Bài Học 10, 28 Tháng 2 – 6 Tháng 3

Trọn vẹn trong Đấng Cơ-đốc

Kinh Thánh Nghiên Cứu: Cô-lô-se 2; Hê-bơ-rơ 7:11; Ê-sai 61:3; 1 Cô-rinh-tô 3:6; Phục-truyền 31:24–26; Rô-ma 2:28,29; Rô-ma 7:7
Câu Gốc: "Vì vậy, chớ có ai đoán xét anh em về của ăn uống, hoặc ngày lễ, hoặc ngày mặt trăng mới, hoặc ngày Sa-bát, ấy đều chỉ là bóng của các việc sẽ tới, còn hình thì ở trong Đấng Cơ-đốc." (Cô-lô-se 2:16,17)
Sa-bát - "Trọn vẹn trong Đấng Cơ-đốc"

Câu gốc

"Vì vậy, chớ có ai đoán xét anh em về của ăn uống, hoặc ngày lễ, hoặc ngày mặt trăng mới, hoặc ngày Sa-bát, ấy đều chỉ là bóng của các việc sẽ tới, còn hình thì ở trong Đấng Cơ-đốc." (Cô-lô-se 2:16,17).

Kinh Thánh nghiên cứu

Cô-lô-se 2; Hê-bơ-rơ 7:11; Ê-sai 61:3; 1 Cô-rinh-tô 3:6; Phục-truyền 31:24–26; Rô-ma 2:28,29; Rô-ma 7:7.

Bạn có bị hỏi tại sao bạn giữ ngày Sa-bát? Có lẽ ngay cả câu gốc tuần này cũng từng bị dùng làm “bằng chứng” chống lại việc giữ ngày Sa-bát. Tuy nhiên, đoạn Kinh Thánh đó không nói về điều răn thứ tư, mà nhằm đối phó với những sai lạc do một số giáo sư giả trong Hội Thánh truyền dạy. Những sai lạc này là gì?

Trước hết, giáo lý sai lạc này được mô tả là “triết lý” “truyền thống của loài người”, “các yếu tố sơ học của thế gian” và “không theo Đấng Cơ-đốc” (Cô-lô-se 2:8). Nó cũng liên quan đến phép cắt bì và việc tuân giữ các kỳ lễ của người Do Thái (Cô-lô-se 2:11,16), cùng với các nghi lễ thanh sạch và quy định liên quan đến thức ăn (Cô-lô-se 2:16,21). Nó còn liên quan đến việc thờ phượng các thiên sứ hoặc cố gắng bắt chước sự thờ phượng của thiên sứ (Cô-lô-se 2:18). Và cuối cùng, nó dựa trên “những điều răn và giáo lý loài người” và có thể liên quan đến các thực hành khổ tu (Cô-lô-se 2:22,23).

Những giáo sư sai lạc này rõ ràng là rất sùng đạo và chân thành, nhưng họ đã hiểu sai về phúc âm. Trong tuần này, chúng ta sẽ tìm hiểu lý do tại sao. Và chúng ta cũng sẽ thấy rằng câu gốc tuần này không hề chống lại việc giữ ngày Sa-bát thứ bảy.

*Nghiên cứu bài này trong tuần để chuẩn bị cho ngày Sa-bát, 7 tháng 3.

Thứ Nhất - "Sự Khôn Ngoan Và Tri Thức Của Đức Chúa Trời"

Gióp đã hỏi: “Nhưng sự khôn ngoan ở đâu mà tìm được? Và nơi nào là chỗ của sự thông sáng?” (Gióp 28:12). Phao-lô trả lời: nơi Đấng Cơ-đốc, “vì trong Ngài chứa đựng mọi kho tàng của sự khôn ngoan và tri thức” (Cô-lô-se 2:3; so sánh 1 Cô-rinh-tô 1:30). Nếu chúng ta có Đấng Cơ-đốc, thì chúng ta có tất cả, thậm chí là “sự hiểu biết vững chắc trọn vẹn” về mục đích sống (Cô-lô-se 2:2). Qua Ngài, “sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời”, bao gồm trọn vẹn kế hoạch cứu rỗi, đã được bày tỏ.

Đọc Cô-lô-se 2:1–7. Mục đích của Phao-lô là gì khi viết thư tín này?

