Bài Học 13, 21 Tháng 3 – 27 Tháng 3

Đứng trong mọi ý muốn của Đức Chúa Trời

Kinh Thánh Nghiên Cứu: Cô-lô-se 4:7–18; Ê-phê-sô 6:21; Công-vụ 15:36–40; 2 Ti-mô-thê 4:10,11; 2 Phi-e-rơ 3:10–14; Ê-sai 60:1–3
Câu Gốc: "Phàm làm việc gì cũng phải tạ ơn Chúa; vì ý muốn của Ðức Chúa Trời trong Ðức Chúa Giê-su Cơ-đốc đối với anh em là như vậy." (1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:18)
Sa-bát - "Đứng trong mọi ý muốn của Đức Chúa Trời"

Câu gốc

"Phàm làm việc gì cũng phải tạ ơn Chúa; vì ý muốn của Ðức Chúa Trời trong Ðức Chúa Giê-su Cơ-đốc đối với anh em là như vậy." (1 Tê-sa-lô-ni- ca 5:18)

Kinh Thánh nghiên cứu

Cô-lô-se 4:7–18; Ê-phê-sô 6:21; Công-vụ 15:36–40; 2 Ti-mô-thê 4:10,11; 2 Phi-e-rơ 3:10–14; Ê-sai 60:1–3.

Phần cuối cùng của sách Cô-lô-se này tiết lộ mạng lưới cộng sự rộng lớn hơn của sứ đồ Phao-lô. Sách Công Vụ cho biết ông hợp tác đầu tiên với Ba-na-ba, rồi đến Si-la, và sau cùng tóm tắt ba chuyến hành trình truyền giáo của ông.

Tuần này chúng ta sẽ xem xét chiến lược truyền giáo của sứ đồ Phao-lô, bao gồm việc sử dụng thời gian và nguồn lực rất hiệu quả để tiếp cận các trung tâm điểm của Đế chế La Mã, cũng như đào tạo nhiều dân sự đầy triển vọng để tiếp cận các thành phố và thị trấn mà Phao-lô sẽ không đến thăm, chẳng hạn như Cô-lô-se, Lao-đi-xê và Hi-ê-ra-bô-li.

Qua những chuyến viếng thăm cá nhân trong suốt hành trình, và đặc biệt là khi ông bị giam cầm, qua các thư tín của mình, Phao-lô liên tục kết nối mọi người với các Hội Thánh. Ông nhận ra rằng sự thành công của sứ mệnh truyền giáo phụ thuộc vào sự hợp tác của tất cả mọi người, các Cơ-đốc nhân người Do Thái và dân Ngoại; cả nam lẫn nữ, những người như Ti-chi-cơ, A-ri-tạc, Giút-tu, Ê-pa-phra, Lu-ca và Nim-pha. Điều thú vị là chúng ta cũng nghe nói đến một bức thư ông viết cho Lao-đi-xê; Phao-lô đã gói gọn rất nhiều điều trong những câu cuối cùng này, bao gồm cả lời khuyên nhủ cá nhân dành cho một người tên là A-chíp. Ông đã làm mọi cách có thể để củng cố các Hội Thánh khi còn có thể.

*Nghiên cứu bài học tuần này để chuẩn bị cho Sa-bát ngày 28 tháng 3.

Thứ Nhất - "Những Bài Học Về Công Tác Truyền Giáo"

Chúng ta học được nhiều điều từ sứ đồ Phao-lô trong công việc truyền bá phúc âm. Hành trình của ông ước tính khoảng 13.400 dặm. Điều này thật đáng kinh ngạc, vì phần lớn thời gian ông đi bộ và lắm lúc phải bị giam cầm.

Phao-lô đã dành nhiều thời gian ở các trung tâm thương mại, chẳng hạn như Cô-rinh-tô và Ê-phê-sô, từ đó sứ điệp có thể lan truyền đến các thị trấn nằm sâu trong đất liền. Ông cũng trở lại các Hội Thánh mà ông đã gây dựng để củng cố và khích lệ các tín hữu mới ở đó. Khi không thể đích thân đến thăm các Hội Thánh, ông đã gửi thư. Bằng cách này, các tín hữu biết rằng ông luôn nhớ và quan tâm đến họ.

