọc 2 Cô-rinh-tô 4:7–18. Hãy liệt kê những đau khổ của Phao-lô. Ông đã chịu đựng những đau khổ ấy như thế nào?

John Huss, nhà cải chánh vĩ đại của xứ Bohemia xưa, có lần đã nói về Đức Chúa Giê-su: “Ngài là Chủ của thế gian, còn chúng ta là những kẻ phàm hèn—vậy mà Ngài đã chịu khổ! Vậy thì tại sao chúng ta lại không chịu khổ, nhất là khi sự đau khổ đối với chúng ta là một sự thanh tẩy?"—Ellen G. White, Thiện Ác Đấu Tranh, tr. 105.

Sứ đồ Phao-lô đã bày tỏ nhiều thế kỷ trước đó cùng một sự sẵn lòng chịu khổ vì Đấng Cơ-đốc. Ông biết rằng mình chẳng qua chỉ là một cái bình mỏng manh bằng đất (2 Cô-rinh-tô 4:7). Ông thường xuyên cảm thấy bị ép đủ cách, túng thế, bị bắt bớ và bị đánh đập, vậy mà ông không đến cùng, không ngã lòng, không bị bỏ rơi hay bị tiêu diệt (2 Cô-rinh-tô 4:8, 9). Ông sẵn lòng mang “sự chết của Đức Chúa Jêsus trong thân thể mình, hầu cho sự sống của Đức Chúa Jêsus” được tỏ ra trong ông (2 Cô-rinh-tô 4:10, 11).

Bằng cụm từ “sự chết của Đức Chúa Jêsus,” Phao-lô có lẽ muốn nói đến những đau khổ mà ông đã đề cập trong các câu trước. Ngược lại, theo nghĩa trực tiếp, cụm từ “sự sống của Đức Chúa Jêsus” có thể chỉ về sự giải cứu khỏi sự chết hoặc quyền năng thuộc linh cho đời sống hiện tại. Nhưng, cuối cùng, đây là một sự nói đến sự sống lại (2 Cô-rinh-tô 4:12).

Điều thú vị là cụm từ “sự chết và sự sống” xuất hiện ba lần trong 2 Cô-rinh-tô 4:10–12. Đây là một lời nhắc nhở rằng, trong thời đại hiện tại, sự sống hòa lẫn với sự chết. Tuy nhiên, trong vinh hiển tương lai, chúng ta sẽ trải nghiệm sự sống mà không có sự chết (Khải-huyền 20:14; Khải-huyền 21:4).

Quan trọng nhất, 2 Cô-rinh-tô 4:7–18 cho thấy rằng Tin Lành được rao giảng qua những con người mong manh để vinh hiển chỉ thuộc về một mình Đức Chúa Trời (2 Cô-rinh-tô 4:15). Không hiếm khi các giáo sĩ chịu đau khổ trong quá trình công tác truyền giáo của họ. Tuy nhiên, sự hoạn nạn của chúng ta ở đây là nhẹ và tạm thời khi so với sức nặng vinh hiển đời đời đang chờ đợi chúng ta (2 Cô-rinh-tô 4:17). Người tin Chúa bước đi bởi đức tin, chứ không bởi mắt thấy (2 Cô-rinh-tô 4:18; 2 Cô-rinh-tô 5:7).

Niềm hy vọng về đời sống tương lai này đã chiếm hữu tâm trí của Phao-lô đến mức ông tiếp tục nói về nó trong mạch của phân đoạn (2 Cô-rinh-tô 5:1–10). Ông nói đến thân thể hay chết của mình bằng phép ẩn dụ về một ngôi nhà thuộc đất. Ngược lại, “nhà bởi Đức Chúa Trời” là phép ẩn dụ về thân thể được sống lại (2 Cô-rinh-tô 5:1), niềm hy vọng lớn lao cho người tin Chúa qua mọi thời đại.

Tại sao điều quan trọng là, giữa bất cứ điều gì chúng ta đang trải qua hiện nay, chúng ta luôn giữ trước mắt niềm hy vọng về sự sống lại, sự sống lại của chính chúng ta (1 Cô-rinh-tô 15:52)?