Từ Hy Lạp paraklēthōsin có nghĩa là “được khích lệ” hoặc “được thêm sức mạnh” (Cô-lô-se 2:2). Mong ước của Phao-lô không chỉ là giúp các tín hữu tại Cô-lô-se nhận ra những giáo lý sai lạc, mà còn hiệp nhất họ trong tình yêu Cơ-đốc. Thì của hai động từ được dùng ở đây cho thấy sự tin tưởng của Phao-lô rằng thư tín này sẽ đạt được mục đích của nó. Tuy vậy, ông cũng khen ngợi họ vì “nếp sống ngay ngắn” và “đức tin vững vàng nơi Đấng Cơ-đốc” (Cô-lô-se 2:5).

Từ Hy Lạp taxis, dịch là “nếp sống ngay ngắn” hay “trật tự” được dùng trong Tân Ước liên quan đến các hàng ngũ tư tế của A-rôn (Lu-ca 1:8; Hê-bơ-rơ 7:11) và Mên-chi-xê-đéc (Hê-bơ-rơ 5:6,10; 6:20; 7:11,17). Nhưng Phao-lô áp dụng từ này cho “trật tự” trong Hội Thánh (1 Cô-rinh-tô 14:40), bao gồm cả trong thư này. Đôi khi có xu hướng xem tổ chức Hội Thánh chỉ là một thiết chế hành chính, không có ý nghĩa thần học. Tuy nhiên, qua việc đưa ra hướng dẫn cụ thể về việc thờ phượng cách trang nghiêm (xem 1 Cô-rinh-tô 11), và chỉ định cách chọn trưởng lão, chấp sự (1 Ti-mô-thê 3; Tít 1), Phao-lô rất cẩn thận để giữ gìn trật tự trong Hội Thánh. Nhờ những biện pháp đó, sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời và giáo lý Kinh Thánh được bảo tồn và truyền đạt.

Kết quả là, nhờ giáo lý đúng đắn mà các tín hữu tại Cô-lô-se nhận được từ những cộng sự của Phao-lô, họ có “đức tin vững vàng.”. Đức tin ấy không thể bị lung lay vì được đặt nền trên nền tảng Kinh Thánh vững chắc, nếu họ tiếp tục giữ vững, thì điều đó sẽ giúp họ được bảo vệ khỏi những sai lạc do các giáo sư giả truyền bá.

Bạn từng có kinh nghiệm thế nào với nhu cầu về "trật tự" trong đời sống tâm linh của mình?

Thứ Hai - "Được Bén Rễ Và Tăng Trưởng Trong Đấng Cơ-đốc"

Chủ đề của sách Cô-lô-se là một trong những châm ngôn rõ ràng nhất cho đời sống Cơ-đốc:

“Anh em đã nhận Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc thể nào, thì hãy bước đi trong Ngài thể ấy” (Cô-lô-se 2:6). Chúng ta nhận được sự cứu rỗi khi tiếp nhận Con Người, chứ không chỉ là một hệ thống giáo lý. Tuy nhiên, tiếp nhận Đức Chúa Giê-su cũng bao gồm việc chấp nhận mọi lời dạy của Ngài, được truyền qua các sứ đồ và các đấng tiên tri trong Kinh Thánh (xem Ê-phê-sô 2:20).

Trên hết, tiếp nhận Đấng Cơ-đốc đồng nghĩa với việc chết đi bản ngã, hoàn toàn đầu phục chính mình với Đấng Cơ-đốc hằng sống.

Ngôi Lời sống (Đức Chúa Giê-su) không thể tách rời khỏi Lời chép (Kinh Thánh). Chúng là hai mặt của cùng một đồng tiền. Thật ra, chỉ qua Kinh Thánh, chúng ta mới có thể biết được Đức Chúa Giê-su là ai. Chúng ta “bước đi” hay sống “trong Ngài” có nghĩa là để lời Ngài và Thánh Linh Ngài hướng dẫn mọi quyết định và hành động trong đời sống chúng ta.

Trong Cô-lô-se 2:7, Phao-lô dùng một hình ảnh rất phổ biến trong Kinh Thánh: ví người tin Chúa như cây cối. Chúng ta được bén rễ trong Đấng Cơ-đốc khi tiếp nhận Ngài làm Cứu Chúa và sắp xếp cuộc sống mình theo lời Ngài. Đó là cách chúng ta được vững lập trong đức tin.