Đọc Cô-lô-se 4:7–9; so sánh Ê-phê-sô 6:21. Ti-chi-cơ được miêu tả như thế nào, và Phao-lô đưa ra lý do gì để phái ông và Ô-nê-sim đến Cô-lô-se?

Có một số điều tốt nhất nên được truyền đạt bằng lời nói hơn là bằng văn bản. Sẽ rất thú vị khi biết hai người đã truyền đạt tin tức gì cho người Cô-lô-se. Xét theo ý định của Phao-lô rằng những điều này sẽ “yên ủi” (NKJV) và “khích lệ” họ (Cô-lô-se 4:7–9, ESV), có lẽ nó bao gồm những chi tiết về hoàn cảnh của Phao-lô trong tù. Dù sao đi nữa, việc truyền đạt như vậy cũng rất quan trọng vì nó là phương tiện duy trì mối quan hệ cá nhân gắn kết các tín đồ với nhau.

Tên Ti-chi-cơ có nghĩa là “may mắn”, rõ ràng ông là một sứ giả đáng tin cậy. Được miêu tả là một “người hầu việc trung tín” và “người bạn đồng hành”, ông là một trong hai người từ Châu Á được Phao-lô chọn (Công-vụ 20:4) để cùng đi với ông trong chuyến đi quyên góp giúp đỡ các tín hữu túng thiếu ở Giê-ru-sa-lem. Ông cũng ở bên Phao-lô trong lần bị giam cầm thứ hai tại Rô-ma; ông được phái đến Ê-phê-sô để củng cố công việc tại đó (2 Ti-mô-thê 4:12). Phao-lô cũng nghĩ đến việc phái ông đến gặp Tít, ở Cơ-rết (Tít 3:12). Đi cùng ông là Ô-nê-sim, người mà Phao-lô đã cải đạo tại Rô-ma (xem Bài 1) và được mô tả là “trung tín”.

Sứ đồ Phao-lô dường như cũng muốn biết tình hình của các tín hữu ở Hội Thánh Cô-lô-se. Sẽ không khó để nhờ ai đó mang tin đến cho ông, mà không cần phải gửi Ti-chi-cơ đích thân đến. Đây là cách để Phao-lô bày tỏ tình yêu thương và sự quan tâm của ông đối với các tín hữu ở đó; mặc dù ông chưa thể đích thân đến thăm Hội Thánh, nhưng đây là cách ông củng cố đức tin của họ để họ có thể truyền đạt cho người khác.

Những điều riêng tư nào trong các thư tín của Phao-lô không chỉ cho thấy tính nhân văn của ông mà nó còn khẳng định giá trị trong chức vụ của ông?

Thứ Hai - "Kết Nối Hội Thánh"

Sống trong một thế giới được kết nối bởi mạng Internet, mạng xã hội và vô số thiết bị tân tiến, chúng ta thật khó hình dung những thử thách mà Phao-lô đã phải đối mặt khi ông cố gắng giúp các Hội Thánh có thể cảm nhận họ là một phần thuộc về điều gì đó lớn lao hơn là chính Hội Thánh địa phương của mình.

Đọc Cô-lô-se 4:10,11. Ngoài việc trao đổi tin tức qua lại thông qua các sứ giả (Cô-lô-se 4:7–9), Phao-lô còn khuyến khích sự kết nối bằng những cách nào khác? Xét đến một số vấn đề mà Phao-lô đã đề cập trong đoạn thư tín này, sứ điệp nào có thể được truyền tải qua những lời chào hỏi?