Thứ Ba Chức vụ hòa giải tập trung vào Đấng Cơ-đốc

Đọc 2 Cô-rinh-tô 5:11–15. Phân đoạn này chứng tỏ rằng chức vụ của Phao-lô tập trung vào Đấng Cơ-đốc như thế nào?

Phao-lô biết rằng ông phải khai trình về chức vụ của mình cho Đấng Cơ-đốc (2 Cô-rinh-tô 5:10). Ông biết “sự kính sợ Chúa” và tìm cách thuyết phục người ta về Tin Lành của Đấng Cơ-đốc (2 Cô-rinh-tô 5:11). Sự kính sợ này là lòng tôn kính và sợ hãi đối với Đấng Cơ-đốc, và do đó, nó được kết hợp với tình yêu thương của Phao-lô dành cho Đấng Cơ-đốc cùng sự tin cậy nơi tình yêu thương của Đấng Cơ-đốc đối với ông. Trong Cựu Ước, kính sợ Chúa có nghĩa là bước đi trong các đường lối của Ngài, yêu mến Ngài, và hết lòng hết linh hồn phục vụ Ngài (Phục-truyền Luật-lệ Ký 10:12).

Chức vụ của Phao-lô không tập trung vào bản thân mà tập trung vào Đấng Cơ-đốc. Ông không tự đề cao mình. Lý do ông khoe mình là Đấng Cơ-đốc (2 Cô-rinh-tô 12:9). Ông nói: “Còn như tôi, tôi hẳn chẳng khoe mình, trừ ra khoe về thập-tự-giá của Đức Chúa Jêsus-Cơ-đốc chúng ta” (Ga-la-ti 6:14). Vì vậy, cơ hội để người Cô-rinh-tô khoe về ông (2 Cô-rinh-tô 5:12) có nghĩa là họ tự hào về chức vụ tập trung vào Đấng Cơ-đốc của ông, trái ngược với chức vụ tập trung vào bản thân của các kẻ chống đối ông.

Đọc 2 Cô-rinh-tô 5:16–21, Cô-lô-se 1:19–23 và Ê-phê-sô 2:13–16. Phao-lô muốn nói gì qua cụm từ "chức vụ hòa giải"?

Đấng Cơ-đốc là Đấng phục vụ sự hòa giải tuyệt vời nhất. Như vậy, Ngài “đã giao chức-vụ giảng-hòa cho chúng tôi” (2 Cô-rinh-tô 5:18). Ý tưởng về sự hòa giải xuất hiện lặp đi lặp lại xuyên suốt 2 Cô-rinh-tô 5:16–21. Đây là một khái niệm thiết yếu đối với Phao-lô, và vì thế nó cũng phải như vậy đối với chúng ta.

Đức Chúa Trời đã hòa giải nhân loại với chính Ngài qua sự chết chuộc tội của Con Ngài. Những người được hòa giải với Đức Chúa Trời là một tạo vật mới (2 Cô-rinh-tô 5:17). Bây giờ, họ phải truyền “đạo giảng-hòa” này đi xa hơn bằng cách rao truyền Tin Lành của Đấng Cơ-đốc (2 Cô-rinh-tô 5:19). Theo nghĩa này, “chúng tôi làm chức khâm-sai của Đấng Cơ-đốc, cũng như Đức Chúa Trời bởi chúng tôi mà khuyên-bảo” (2 Cô-rinh-tô 5:20).

Hãy suy nghĩ về những gì Đấng Cơ-đốc đã làm cho bạn. Hãy suy nghĩ về tội lỗi, mặc cảm tội lỗi, và sự định tội đáng lẽ thuộc về bạn nếu không nhờ điều Ngài đã làm cho bạn tại thập tự giá. Thực tế này nên tác động như thế nào đến cách bạn đối xử với người khác, đặc biệt là những người chưa biết Chúa?