Những phân đoạn nào sau đây làm sáng tỏ hình ảnh cây trồng như là biểu tượng của tín hữu? (Xem Ê-sai 61:3; Ma-thi-ơ 3:10; Lu-ca 8:11–15; 1 Cô-rinh-tô 3:6)

Phao-lô nêu rõ hai lựa chọn cho người tin Chúa: Một là tiếp tục là “cây mà Đức Giê-hô-va đã trồng” (Ê-sai 61:3), tiếp tục được trọn vẹn trong Đấng Cơ-đốc bằng cách nắm giữ Ngài và lời dạy của Ngài. Hai là giống như cây giả, trông có vẻ sống động nhưng thực ra là vô hồn. Khi tiếp nhận triết lý và truyền thống của loài người, chúng ta bị “bắt phục làm phu tù” (Cô-lô-se 2:8). Mặc dù Đấng Cơ-đốc đã giải phóng chúng ta, nhưng vẫn có khả năng chúng ta bị nô lệ trở lại dưới ách của luật lệ con người (Ga-la-ti 5:1; so sánh Công-vụ 15:10).

Tóm lại, khi chấp nhận những giáo lý không theo Kinh Thánh là chúng ta đang từ chối chính Đấng Cơ-đốc, bởi vì những ai tin theo giáo lý sai lạc đã vô tình theo một phúc âm khác, và đặt uy quyền của con người trên uy quyền của Kinh Thánh (xem Ga-la-ti 1:6–9). Đó là mối nguy trong Hội Thánh ban đầu, và ngày nay vẫn còn.

Bạn đã từng có kinh nghiệm gì về ý nghĩa của việc chết đi bản ngã để tiếp nhận Đấng Cơ-đốc? Tại sao điều đó phải là một tiến trình liên tục?

Thứ Ba - "Đóng Đinh Trên Thập Tự Giá"

Đọc Cô-lô-se 2:11–15. Phao-lô dường như đang chống lại những vấn đề gì ở đây?

Bao nhiêu lần chúng ta đã thấy những câu Kinh Thánh này, đặc biệt là Cô-lô-se 2:14, bị lạm dụng như một lập luận chống lại ngày Sa-bát thứ bảy? Để hiểu rõ các câu Kinh Thánh này, có hai cách giải thích chính đã được đề xuất bởi các tín hữu Cơ-đốc Phục Lâm: Thứ nhất, “chữ viết tay” bị đóng đinh trên thập tự giá là bản cáo trạng buộc tội “chống lại chúng ta,” tương tự như bảng ghi mà Phi-lát treo trên cây thập tự của Đức Chúa Giê-su (Ma-thi-ơ 27:37; Giăng 19:19–20).

Hoặc, thứ hai, đó là luật nghi lễ do Môi-se chép ra (xem Phục-truyền 31:24–26) đã bị đóng đinh trên thập tự giá. Khi chúng ta xem xét câu này trong bối cảnh rộng hơn, chúng ta có thể thấy rõ rằng Phao-lô đang nói về luật nghi lễ. Phao-lô cũng nhắc đến “sự cắt bì không phải bởi tay người ta làm nên” (Cô-lô-se 2:11), tức là “trong lòng” (Rô-ma 2:28–29; so sánh với Phục-truyền 30:16), đối lập với phép cắt bì bằng xác thịt, một trong những yêu cầu quan trọng nhất của luật nghi lễ (Lê-vi Ký 12:3; so sánh Xuất Ê-díp-tô Ký 12:48). Phao-lô sau đó liên kết sự thay đổi nội tâm này với việc “lột bỏ thân thể xác thịt tội lỗi” và với phép báp-tem bằng cách dìm mình xuống nước. Qua phép báp-tem này, chúng ta đồng hóa chính mình với sự chết và sự sống lại của Đấng Cơ-đốc (Cô-lô-se 2:11–12). Kinh nghiệm biến đổi này được mô tả như đã từng “chết vì tội lỗi” và “được làm cho sống lại với Đấng Cơ-đốc,” Đấng “tha thứ mọi tội lỗi cho chúng ta” (Cô-lô-se 2:13).