Với những lời chào hỏi này, Phao-lô đã tạo dựng và nuôi dưỡng sự kết nối giữa các tín hữu. Ở đây, chúng ta biết rằng Mác là em họ của Ba-na-ba. Do đó, Phao-lô đã mở đường cho chuyến viếng thăm Cô-lô-se của Mác. A-ri-tạc được mô tả theo nghĩa đen là “một người bạn tù”; nghĩa là, ông bị giam cùng với Phao-lô. Cả hai là những chiến binh mang “khí giới của Đức Chúa Trời” (Ê-phê-sô 6:10,11), chiến đấu để giải thoát những kẻ bị Sa-tan giam cầm, để họ phụng sự trong vương quốc Đức Chúa Trời (xem 2 Ti-mô-thê 2:1–4). Giê-su hay Giút-tu; tên Do Thái và La Mã phát âm gần giống nhau trong tiếng Hy Lạp (như Sau-lơ hay Phao-lô), cũng được giới thiệu đến với họ như là một cộng sự đáng tin cậy trong công việc rao giảng Phúc âm.

Sứ đồ Phao-lô đặc biệt nhắc đến A-ri-tạc, Mác và Giút-tu là những tín đồ Do Thái (“thuộc nhóm cắt bì”); rồi sau đó, ông tiếp tục đề cập đến ba người anh em người Ngoại là: Ê-pháp-ra, Lu-ca và Đê-ma (Cô-lô-se 4:12–14). Điều đáng chú ý là, mặc dù có một số căng thẳng trong Hội Thánh giữa người Do Thái và người Ngoại, nhưng những anh em này vẫn có thể cùng nhau làm việc hiệu quả, đoàn kết và hòa thuận. Khi dùng từ “chỉ”, Phao-lô ngụ ý nói đến một sự thất vọng vì không có nhiều Cơ-đốc nhân người Do Thái sát cánh bên ông trong những đau khổ của ông. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là vào thời điểm này, Giăng Mác không chỉ tỏ ra trung tín mà còn là “niềm an ủi” cho Phao-lô (Công-vụ 15:36–40); mặc dù vài năm trước, người đã bỏ rơi Phao-lô và Ba-na-ba trong chuyến hành trình truyền giáo đầu tiên của họ (Công-vụ 13:13),

Những mối đe dọa đối với sự hiệp nhất không phải là điều mới mẻ. Trong những năm gần đây, Giáo hội Cơ-đốc Phục Lâm đã trải qua những thay đổi đáng kể khi mở rộng ra toàn cầu, và có nhiều thế lực đã gây tổn hại đến sự hiệp nhất của Giáo hội. Áp lực về sự hiệp nhất này có thể được cảm nhận ở mọi cấp độ của Giáo hội.

Làm thế nào ở Hội Thánh địa phương, anh chị em có thể nỗ lực giảm tối thiểu những mối đe dọa sự hiệp nhất của chúng ta? Những căng thẳng này ở cấp độ địa phương là gì? Và chúng ta có thể làm gì để xử lý chúng?

Thứ Ba - "Đứng Vững Và Trọn Vẹn"

Nhiều sách đã viết về cuộc sống có mục đích và Hội Thánh có mục đích. Mặc dù “có mục đích” có thể không hoàn toàn đúng, nhưng “tập trung vào mục đích” rõ ràng là rất quan trọng để hoàn thành bất kỳ nỗ lực có ý nghĩa nào. Cuộc đời và chức vụ của sứ đồ Phao-lô, cũng như của các cộng sự và các sứ đồ khác, minh họa cho sự tập trung này (xem Phi-líp 3:13,14). Phúc âm lan truyền nhanh chóng khắp Đế chế La Mã và xa hơn nữa, kết quả tự nói lên điều đó (Cô-lô-se 1:23). Ngày nay, chúng ta cũng cần tập trung vào mục đích tương tự.

Đọc Cô-lô-se 4:12,13. Mục đích gì được mô tả ở đây và nó được hoàn thành như thế nào?

