Sự hòa giải và niềm hy vọng
Sa-bát - "Sự hòa giải và niềm hy vọng"
Câu gốc
"Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng vốn chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta, hầu cho chúng ta nhờ Đấng đó mà được trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời" (2 Cô-rinh-tô 5:21).
Kinh Thánh nghiên cứu
Cô-lô-se 1:21–29; Ê-phê-sô 5:27; Ê-phê-sô 3:17; Rô-ma 8:18; Ê-phê-sô 1:7–10; Ê-phê-sô 3:3–6; Châm-ngôn 14:12.
Phao-lô tiếp tục chủ đề hòa giải, vốn đã được nêu bật cách rõ ràng trong Cô-lô-se 1:20 (xem Bài học 8, Thứ Năm). Tại đó, ông mô tả sự hòa giải có quy mô vũ trụ, còn phần tiếp theo thì trở nên cá nhân và cụ thể hơn. Qua sự chết của Ngài trên thập tự giá, Đức Chúa Giê-su đã thực hiện sự hòa giải cho mọi người và mọi vật, đặc biệt là loài người, những kẻ đã bị xa cách khỏi sự sống của Đức Chúa Trời bởi tội lỗi, nhưng giờ đây, nhờ Đức Chúa Giê-su, đã được hòa giải bởi đức tin nơi Ngài.
Quá trình hòa giải cá nhân được giải bày trong phân đoạn của tuần này. Cũng như ở cấp độ vũ trụ, sự hòa giải cá nhân xảy ra qua sự chết của Đấng Cơ-đốc. Ở cấp độ này, thập tự giá không chỉ là một biểu tượng thụ động, mà là một thực tại sống động, tình yêu của Đức Chúa Trời hành động và biến đổi con người khi họ nghe Phúc Âm và tiếp nhận chính Đấng Cơ-đốc, là niềm hy vọng của vinh quang.
Phao-lô cũng nói về “sự mầu nhiệm đã giấu từ muôn đời và các thế hệ trước” (Cô-lô-se 1:26). Vậy sự mầu nhiệm này là gì, và nó bao hàm điều gì, đối với cá nhân và đối với cả vũ trụ? Sự “mầu nhiệm” này liên hệ thế nào với Phúc Âm mà Phao-lô đã rao giảng cách đầy nhiệt huyết?
*Nghiên cứu bài học trong tuần này để chuẩn bị cho ngày Sa-bát, ngày 28 tháng 2.
Thứ Nhất - "Được Hòa Giải Khỏi Những Việc Ác"
Đọc Cô-lô-se 1:21,22. Phao-lô ám chỉ điều gì khi nói đến sự xa lạ và trở nên thù nghịch? Và kết quả cuối cùng được kỳ vọng từ sự chết của Đấng Cơ-đốc là gì (xem thêm Ê-phê-sô 5:27)?
Phao-lô vẽ ra một bức tranh ảm đạm về nhân loại—ít nhất là nhân loại khi không có sự công bình của Đấng Cơ-đốc. Và ai, sau gần hai nghìn năm, có thể phủ nhận quan điểm đó? Có người từng nói rằng: “Trong tất cả giáo lý Cơ-đốc, điều duy nhất mà con người không cần phải tin bằng đức tin mà có thể thấy rõ bằng thực tế, đó là: loài người thật sự đầy tội lỗi”. Tuy nhiên, kể từ khi tội lỗi bước vào, Đức Chúa Trời đã chủ động trong việc hòa giải chúng ta, dù chúng ta xấu xa đến đâu, với chính Ngài. Nghĩa là, từ ban đầu, Đức Chúa Trời đã hành động để giải quyết vấn đề tội lỗi, dù cho giải pháp duy nhất là cái chết của chính Ngài trên thập tự giá.
Tại Ê-đen, Ngài đã gọi A-đam, kiệt tác sáng tạo của Ngài, “Ngươi ở đâu?” (Sáng-thế Ký 3:9). Và ngày nay, Ngài vẫn tiếp tục tìm kiếm con chiên lạc, chính là mỗi người trong chúng ta. Ngài tìm kiếm từng người một. Ngài có một kế hoạch trọn vẹn để cứu chúng ta, áp dụng lời hứa phúc âm đầu tiên trong Sáng-thế Ký 3:15, đặt sự thù nghịch giữa chúng ta và Sa-tan.