Thứ Tư Lời kêu gọi nên thánh

Trong 2 Cô-rinh-tô 6:3–10, Phao-lô tiếp tục khuyến giục người Cô-rinh-tô hãy hòa giải với Đức Chúa Trời. Ông trình bày một danh sách dài về những gian khổ và những chiến thắng để cho thấy điều gì có nghĩa là một môn đồ của Đấng Cơ-đốc và một người phục vụ Đức Chúa Trời. Nói tóm lại, ông liệt kê những hoàn cảnh khó khăn (2 Cô-rinh-tô 6:4, 5), những đức tính của phẩm hạnh (2 Cô-rinh-tô 6:6), những trang bị cho chức vụ (2 Cô-rinh-tô 6:7), và những thăng trầm của chức vụ (2 Cô-rinh-tô 6:8–10). Sau khi chỉ dạy các tín hữu tại Cô-rinh-tô hãy hòa giải với Đức Chúa Trời, Phao-lô kêu gọi họ sống một đời sống thánh khiết, và làm như vậy bằng cách tách mình ra khỏi ảnh hưởng tai hại của những kẻ chẳng tin và khỏi những điều ô uế (2 Cô-rinh-tô 6:14–17).

Đọc 2 Cô-rinh-tô 6:11–7:1. Theo phân đoạn này, một đời sống thánh khiết trông như thế nào?

Phao-lô nhấn mạnh trong phân đoạn này tầm quan trọng của lòng trìu mến và tình yêu thương trong Hội Thánh (2 Cô-rinh-tô 6:11–13). Bằng chứng cho thấy người ta đã được hòa giải với Đức Chúa Trời là họ tìm kiếm sự hòa giải với nhau. Thật vậy, họ trở thành, như có thể nói, những tác nhân của sự hòa giải theo chiều ngang.

Tiếp theo, lời kêu gọi nên thánh được đưa ra bằng sáu lời khuyên răn, đó là: (1) “Chớ mang ách chung với kẻ chẳng tin” (2 Cô-rinh-tô 6:14); (2) “‘Hãy ra khỏi giữa chúng nó’” (2 Cô-rinh-tô 6:17); (3) “‘Hãy phân-rẽ ra’” (2 Cô-rinh-tô 6:17); (4) “‘Chớ đá-động đến đồ ô-uế’” (2 Cô-rinh-tô 6:17); (5) “Hãy làm cho mình sạch khỏi mọi sự dơ-bẩn phần xác-thịt và phần thần-linh” (2 Cô-rinh-tô 7:1); (6) “Làm cho trọn việc nên thánh trong sự kính-sợ Đức Chúa Trời” (2 Cô-rinh-tô 7:1; phần nhấn mạnh được thêm vào). Những lời khích lệ này cho thấy rằng một Đức Chúa Trời thánh khiết đòi hỏi một đời sống thánh khiết và sự tách biệt khỏi sự thờ hình tượng.

Mặt khác, phân đoạn này cũng đưa ra bảy lời hứa làm nổi bật vai trò của Hội Thánh Cơ-đốc như một đền thờ thánh: (1) “‘Ta sẽ ở và đi lại giữa họ’”; (2) “’[Ta sẽ] đi lại giữa họ’”; (3) “‘Ta sẽ làm Đức Chúa Trời của họ’”; (4) “‘Họ làm dân ta’”; (5) “‘Ta sẽ tiếp-nhận các ngươi’”; (6) “‘Ta sẽ làm Cha các ngươi’”; (7) “‘Các ngươi làm con trai con gái ta’” (2 Cô-rinh-tô 6:16, 17, 18).

Hãy lưu ý rằng bốn lời hứa trong 2 Cô-rinh-tô 6:16 là nền tảng cho ba mệnh lệnh trong 2 Cô-rinh-tô 6:17 (xem chữ “vậy nên” ở đầu 2 Cô-rinh-tô 6:17). Điều này chứng tỏ rằng sự nên thánh không phải là kết quả của những nỗ lực của con người mà là công việc của Đức Thánh Linh trong lòng. Mặc dù sự nên thánh đến từ Đức Chúa Trời, người tin Chúa phải làm phần của mình và chối bỏ sự thờ hình tượng cùng mọi thực hành ô uế.

Những lời hứa của Đức Chúa Trời trong 2 Cô-rinh-tô 6:16–18 nói cho chúng ta điều gì về sự nên thánh là gì?