Như chúng ta đã đề cập trong bài học trước, Ê-pháp-ra có lẽ đã góp phần quan trọng trong việc truyền bá phúc âm đến Cô-lô-se và các thành phố lân cận là Lao-đi-xê và Hi-ê-ra-bô-li (xem Bài 1). Lời chào hỏi và lời cầu nguyện của ông dành cho các Hội Thánh này chắc chắn đã khích lệ rất nhiều cho các tín hữu ở đó. Những lời cầu nguyện của Ê-pháp-ra có mục đích rõ ràng, đó là người Cô-lô-se sẽ “trở nên toàn vẹn và trọn niềm vâng phục mọi ý muốn của Ðức Chúa Trời.” (Cô-lô-se 4:12). Chúng ta hãy cùng xem xét kỹ hơn những phần phong phú của lời cầu nguyện này.

Đứng. Từ này có nghĩa là đứng vững vàng và không lay chuyển, điều này chỉ có thể đạt được khi “vững vàng và kiên định” trong đức tin và tin chắc vào lẽ thật của phúc âm (Cô-lô-se 1:23). Từ này cũng được Phao-lô sử dụng nhiều lần khi nói về cuộc chiến chống lại “những mưu chước của ma quỷ” (Ê-phê-sô 6:11) và chống lại các thế lực bóng tối nhờ quyền năng Đức Chúa Trời bằng cách mặc lấy “toàn bộ khí giới của Đức Chúa Trời” (Ê-phê-sô 6:10–18; so sánh 2 Ti-mô-thê 2:19).

Trọn vẹn. Từ này chỉ sự hoàn hảo về tính cách, được thể hiện trong tình yêu biết hy sinh (Ma-thi-ơ 5:44, 48) bởi những người không bao giờ tự nhận mình đã “đạt đến” (Phi-líp 3:12–15, NIV).

Đầy đủ, một cụm từ có quyền năng, nó có nghĩa là thỏa mãn hoàn toàn hoặc làm cho điều gì đó đạt đến mức trọn vẹn. Nó được dùng để chỉ việc Áp-ra-ham “tin chắc” rằng Đức Chúa Trời sẽ thực hiện những gì Ngài đã hứa, mặc dù con người không thể làm được (Rô-ma 4:21, NKJV), và việc Phao-lô được Chúa thêm sức để qua ông “hầu cho tin lành bởi ta được rao truyền đầy dẫy” (2 Ti-mô-thê 4:17, NKJV).

Mọi ý muốn của Đức Chúa Trời. Từ “mọi” mang ý nghĩa bao hàm tất cả. Chính Phao-lô đã cầu nguyện cho người Cô-lô-se được đầy dẫy sự hiểu biết về ý muốn của Đức Chúa Trời, “hầu cho anh em ăn ở cách xứng đáng với Chúa, đặng đẹp lòng Ngài mọi đường” (Cô-lô-se 1:9,10, NET) nhờ “quyền phép vinh hiển Ngài” (Cô-lô-se 1:11, NKJV).

Thứ Tư - "Sống Trong Thế Gian Nhưng Không Thuộc Vào Thế Gian"

Đọc Cô-lô-se 4:14,15 và 2 Ti-mô-thê 4:10,11. Lu-ca khác với Đê-ma như thế nào và tại sao?

Sứ đồ Giăng nói với chúng ta: “Chớ yêu thế gian, cũng đừng yêu các vật ở thế gian nữa; nếu ai yêu thế gian, thì sự kính mến Ðức Chúa Cha chẳng ở trong người ấy.” (1 Giăng 2:15). Tình yêu của Lu-ca dành cho Đức Chúa Giê-su và vương quốc của Ngài đã thúc đẩy ông sát cánh cùng Phao-lô bất kể điều gì xảy ra; trong khi Đê-ma lại yêu thế gian này hơn vương quốc hầu đến.

Hãy đọc những đoạn Kinh Thánh sau. Lời khuyên nào được đưa ra cho những người đang chờ đợi Chúa tái lâm?

Mác 13:32- 37

Tít 2:11–14

2 Phi-e-rơ 3:10–14

Khải Huyền. 3:17–21

Đức Chúa Giê-su và các môn đồ của Ngài thường xuyên cảnh báo chúng ta phải “tỉnh thức”; để không bị bất ngờ, chúng ta phải cảnh giác và luôn sẵn sàng cho sự tái lâm của Chúa. Tiếc thay, cũng như các môn đồ đã không nghe theo lời Đức Chúa Giê-su dạy “hãy tỉnh thức và cầu nguyện” (Mác 14:38), nhiều người trong chúng ta sẽ không sẵn sàng. Tất cả đều phụ thuộc vào việc ai hoặc điều gì chiếm giữ trong lòng chúng ta, bởi vì chúng ta không thể phụng sự hai chủ.