Từ “quy định” (Cô-lô-se 2:14) ám chỉ các sắc lệnh hợp pháp, dù là dân sự (Lu-ca 2:1; Công vụ 17:7) hay thuộc về giáo hội (Công-vụ 16:4). Trong các thư tín của Phao-lô, từ Hy Lạp này chỉ xuất hiện một lần nữa để nói đến luật nghi lễ, bức tường ngăn cách giữa người Do Thái và dân Ngoại (Ê-phê-sô 2:14–15). Bởi vì Phao-lô đã đề cập đến sự tha thứ tội lỗi và sự thay đổi nội tâm được tượng trưng qua phép báp-tem, nên không có khả năng ông quay lại đề tài đó một lần nữa bằng một ẩn dụ khác không được dùng ở nơi nào khác trong Kinh Thánh. Thay vào đó, Phao-lô dường như đang nhấn mạnh một điểm tương tự như trong thư Ê-phê-sô: rằng các tín hữu Ngoại bang tại Cô-lô-se không cần lo lắng về việc giữ luật nghi lễ, kể cả phép cắt bì, cũng như những luật lệ thanh sạch kèm theo (so sánh Công-vụ 10:28, 34–35). Rõ ràng, Phao-lô không nói rằng Mười Điều Răn đã bị đóng đinh trên thập tự giá, bởi vì ở nơi khác ông đã định nghĩa tội lỗi là sự vi phạm Mười Điều Răn (Rô-ma 7:7).

Thứ Tư - "Bóng Hay Thực Chất?"

Đọc Cô-lô-se 2:16–19. Những thực hành của tín hữu Cơ-đốc-Do Thái được Phao-lô đề cập ở đây là gì?

Cho đến ngày nay, các học giả vẫn chưa hoàn toàn đồng thuận về vấn đề cụ thể mà Phao-lô đang đề cập ở đây. Tuy nhiên, điều mà chúng ta có thể chắc chắn là bức thư của Phao-lô cung cấp khá nhiều thông tin cho thấy có một ảnh hưởng gây chia rẽ từ các tín hữu Do Thái trong Hội Thánh chủ yếu là tín hữu Ngoại bang này (Cô-lô-se 2:13). Tức là, những tín hữu Do Thái đang thúc ép các điều không cần thiết đối với các thành viên để làm theo.

Rõ ràng, Cô-lô-se 2:16 liệt kê một số thực hành thường xuyên của người Do Thái mà dường như vẫn tiếp tục được duy trì bởi một số người Do Thái đã tin nhận Đấng Cơ-đốc. Nhưng ngay cả những điều được đề cập trong Cô-lô-se 2:18 cũng phù hợp với bối cảnh đó. Đức Chúa Giê-su đã chỉ trích sự khiêm nhường giả tạo nơi các nhà lãnh đạo tôn giáo (ví dụ: Ma-thi-ơ 6:1,5,7,16). Từ các cuộn sách Qum-ran, chúng ta biết rằng thiên sứ giữ vai trò nổi bật trong một số quan niệm thờ phượng của người Do Thái. Vì thế, những vấn đề mà Phao-lô đang đối diện tại Cô-lô-se rất có thể tương tự với những gì ông từng đương đầu ở những nơi khác.

Vì Cô-lô-se 2:16 thường bị hiểu sai, nên điều quan trọng là cần xem xét kỹ hơn. Lưu ý những điểm sau:

  • Phao-lô dùng từ “vậy nên” (bản ESV, tiếng Anh) cho thấy ông đang kết luận từ những điều đã nói trước đó. Trước đó, ông đã bác bỏ sự cần thiết của phép cắt bì theo nghĩa đen, vì điều quan trọng là sự thay đổi trong lòng (Cô-lô-se 2:11–15).
  • “Đồ ăn uống” đề cập đến các của lễ thức ăn và thức uống mà người Y-sơ-ra-ên dâng trong đền thờ.
  • Việc nêu rõ “ngày lễ, ngày đầu tháng, hay ngày Sa-bát” (Cô-lô-se 2:16, bản NKJV) dường như ám chỉ Ô-sê 2:11, nơi chuỗi ngày lễ nghi tương tự được nhắc đến, bao gồm các ngày Sa-bát lễ nghi (xem ví dụ: Lê-vi Ký 23:11,24,32).