Đôi khi phúc âm bị biến thành điều gì đó quá phức tạp và mang tính lý thuyết đến mức nó không còn nhiều ý nghĩa thực tiễn cho đời sống hiện đại. Nhưng thực ra, phúc âm rất đơn giản và rõ ràng:
Phúc âm gồm ba phần:
1. Vì chúng ta bất lực trong việc tự cứu mình, Đức Chúa Giê-su đã đến và chết thay cho tội lỗi chúng ta. (Xem Rô-ma 5:6–8)
2. Khi chúng ta tiếp nhận cái chết của Ngài là của chính mình qua đức tin, sự ăn năn, và phép báp têm, chúng ta được xưng công bình và được giải thoát khỏi sự đoán phạt của tội lỗi. (Xem Rô-ma 5:9–11; Rô-ma 6:6,7)
3. Cuộc sống hiện tại của chúng ta là kết quả của việc được hiệp nhất với Đấng Cơ-đốc, kinh nghiệm quyền năng tái tạo của Ngài, và Ngài sống trong chúng ta. (Xem 2 Cô-rinh-tô 5:17–21; Ga-la-ti 2:20)
Ba phần này không nhất thiết là những bước riêng biệt hay các sự kiện tách biệt. Chúng có thể xảy ra đồng thời, ngay khi chúng ta sẵn lòng tiếp nhận Đức Chúa Giê-su vào đời sống mình. Và chúng có thể được làm mới mỗi ngày khi chúng ta dâng mình cho Ngài vào mỗi buổi sáng. Dù chúng ta trải nghiệm công cuộc cứu chuộc của Đấng Cơ-đốc trong đời sống mình như thế nào, nền tảng vẫn luôn là sự chết của Đức Chúa Giê-su. Và phải luôn trở lại với điều đó.
Khi bạn nhìn vào chính mình, vào tính cách và phần thầm kín nhất trong tâm hồn, điều đó nói gì với bạn về nhu cầu của bạn với thập tự giá?
Thứ Hai - "Nếu Anh Em Tiếp Tục Trong Đức Tin"
Đọc Cô-lô-se 1:23. Bạn nghĩ gì về ý nhĩa Phao-lô dùng từ "vững vàng và bền lòng" trong đức tin? (Xem thêm Cô-lô-se 2:5 và Ê-phê-sô 3:17)
Có bốn loại câu điều kiện khác nhau trong tiếng Hy Lạp, mỗi loại mang một sắc thái ý nghĩa khác nhau. Câu điều kiện được dùng trong Cô-lô-se 1:23 là loại giả định điều kiện đó là đúng. Nghĩa là, Phao-lô đang khích lệ các tín hữu Cô-lô-se với niềm tin rằng họ thực sự sẽ tiếp tục trong đức tin. Như ông chỉ ra sau đó, ông đã thấy những bằng chứng rõ ràng về đức tin và sự kiên định của họ (Cô-lô-se 2:5). Tuy nhiên, hy vọng của họ vẫn phụ thuộc vào việc họ có tiếp tục bước đi trong con đường đức tin mà họ đã bắt đầu hay không.
Khái niệm “tiếp tục” (trong Cô-lô-se 1:23) xuất phát một từ Hy Lạp mang nghĩa là kiên trì, ở lại, giữ vững vị trí. Từ này cũng được dùng trong (Giăng 8:7) để mô tả các thầy thông giáo và người Pha-ri-si cứ liên tục hỏi Đức Chúa Giê-su về người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Trong Công vụ 12:16, từ này dùng để mô tả Phi-e-rơ tiếp tục gõ cửa sau khi Rô-đơ nhận ra tiếng ông nhưng chạy vào trong mà không mở cửa. Phao-lô cũng dùng từ này trong I Ti-mô-thê 4:16 khi ông khuyên Ti-mô-thê hãy bền lòng trong giáo lý và sự sống đạo.
Trong bối cảnh Cô-lô-se, Phao-lô đang áp dụng điều này cho tất cả tín hữu: hãy tiếp tục sống trong đức tin một cách trung tín.