Trong sứ điệp gửi đến cho Hội Thánh Lao-đi-xê, Đức Chúa Giê-su đã cho chúng ta một phương thuốc cụ thể. Thứ nhất, hãy ăn năn tội lỗi. Thứ hai, chúng ta phải mở lòng với Đức Chúa Giê-su và để Ngài ngự vào, rồi (thứ ba) chúng ta sẽ được nhận “vàng” là đức tin và tình yêu, vốn đã được thử luyện qua gian nan và sự chiến thắng trước những cám dỗ.

Đức Chúa Giê-su đang yêu cầu bạn ăn năn về những điều cụ thể nào trong cuộc sống? Bạn cần phần nào nhất trong sự chỉ dạy của Ngài?

Thứ Năm - "Sứ Điệp Cho Hội Thánh Lao-đi-xê"

Đọc Cô-lô-se 4:16–18; so sánh với Cô-lô-se 2:1–3. Suy gẫm về sứ điệp mà Đức Chúa Giê-su gửi đến Hội Thánh Lao-đi-xê (xem bài học hôm qua). Bạn thấy có điểm tương đồng nào với sứ điệp trong Cô-lô-se, vốn cũng được đọc trong Hội Thánh Lao-đi-xê vào thời của Phao-lô?

Trải qua các thời đại trong lịch sử, dân sự Chúa luôn vướng phải cùng các vấn đề như nhau. Các tiên tri đã khiển trách dân Y-sơ-ra-ên vì họ muốn thờ hình tượng giống như thế gian và thúc giục họ ăn năn trước khi quá muộn. Ê-sai thậm chí còn than thở: “Ôi! thành trung nghĩa đã hóa ra kỵ nữ” (Ê-sai 1:21, NKJV) và thúc giục dân sự trở về với Đức Chúa Trời để được tha thứ và tẩy sạch (Ê-sai 1:16–20). Cả Giăng Báp-tít (Ma-thi-ơ 3:2, 8–10) và Đức Chúa Giê-su (Ma-thi-ơ 4:17, Ma-thi-ơ 12:33–37) đều kêu gọi dân Y-sơ-ra-ên ăn năn và kết trái để có thể chịu đựng được sự phán xét trong ngày sau rốt. Các sứ đồ cũng mang một sứ điệp tương tự (Công-vụ 2:38; Công-vụ 3:19; Công-vụ 17:30; 2 Cô-rinh-tô 7:9,10).

So sánh các đoạn Kinh Thánh sau: Ê-sai 60:1–3 với Khải Huyền 18:1–4, và Ê-sai 62:1–5 với Khải Huyền 19:7,8. Có những điểm tương đồng nào tồn tại giữa các sứ điệp trong hai sách này?

Đức Chúa Trời sẽ hiệp nhất trời và đất. Nhưng vì cuộc chiến vĩ đại, điều đó phải được thực hiện theo từng giai đoạn:

  1. Tại đồi Sọ, Sa-tan đã mất đi mọi tình cảm còn lại của các tạo vật trên trời dành cho nó (Giăng 12:31).
  2. Qua chức vụ phán xét của Đấng Cơ-đốc trong đền thánh trên trời, dân sự của Đức Chúa Trời được “nên trọn vẹn trong sự lành đặng làm thành ý muốn Ngài” (Hê-bơ-rơ 13:21) và được chuẩn bị cho thiên đàng.
  3. Qua ngàn năm phán xét và sự phán xét cuối cùng sau ngàn năm, mọi thắc mắc sẽ được giải quyết triệt để, và tội lỗi cùng những tội nhân không ăn năn sẽ bị hủy diệt trong hồ lửa đời đời, và trái đất cũng được thanh tẩy (Khải-huyền 21:8).
  4. Trời mới và đất mới có thể được hiệp nhất chỉ khi chấm dứt tội lỗi. (Khải-huyền 21:3).