Thứ Năm Sự an ủi và niềm vui mừng

Đọc 2 Cô-rinh-tô 7. Cảm xúc của Phao-lô như thế nào khi nghe tin người Cô-rinh-tô đã ăn năn?

Biết bao tình yêu thương tuôn tràn từ những lời “anh em ở trong lòng chúng tôi” (2 Cô-rinh-tô 7:3; xem thêm 2 Cô-rinh-tô 6:11). Trong lòng khao khát sâu xa muốn tình yêu thương của mình được đáp lại, Phao-lô cũng nói: “Hãy mở lòng anh em cho chúng tôi” (2 Cô-rinh-tô 7:2). Mặc dù cụm từ “trong lòng anh em” không có trong văn bản tiếng Hy Lạp, hầu hết các bản dịch tiếng Anh đều thêm vào, điều này là đúng vì văn mạch hỗ trợ cho nó.

Thật vậy, người Cô-rinh-tô đã mở lòng cho Phao-lô và các bạn đồng lao của ông. Đây là lý do câu 4 là một sự bộc phát của niềm vui mừng. Những lời của Phao-lô bày tỏ những cảm xúc tích cực biết bao của ông vào lúc này: “Tôi nói với anh em cách bạo-dạn; tôi lấy anh em làm vinh-hiển. Tôi được đầy sự yên-ủi, tôi được vui-mừng quá bội ở giữa mọi sự khó-khăn” (2 Cô-rinh-tô 7:4). Phao-lô được đầy dẫy sự an ủi và niềm vui mừng. Các Hội Thánh của chúng ta có thể đem lại biết bao sự an ủi và niềm vui mừng cho tấm lòng của những người phục vụ chúng khi trung tín dâng mình cho Đấng Cơ-đốc.

Trong 2 Cô-rinh-tô 7:5–16, Phao-lô giải thích thêm về lý do của sự an ủi và niềm vui mừng của ông. Hai khái niệm này chiếm ưu thế trong cả phân đoạn. Động từ parakaleō (“an ủi”) hoặc danh từ paraklēsis (“sự an ủi”) xuất hiện cùng nhau tổng cộng bảy lần trong 2 Cô-rinh-tô 7. Phần này của bức thư kết thúc giống như cách nó bắt đầu, đó là với nhiều sự an ủi trong Đức Chúa Trời (2 Cô-rinh-tô 1:3–7). Sự an ủi của Phao-lô trong 2 Cô-rinh-tô 7 đến từ sự khuây khỏa mà ông đã trải nghiệm vì bức thư nghiêm khắc đã đem lại tác dụng mà ông mong muốn.

Mặc dù sự khuây khỏa này là kết quả của báo cáo tích cực của Tít, nhưng cuối cùng, Đức Chúa Trời là tác nhân của sự an ủi mà Phao-lô đã trải nghiệm (2 Cô-rinh-tô 7:6). Đức Chúa Trời thật là “Đức Chúa Trời ban mọi sự yên-ủi, Ngài yên-ủi chúng tôi trong mọi sự khốn-nạn” (2 Cô-rinh-tô 1:3, 4).

Điều thú vị là, trong khi Phao-lô “được đầy sự yên-ủi,” ông cũng “được vui-mừng quá bội” (2 Cô-rinh-tô 7:4, 7, 13). Mặc dù bức thư đau lòng của ông đã gây ra nhiều buồn rầu, nhưng đó là một sự buồn rầu theo ý muốn của Đức Chúa Trời với mục đích dẫn đến sự ăn năn (2 Cô-rinh-tô 7:9–11). Người Cô-rinh-tô đã “buồn-rầu theo ý Đức Chúa Trời” (2 Cô-rinh-tô 7:11), một sự buồn rầu sinh ra “sự ăn-năn để được rỗi linh-hồn” (2 Cô-rinh-tô 7:10). Còn điều gì khác có thể đem lại nhiều niềm vui hơn cho tấm lòng của một người phục vụ chân chính của Đức Chúa Trời?

Bạn có bao giờ trải qua sự buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời trong đời sống mình chưa? Làm sao bạn biết rằng đó là sự buồn rầu theo ý muốn của Đức Chúa Trời để dẫn bạn đến sự ăn năn?