Điều then chốt để hiểu câu Kinh Thánh này là cách Phao-lô tự giải thích: “ấy là bóng của những điều sẽ đến, nhưng hình thật thì thuộc về Đấng Cơ-đốc” (Cô-lô-se 2:17). Những ngày lễ nghi này, cũng như các của lễ, đều chỉ về công việc của Đấng Cơ-đốc (xem 1 Cô-rinh-tô 5:7; 15:23). Ngược lại, ngày Sa-bát thứ bảy được thiết lập từ Ê-đen, trước khi có tội lỗi, và từ lâu trước khi có các nghi lễ của đền tạm; vì thế, ngày Sa-bát thứ bảy không phải là cái bóng để bị hủy bỏ sau thập tự giá.

Mặc dù ngày Sa-bát thứ bảy không phải là vấn đề được nêu ra ở đây, nhưng bạn có thể áp dụng lời khuyên của Phao-lô về việc không xét đoán người khác như thế nào?

Thứ Năm - "Những Điều Răn Của Loài Người"

Đọc Cô-lô-se 2:20–23. Bạn hiểu những lời khuyên của Phao-lô như thế nào trong bối cảnh những yếu tố khác đã được thảo luận trong đoạn này?

Cũng như thư gửi tín hữu Ga-la-ti, Phao-lô mô tả mối quan tâm đến việc giữ các nghi lễ Do Thái là “các yếu tố sơ học của thế gian” (Cô-lô-se 2:8,20; so sánh Ga-la-ti 4:3,9). Nói cách khác, giống như đền thờ dưới đất, những điều này thuộc về thế gian, trong khi chúng ta là công dân trên trời. Chúng ta không bị ràng buộc bởi luật nghi lễ vì những điều đó chỉ là cái bóng của thực tại mà chúng ta hiện đang hưởng qua Đấng Cơ-đốc. Dù ban đầu các điều ấy được Đức Chúa Trời ban ra, nhưng sau khi hoàn thành mục đích của nó, chúng không còn cần thiết nữa.

Vì tất cả các quy định ấy đã bị loại bỏ trên thập tự giá, điều này được thể hiện qua việc bàn tay của Đức Chúa Trời xé đôi bức màn đền thờ (Ma-thi-ơ 27:51; so sánh Đa-ni-ên 9:27), nên các tín hữu (bao gồm cả những người Do Thái tin nhận Đấng Cơ-đốc) không còn phải tuân theo các quy định ấy nữa. Nếu tiếp tục thuận phục những quy tắc đó, tức là chúng ta đang tự đồng hóa mình với thế gian này, vốn đang qua đi, thay vì với thế giới mới đã được hứa ban trong Đấng Cơ-đốc.

Dù sao thì, chúng ta đang hướng về “trời mới và đất mới, nơi sự công bình ngự trị” (2 Phi-e-rơ 3:13), chứ không chỉ là sự cải tạo của thế giới cũ này. Ngoài ra, các người Pha-ri-si và thầy dạy luật đã thêm vào những quy tắc của loài người trên nền tảng các quy định của Môi-se (xem Mác 7:1–13), nên việc tiếp tục duy trì các nghi lễ Cựu Ước, vốn đã được Đấng Cơ-đốc làm trọn, không thể còn được xem là thiêng liêng, mà chỉ là nghĩa vụ do con người đặt ra. Thật vậy, dường như chúng đã trở thành gánh nặng cho đức tin, thay vì giúp ích cho đức tin. Rất dễ để bắt đầu nhìn vào việc thực hành các điều này như là cách để khiến bản thân trở nên vượt trội hơn người khác, điều này vốn đã là xấu, và thậm chí nguy hiểm hơn, là ngầm cho rằng chúng có giá trị để được cứu rỗi, một cái bẫy mà chúng ta không nên rơi vào.

Trong suốt lịch sử Cơ-đốc, nhiều học giả Kinh Thánh đã bị cám dỗ để đưa ra các tuyên bố giáo điều, chiếm lấy vai trò của Đức Thánh Linh trong việc dẫn dắt tín hữu hiểu được ý nghĩa thật sự của Kinh Thánh. Đấng Cơ-đốc chính là suối nguồn chân lý của Kinh Thánh như được Phao-lô và các tác giả Kinh Thánh khác dạy dỗ.