Bản thân bạn (không nhìn vào bất kỳ ai khác) có thể làm gì để giữ vững lòng trung tín với Chúa và với lẽ thật mà Ngài đã ban cho chúng ta? Những gì bạn đang chọn hiện bây giờ sẽ cho biết ai thực sự chiếm trọn tấm lòng bạn?

Thứ Sáu - NGHIÊN CỨU BỔ TÚC

“Linh hồn nào đầu phục Đấng Cơ-đốc sẽ trở thành đồn lũy của Ngài. Ngài ngự trị trong một thế giới hỗn loạn và Ngài muốn rằng không một quyền lực nào được biết đến ngoài quyền lực của Ngài. Một linh hồn được các Đấng Thiên Thượng gìn giữ sẽ bất khả xâm phạm trước những cuộc tấn công của Sa-tan. Nhưng nếu chúng ta không đầu phục Đấng Cơ-đốc, chúng ta sẽ bị kẻ ác thống trị. Chúng ta chắc chắn phải chịu sự kiểm soát của một trong hai thế lực lớn đang tranh giành quyền bá chủ thế gian. Không cần chúng ta quyết định chọn phụng sự cho vương quốc bóng tối, nhưng nếu chúng ta bỏ qua không liên kết với vương quốc ánh sáng, thì chúng ta nhận lãnh sự thống trị của bóng tối. Nếu chúng ta không hợp tác với các đấng Thiên Thượng, Sa-tan sẽ chiếm hữu lòng chúng ta và biến nó thành nơi trú ngụ của nó. Đấng Cơ-đốc ngự trị trong lòng chúng ta và sự công bình của Ngài là cách duy nhất chống lại điều ác. Nếu chúng ta không kết nối mật thiết với Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ không thể chiến thắng những ảnh hưởng xấu xa của lòng tự ái, sự nuông chiều bản ngã và bị cám dỗ mà phạm tội. Chúng ta có thể tạm thời từ bỏ nhiều thói quen xấu khi tránh xa Sa-tan; nhưng nếu không có sự kết nối mật thiết với Đức Chúa Trời và phó thác chính mình cho Ngài từng giây từng phút, chúng ta sẽ thất bại. Nếu không có mối thông công mật thiết và liên tục với Đấng Cơ-đốc, chúng ta sẽ nằm trong tay kẻ thù và cuối cùng là phải tuân theo mệnh lệnh của nó.”, Ellen G. White, Nguyện Ước Thời Đại, trang 324.

Câu hỏi thảo luận:

Hãy xem trích dẫn của bà Ellen G. White ở trên. Thật vậy, chỉ có hai phía trong cuộc chiến vĩ đại, và nếu chúng ta không chọn Đức Chúa Giê-su, chúng ta sẽ đứng về phía Sa-tan (Lu-ca 11:23). Dù ý tưởng đó có thể làm chúng ta khó chịu, nhưng Đức Chúa Trời không có nghĩa vụ phải đảm bảo rằng lẽ thật của Ngài không làm mất lòng chúng ta. Thực tế này cho bạn biết điều gì về tầm quan trọng của việc đầu phục Đức Chúa Giê-su?

Đọc Khải-huyền 14:14–16. Mưa đầu mùa trong Lễ Ngũ Tuần đã giúp hạt giống phúc âm nảy mầm và lớn lên, trong khi mưa cuối mùa chuẩn bị cho mùa gặt cuối cùng trên đất. Khải-huyền 14:12 liên quan đến viễn cảnh này như thế nào?

Với tư cách là một Hội Thánh nói chung và mỗi tín đồ nói riêng, chúng ta bị ảnh hưởng bởi nền văn hóa và thế tục xung quanh theo những cách nào? Làm thế nào chúng ta có thể được bảo vệ khỏi những ảnh hưởng tiêu cực của thế gian, vốn luôn là nan đề đối với dân sự Chúa qua mọi thời đại?