Trong bài học tuần tới, chúng ta sẽ thấy Phao-lô lo ngại rằng các tín hữu Cô-lô-se có thể bị cuốn theo những phương cách cứu rỗi dựa trên con người, thay vì giữ vững niềm hy vọng mà Phúc Âm mang lại (xem Cô-lô-se 2:8; 20–22).
Từ “vững nền” (grounded) mang ý nghĩa là đã có một nền tảng vững chắc trong đức tin và tình yêu dựa trên lời Chúa (xem Ma-thi-ơ 7:25; Ê-phê-sô 2:20; Ê-phê-sô 3:17). Từ “bền lòng” (steadfast) chỉ một cấu trúc kiên cố, không thể lay chuyển, và được dùng để mô tả một tín hữu không bị lung lay khỏi niềm hy vọng trong tin lành (Cô-lô-se 1:23). Từ này cũng xuất hiện trong I Cô-rinh-tô 15:58: “Vậy, hỡi anh em yêu dấu của tôi, hãy vững vàng, chớ rúng động, hãy làm công việc Chúa cách dư dật luôn, vì biết rằng công khó của anh em trong Chúa chẳng phải là vô ích đâu.”.
Trái ngược với quan điểm phổ biến “một khi được cứu là luôn được cứu”, Phao-lô đang nói một điều hoàn toàn khác.
Kinh nghiệm cá nhân của bạn cho thấy điều gì về tầm quan trọng của việc tiếp tục giữ vững đức tin? Tại sao bạn phải luôn luôn lựa chọn có ý thức để sống bởi đức tin mỗi ngày? Điều gì sẽ xảy ra nếu bạn không làm như vậy?
Thứ Ba - "Kế Hoạch Đời Đời Của Đức Chúa Trời"
Đọc Cô-lô-se 1:24,25. Phao-lô nói gì về sự chịu khổ của ông vì cớ Đấng Cơ-đốc?
Mặc dù Phao-lô viết thư tín Cô-lô-se khi đang bị quản thúc tại gia ở Rô-ma, nhưng có lẽ nỗi đau lớn nhất của ông lại đến từ việc không thể rảo bước khắp nơi, từ nhà này sang nhà khác, để rao giảng cách trực tiếp như trước kia (xem Công-vụ 20:20). Những hoạn nạn ấy, mà chính Đấng Cơ-đốc đã báo trước (xem Ma-thi-ơ 24:9; Giăng 16:33) “chẳng đáng so sánh với sự vinh hiển sẽ được bày tỏ trong chúng ta” (Rô-ma 8:18). Ấy chính là bức tranh lớn hơn mà Phao-lô luôn mang trong lòng. Như ông đã từng viết cho các tín hữu tại Phi-líp, thì nay ông cũng bày tỏ cùng một tinh thần cho các tín hữu tại Cô-lô-se: ông vui mừng vì những khổ nạn mình chịu, bởi ấy là vì ích lợi cho họ (Cô-lô-se 1:24).
Dù đang bị giam cầm, nhưng Phao-lô tuyên bố rằng “lời Đức Chúa Trời không bị trói buộc” (2 Tim 2:9). Chính trong thời gian bị quản thúc này, ông đã viết các thư tín Phi-líp, Ê-phê-sô, và Phi-lê-môn. Sau khi được thả, ông tiếp tục nhận sự soi dẫn của Đức Chúa Trời để viết các lời khuyên quan trọng trong I Ti-mô-thê và Tít. Và trong lần bị giam cuối cùng tại nhà tù La Mã, ông viết II Ti-mô-thê. Nói cách khác, những năm tháng cuối đời đã mở ra cho Phao-lô một cơ hội quý báu để biên soạn một phần trọng yếu trong Tân Ước, có thể bao gồm cả thư Hê-bơ-rơ.