Làm sao chúng ta có thể chắc chắn rằng nền tảng duy nhất cho sự cứu rỗi của mình chính là điều Đức Chúa Giê-su đã làm thay cho chúng ta, ở bên ngoài chúng ta, bất kể điều Ngài đang làm trong chúng ta?

Thứ Sáu - NGHIÊN CỨU BỔ TÚC

“Cũng như trong thời các sứ đồ, người ta đã cố gắng dùng truyền thống và triết học để phá hoại đức tin trong Kinh Thánh, thì ngày nay, bằng những tư tưởng hấp dẫn của phê bình cao cấp (higher criticism), thuyết tiến hóa, thuyết linh hồn bất tử (spiritualism), thần trí học (theosophy) và thuyết phiếm thần (pantheism), kẻ thù của sự công bình đang tìm cách dẫn dắt các linh hồn đi vào những con đường cấm đoán. Đối với nhiều người, Kinh Thánh giống như ngọn đèn không có dầu, bởi vì tâm trí họ đã bị dẫn dắt vào những lối suy đoán làm cho họ hiểu sai và bối rối. Công việc của phê bình cao cấp, mổ xẻ, phỏng đoán, tái cấu trúc đang phá hủy đức tin vào Kinh Thánh như là sự mặc khải của Đức Chúa Trời. Nó đang tước đoạt quyền năng của Lời Chúa trong việc gìn giữ, nâng cao và cảm hóa đời sống con người. Qua thuyết linh hồn bất tử, nhiều người bị dạy rằng ước muốn là luật pháp tối thượng, rằng phóng túng là tự do, và rằng con người chỉ chịu trách nhiệm cho chính mình.

Người theo Đấng Cơ-đốc sẽ đối diện với những ’lời lẽ khôn khéo dụ dỗ’ mà sứ đồ đã cảnh báo các tín hữu Cô-lô-se. Họ sẽ gặp phải những cách giải nghĩa Kinh Thánh mang tính thần bí (spiritualistic), nhưng họ không chấp nhận những cách giải nghĩa đó. Tiếng nói của họ phải vang lên cách rõ ràng, khẳng định lẽ thật đời đời của Kinh Thánh. Giữ mắt mình chăm chú vào Đấng Cơ-đốc, họ phải vững bước tiến tới con đường đã được chỉ ra, từ bỏ mọi quan điểm không phù hợp với dạy bảo của Ngài. Lẽ thật của Đức Chúa Trời phải là đề tài cho sự suy gẫm và chiêm nghiệm của họ. Họ phải xem Kinh Thánh như là tiếng phán của Đức Chúa Trời nói trực tiếp với mình. Như vậy, họ sẽ tìm thấy sự khôn ngoan đến từ trời.”, Ellen G. White, Công Vụ Các Sứ Đồ, trang 474–475.

Câu hỏi thảo luận:

Câu "Vì sự đầy dẫy của bản tánh Đức Chúa Trời thảy đều ở trong Đấng ấy như có hình. Anh em lại nhờ Ngài mà có được đầy dẫy mọi sự" (Cô-lô-se 2:9–10) có ý nghĩa gì? Hãy xem thêm Giăng 1:1, Hê-bơ-rơ 1:3 và 1 Phi-e-rơ 3:22.

Chúng ta đã từng nghe Cô-lô-se 2:14–16 được dùng để phản bác ngày Sa-bát thứ bảy. Ngoài những điểm bài học tuần này đã nêu, còn những vấn đề gì khác khi dùng các câu Kinh Thánh này để cho rằng chúng ta không cần giữ điều răn thứ tư?

Bạn xử trí thế nào với những người khẳng định rằng chúng ta phải giữ các luật lễ nghi? Dù có thể có giá trị tâm linh nào đó trong việc gìn giữ chúng, nhưng việc khẳng định rằng phải giữ chúng gây ra những vấn đề gì?

Bà Ellen G. White viết rằng chúng ta nên xem Kinh Thánh "như là tiếng phán của Đức Chúa Trời nói trực tiếp với mình". Vậy tại sao chúng ta cần cẩn thận và cảnh giác với bất cứ ai hay điều gì làm suy yếu đức tin của chúng ta vào thẩm quyền và sự soi dẫn của toàn bộ Kinh Thánh, ngay cả những phần khiến chúng ta không thoải mái?