Thứ Sáu Suy gẫm thêm

Đọc Ellen G. White, “The Message Heeded,” tr. 323–334, trong Công Vụ Các Sứ Đồ.

Tuần qua, chúng ta đã đọc phân đoạn được trích dẫn ở trên trong Công Vụ Các Sứ Đồ. Thật đáng để đọc lại nó. Lần này, hãy dừng lại lâu hơn một chút ở những phần nói về bức thư nghiêm khắc của Phao-lô, những cảm xúc của ông khi viết nó, và niềm vui mừng của ông khi nhận được tin tốt lành về sự ăn năn chân thành của những người nhận thư. Sau đó, hãy suy ngẫm về điều này nói cho chúng ta biết gì về tính chân chính của chức vụ Phao-lô và những bài học nào chúng ta có thể áp dụng vào công việc cho Đấng Cơ-đốc của mình.

“Chúng ta phải bày tỏ cho cả vũ trụ, cho thế giới đã sa ngã và cho các thế giới chưa sa ngã, rằng có sự tha thứ nơi Đức Chúa Trời, rằng qua tình yêu thương của Đức Chúa Trời chúng ta có thể được hòa giải với Đức Chúa Trời. Con người ăn năn, có lòng thống hối, tin cậy nơi Đấng Cơ-đốc là sinh tế chuộc tội cho mình, và nhận biết rằng Đức Chúa Trời đã hòa giải với mình."—Ellen G. White, Special Testimonies On Education, tr. 223.

“Là một Hội Thánh, chúng ta đã nhận được ánh sáng lớn lao. Ánh sáng này Chúa đã giao phó cho chúng ta vì lợi ích và phước hạnh của thế giới. Chức vụ hòa giải đã được ban cho chúng ta. Với quyền năng từ trên cao, chúng ta phải nài xin người ta hãy hòa giải với Đức Chúa Trời."—White, Letter 32, 1903.

Một khi đã được hòa giải với Đức Chúa Trời, người ta phải tìm kiếm sự nên thánh. Khi bình luận về 2 Cô-rinh-tô 7:1, Ellen G. White gợi ý về điều Phao-lô muốn nói qua cụm từ “làm cho trọn việc nên thánh trong sự kính sợ Đức Chúa Trời” (2 Cô-rinh-tô 7:1). Bà nói Phao-lô tìm cách giúp những người mới tin “trở nên những Cơ-đốc nhân tự lập, tăng trưởng, mạnh mẽ trong đức tin, sốt sắng trong lòng nhiệt thành, và toàn tâm trong sự dâng mình cho Đức Chúa Trời và cho công việc mở mang nước Ngài."—Công Vụ Các Sứ Đồ, tr. 201.

Câu hỏi thảo luận:

Phao-lô gọi chúng ta là "đồ bằng đất" chứa đựng kho tàng Tin Lành (2 Cô-rinh-tô 4:7). Làm thế nào sự thật rằng tình trạng con người là yếu đuối, mong manh và đầy giới hạn lại có thể tăng cường thay vì làm suy yếu sự rao truyền Tin Lành?

Trở nên một "tạo vật mới" (2 Cô-rinh-tô 5:17) có nghĩa là gì? Điều này ảnh hưởng đến đời sống hằng ngày của chúng ta như thế nào? Đấng Cơ-đốc đã làm cho bạn trở nên một con người mới như thế nào?

Trong 2 Cô-rinh-tô 6:4, 5, Phao-lô đưa ra một danh sách dài về những gian khổ vì cớ Tin Lành. Ông đã đáp ứng với những đau khổ của mình như thế nào (xem 2 Cô-rinh-tô 6:6, 7)? Điều này giúp bạn đáp ứng với những đau khổ của mình ra sao?

Phao-lô đối chiếu sự buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời với sự buồn rầu theo thế gian (2 Cô-rinh-tô 7:10). Sự buồn rầu có thể liên hệ với sự ăn năn theo cách nào? Bạn sẽ mô tả sự buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời trái ngược với sự buồn rầu theo thế gian như thế nào?