Kế hoạch đời đời của Đức Chúa Trời đã dự liệu tất cả những điều đó, thậm chí còn hơn thế nữa. Từ Hy Lạp mà Phao-lô dùng trong Cô-lô-se 1:25, thường được dịch là “quản trị” hoặc “quản lý” là oikonomia. Theo nghĩa hẹp (như trong I Ti-mô-thê 1:4), từ này hàm ý “cách Đức Chúa Trời sắp đặt mọi sự”, Luke Timothy Johnson, The First and Second Letters to Timothy, tr. 164. Điều đó bao gồm cả sứ mạng sứ đồ mà Phao-lô được giao. Nhưng theo nghĩa rộng, nó bao hàm toàn bộ các sự chuẩn bị mà Đức Chúa Trời đã thực hiện trong kế hoạch cứu rỗi. Chức vụ của Phao-lô, của các sứ đồ khác, thậm chí cả các nhà tiên tri trong Cựu Ước (Ê-phê 2:20; Ê-phê 3:5), kể cả Môi-se, đều nhằm để “làm cho lời của Đức Chúa Trời được ứng nghiệm” (Cô-lô-se 1:25), tất cả đều nằm trong kế hoạch thiêng liêng vĩ đại đó.
Mặc dù chúng ta sẽ đào sâu chủ đề này hơn trong bài học ngày mai, nhưng tại thời điểm này, thật đáng ghi nhận rằng Phao-lô nhìn nhận chức vụ của mình chỉ là một phần nhỏ bé trong một kế hoạch rộng lớn hơn rất nhiều, một chương trình dài hạn đã bắt đầu từ “khi sáng thế” (Ma-thi-ơ 13:35; Ê-phê-sô 1:4)
Khi bạn suy xét về cuộc đời mình, bạn có nhận ra rằng những quyết định, dù lớn hay nhỏ, đều có thể được đặt trong khuôn khổ của kế hoạch lớn hơn mà Đức Chúa Trời dành cho bạn? Liệu chúng ta có thực sự biết được quyết định nào là "nhỏ"? Và làm sao biết được liệu những điều ấy có thể dẫn đến những kết quả sâu rộng, chỉ được bày tỏ trong tương lai?
Thứ Tư - "Sự Mầu Nhiệm Của Đức Chúa Trời Được Bày Tỏ"
Đọc Cô-lô-se 1:26–27. Phao-lô hai lần nhắc đến "sự mầu nhiệm". Vậy sự mầu nhiệm ấy là gì?
Ở nơi khác, Phao-lô gọi đó là “sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời,” tức là mục đích đời đời của Ngài “đã định trước muôn đời cho sự vinh hiển của chúng ta” (I Cô-rinh-tô 2:7), và được bày tỏ qua kế hoạch cứu rỗi. Sứ đồ Phi-ê-rơ cũng nói đến chân lý này như điều mà các đấng tiên tri thời xưa đã tiên báo, và điều “các thiên sứ cũng ước ao xem thấu” (I Phi-ê-rơ 1:10–12). Mầu nhiệm này được hình thành “trước khi sáng thế” (I Phi-ê-rơ 1:20) và “đã giữ kín từ muôn thuở” (Rô-ma 16:25). Nhưng giờ đây, qua đời sống, sự chết và sự phục sinh của Đấng Cơ-đốc, mầu nhiệm ấy đã được bày tỏ (II Cô-rinh-tô 3:14).
Những câu Kinh Thánh sau đây giúp soi sáng thế nào những phương diện khác nhau trong kế hoạch cứu rỗi?
Ê-phê-sô 1:7–10
Ê-phê-sô 3:3–6
Cuối cùng, “muôn vật” cả trên trời lẫn dưới đất sẽ được hiệp lại trong sự hợp nhất trọn vẹn trong Đấng Cơ-đốc. Đây cũng chính là nội dung trọng tâm trong lời cầu nguyện của Đức Chúa Giê-su trong Giăng 17. Làm sao điều ấy có thể xảy ra là một điều mầu nhiệm đã được giấu kín, nhưng nay đã được tỏ ra qua Phúc Âm.
Lý do tại sao Đức Chúa Trời lại yêu thương chúng ta đến mức ban chính Đức Chúa Giê-su, báu vật vô giá của thiên đàng, để cứu chuộc chúng ta, là điều mà cả cõi đời đời chúng ta sẽ còn suy gẫm. Nhưng điều chắc chắn là: Đấng Cơ-đốc “đã chết vì mọi người, hầu cho những người sống không vì chính mình nữa, mà vì Đấng đã chết và sống lại cho mình” (II Cô-rinh-tô 5:15).
Kết quả là, tất cả những ai tin nơi Đấng Cơ-đốc, dù là Do Thái hay dân Ngoại, đều cùng được dự phần trong lời hứa của Đức Chúa Trời qua Phúc Âm và được hiệp lại trong một thân thể, ấy là Hội Thánh.
Cụm từ “Đấng Cơ-đốc ở trong anh em” (Cô-lô-se 1:27) nói về sự hiện diện của Ngài trong lòng người tin, bởi đức tin (Ê-phê-sô 3:17; so sánh với Ga-la-ti 2:20). Sự hiệp một thiêng liêng này khiến cho các tín hữu, ngay trong hiện tại, có thể “cùng được ngồi với Ngài trong các nơi trên trời” (Ê-phê-sô 2:6) và nếm trải “quyền phép của đời sau” (Hê-bơ-rơ 6:5). Chính sự hiện diện của Đấng Cơ-đốc trong cuộc đời người tin, qua Phúc Âm, là điều khiến họ trở nên “xứng đáng dự phần cơ nghiệp của các thánh trong sự sáng” (Cô-lô-se 1:12).
Thứ Năm - "Năng Quyền Của Phúc Âm"
Đọc Cô-lô-sê 1:28–29. Trọng tâm của Phao-lô trong câu trên là gì? Vì sao ông lặp lại ba lần cụm từ "mọi người"?
Trọng tâm giảng dạy của Phao-lô chính là Đấng Cơ-đốc và Đấng Cơ-đốc chịu đóng đinh (I Cô-rinh-tô 1:23). Theo Ê-phê-sô 5:27, mục đích của sự hy sinh của Đấng Cơ-đốc là “để Ngài có thể trình diện Hội Thánh cho chính mình như một Hội Thánh vinh hiển, không vết, không nhăn hay bất kỳ điều gì tương tự, nhưng phải thánh khiết và không chỗ trách được”. Vì vậy, mục tiêu của việc rao giảng Phúc Âm mà Phao-lô theo đuổi là “để trình dâng mọi người được trọn vẹn trong Đấng Cơ-đốc” (Cô-lô-sê 1:28).
Phao-lô thực hiện điều đó qua việc dạy dỗ và cảnh báo, dạy dỗ về giáo lý và nếp sống Cơ-đốc (II Tê-sa-lô-ni-ca 2:15; I Ti-mô-thê 4:11; I Ti-mô-thê 5:7; Tít 1:9) và cảnh báo về hậu quả của việc từ chối Phúc Âm hoặc sa vào tà giáo (Công-vụ 20:29–31; Rô-ma 16:17).
Chúng ta trưởng thành trong đời sống Cơ-đốc khi tiếp nhận sự dạy dỗ và nghiêm túc lắng nghe các lời cảnh báo từ Kinh Thánh.
Khái niệm “trưởng thành” là vô cùng quan trọng. Cha mẹ vui mừng khi con cái phát triển, biết nói, biết đi, biết đọc. Nhưng nếu đứa trẻ sau nhiều năm vẫn chưa thể nói hoặc đi được thì đó là điều bất ổn. Tương tự, đời sống tâm linh của Cơ-đốc nhân không thể mãi non trẻ mà phải lớn lên, trưởng thành trong Đấng Cơ-đốc.
Từ Hy Lạp được dịch là “trưởng thành” (teleios) còn mang ý nghĩa là “trọn vẹn” hay “không tì vết.” Khi lớn lên trong Chúa, chúng ta càng nhận ra luật pháp của Ngài thật sâu rộng: “mọi điều răn Ngài là vô cùng rộng rãi” (Thi-thiên 119:96) và luật ấy vươn đến “tư tưởng và ý định trong lòng” (Hê-bơ-rơ 4:12).
Tuy nhiên, Phao-lô cảnh báo rằng chúng ta cần thận trọng, bởi có con đường “xem dường chánh đáng cho loài người, nhưng cuối cùng là đường sự chết” (Châm-ngôn 14:12). Khả năng phân biệt điều đúng và sai chỉ đến từ sự hiểu biết Kinh Thánh được Thánh Linh hướng dẫn.
Những sự dạy dỗ sai lệch thường pha trộn với một phần chân lý, nhưng hoặc thêm vào, hoặc bớt đi điều Chúa phán dạy (Ê-sai 8:20). Chúng thường gieo sự nghi ngờ, liệu Lời Chúa còn phù hợp trong thời đại hôm nay? Có thực tế không? Đó là lý do chúng ta cần “khôn như rắn và hiền lành như chim bồ câu” trong việc phân định lẽ thật.
Bạn hiểu như thế nào về khái niệm "trọn vẹn trong Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc" (Cô-lô-sê 1:28)?
Việc hiểu được điều Đức Chúa Giê-su đã làm cho chúng ta trên thập tự giá giúp bạn hiểu gì về sự "trọn vẹn trong Ngài"?
Thứ Sáu - NGHIÊN CỨU BỔ TÚC
“Chúng ta không có sự công bình nào của riêng mình để đáp ứng các đòi hỏi của luật pháp Đức Chúa Trời. Nhưng Đấng Cơ-đốc đã mở ra một con đường thoát cho chúng ta… Nếu bạn dâng chính mình cho Ngài, và chấp nhận Ngài làm Cứu Chúa của mình, thì dù đời sống bạn đã từng tội lỗi đến đâu, vì cớ Ngài, bạn sẽ được kể là công chính. Tính cách của Đấng Cơ-đốc sẽ đứng thay cho tính cách của bạn, và bạn sẽ được Đức Chúa Trời chấp nhận như thể bạn chưa từng phạm tội.
“Hơn thế nữa, Đấng Cơ-đốc thay đổi tấm lòng. Ngài ngự trong lòng bạn bởi đức tin. Bạn cần duy trì mối liên hệ này với Đấng Cơ-đốc qua đức tin và sự đầu phục ý chí của mình cho Ngài một cách liên tục; và chừng nào bạn còn làm như vậy, thì Ngài sẽ hành động trong bạn để bạn muốn và sẽ làm theo ý tốt lành của Ngài…
“Vậy nên, chúng ta không có gì trong bản thân mình để mà khoe. Chúng ta không có lý do nào để tự cao. Nền tảng duy nhất cho hy vọng của chúng ta là sự công bình của Đấng Cơ-đốc được kể cho chúng ta, và sự công chính do Thánh Linh Ngài hành động trong chúng ta và qua chúng ta.”, Ellen G. White, Con Đường Giải Thoát, tr. 62, 63.
“Ánh sáng mà tôi nhận được rất mạnh mẽ cho thấy rằng sẽ có nhiều người rời bỏ chúng ta, bị lôi cuốn bởi tà linh và các giáo lý của ma quỷ. Đức Chúa Trời muốn mỗi linh hồn nào xưng nhận niềm tin vào lẽ thật phải có một sự hiểu biết sáng suốt về điều gì là chân lý.”, Ellen G. White, Evangelism, tr. 363.
Câu hỏi thảo luận:
Hãy đọc lại câu gốc ghi nhớ: "Vì Ngài đã làm cho Đấng chẳng hề biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta, để chúng ta có thể trở nên sự công chính của Đức Chúa Trời trong Ngài" (II Cô-rinh-tô 5:21). Câu này có nghĩa gì? Việc Đấng Cơ-đốc trở nên tội lỗi vì chúng ta có ý nghĩa gì, và điều này giúp chúng ta hiểu thế nào về bản chất thay thế của thập tự giá? Còn "trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời trong Ngài" nghĩa là gì?
Suy gẫm thêm về vấn đề "một khi được cứu, luôn được cứu", một niềm tin phổ biến trong giới Cơ-đốc nhân. Tại sao chúng ta tin rằng đây là một giáo lý sai lạc? Giáo lý này đem lại những nguy cơ rõ ràng nào cho những ai tin vào nó? Vậy thì, làm thế nào chúng ta có thể vẫn giữ được sự bảo đảm về sự cứu rỗi, dù không tin vào giáo lý "một khi được cứu, luôn được cứu"?
Bạn có "vững vàng và bền đỗ" trong đức tin không? (Cô-lô-se 1:23) Bạn hiểu rõ đến đâu về những gì mình tin và lý do vì sao mình tin? Bạn có thể làm gì để hiểu biết vững chắc hơn về đức tin của mình? Và tại sao điều đó lại quan trọng đến thế, việc bạn phải "vững vàng và bền đỗ" trong đức tin?