Bài Học 9 · 23 – 29 Tháng 8

Sống theo luật pháp Ngài

Kinh Thánh Nghiên Cứu: Xuất Ê-díp-tô Ký 21:1-32; 22:16-23:33; 2 Các Vua 19:25; Ma-thi-ơ 5:38-48; Rô-ma 12:19; Ma-thi-ơ 16:27

"Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Ngươi hãy nói cho dân Y-sơ-ra-ên như vầy: Các ngươi đã thấy ta từ trên trời phán xuống cùng; vậy, chớ đúc tượng thần bằng bạc hay bằng vàng mà sánh với ta" — Xuất Ê-díp-tô Ký 20:22,23
Sa-bát Sống theo luật pháp Ngài

Câu gốc

“Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Ngươi hãy nói cho dân Y-sơ-ra-ên như vầy: Các ngươi đã thấy ta từ trên trời phán xuống cùng; vậy, chớ đúc tượng thần bằng bạc hay bằng vàng mà sánh với ta” (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:22,23)

Kinh Thánh nghiên cứu

Xuất Ê-díp-tô Ký 21:1-32; 22:16-23:33; 2 Các Vua 19:25; Ma-thi-ơ 5:38-48; Rô-ma 12:19; Ma-thi-ơ 16:27.

Đức Chúa Trời mong muốn dân sự Ngài trở nên khác biệt với các dân tộc xung quanh. Ngài muốn họ được thiết lập như nhóm người được liên kết trong niềm tin của Đức Chúa Trời, sống dưới sự lãnh đạo và quyền tể trị của Ngài. Mọi người đều phải tuân theo luật pháp của Ngài. Các quan xét được bổ nhiệm làm người gìn giữ luật pháp và các thầy tế lễ có nhiệm vụ dạy dỗ luật pháp. Cha mẹ cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng.

Trong bất kỳ nền văn hóa nào, luật pháp bày tỏ lý tưởng, mục tiêu, ý định, và bản chất của người lập ra luật pháp đó. Ví dụ, khi Pha-ra-ôn ra lệnh giết tất cả các bé trai người Hê-bơ-rơ, luật này đã bày tỏ bản chất của ông: gian ác. Ngược lại, nếu một vị vua ban hành luật rằng mọi người 18 tuổi trong vương quốc sẽ được hưởng giáo dục cao hơn miễn phí, nhiều người sẽ xem đây là bằng chứng về sự rộng lượng và mong muốn quốc gia thịnh vượng của vị vua ấy.

Luật pháp của Đức Chúa Trời bày tỏ chính Ngài, cụ thể là sự tốt lành, tình yêu thương, giá trị, sự công bình và các giới hạn của Ngài đối với điều ác. Vì luật pháp là thánh và công bình, Đức Chúa Trời cũng vậy. Trong khi tạo không gian cho một cuộc sống dồi dào, luật pháp cũng giúp bảo vệ chúng ta khỏi những nguy hiểm và tai họa. Sự kính trọng đối với Đức Chúa Trời, đối với nhau, và đối với các giá trị của cuộc sống là nền tảng của hệ thống pháp luật mà Ngài lập ra.

* Nghiên cứu bài học tuần này để chuẩn bị cho Sa-bát ngày 30 tháng 8.

Thứ Nhất Luật Giao Ước

Tại núi Si-nai, khi Ngài ban hành luật pháp, Đức Chúa Trời đã đặt nền tảng để dạy dỗ dân Ngài cách sống thánh khiết qua sự liên kết với Ngài. Nhưng những nguyên tắc của luật pháp cần được áp dụng trong đời sống hằng ngày, vì vậy Đức Chúa Trời đã ban thêm những luật khác, được gọi là “Luật Giao Ước”. Các quan xét có trách nhiệm trông coi những luật này và áp dụng chúng đúng cách.

“Tâm trí của dân sự, vốn bị mù lòa và hư hỏng bởi chế độ nô lệ và thói thờ hình tượng, chưa sẵn sàng để hiểu rõ những nguyên tắc sâu rộng của mười điều răn của Đức Chúa Trời. Để nghĩa vụ của Mười Điều Răn được hiểu rõ và được tuân giữ đầy đủ hơn, Đức Chúa Trời đã ban thêm những luật lệ khác, minh họa và áp dụng các nguyên tắc của Mười Điều Răn. Những luật này được gọi là các phán quyết, vì chúng được thiết lập dựa trên sự khôn ngoan và công bằng vô hạn và vì các quan xét phải đưa ra phán quyết dựa trên những luật này. Khác với Mười Điều Răn, chúng được ban riêng cho Môi-se, người sau đó sẽ truyền lại cho dân sự.” - Ellen G. White, sách Tộc trưởng và Tiên Tri, trang 310.

Đọc Xuất Ê-díp-tô Ký 21:1–32. Những quy định cụ thể nào được đưa ra về nô lệ Hê-bơ-rơ, giết người và thương tích thân thể?

Luật Giao Ước được miêu tả trong nhiều đoạn (Xuất Ê-díp-tô Ký 21:1–23:19). Tất cả những quy định và luật pháp này được ban hành nhằm ngăn chặn sự lan tràn của điều ác và xây dựng một xã hội trật tự.

Luật về chế độ nô lệ là đặc biệt và không nên nhầm lẫn với chế độ nô lệ ác nghiệt của thời hiện đại hoặc thời trung cổ. Nô lệ Hê-bơ-rơ thực ra được bảo vệ và coi trọng. Trong các xã hội hiện đại và trung cổ, người hầu và nô lệ là tài sản của chủ nhân, người có quyền làm bất cứ điều gì họ muốn với họ. Ngược lại, luật pháp Kinh Thánh quy định điều này theo cách khác. Sự phục vụ chỉ kéo dài sáu năm (Xuất Ê-díp-tô Ký 21:1-2; Giê-rê-mi 34:8–22) và đến năm thứ bảy, mọi nô lệ đều phải được tự do, trừ khi họ muốn ở lại với chủ. Các chủ nhân cũng phải cho họ nghỉ ngày Sa-bát (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:9-10) và chu cấp những nhu cầu cơ bản của họ.

Dù trên hầu hết thế giới, chế độ nô lệ thể chế hóa đã phần lớn bị bãi bỏ, nhưng những nguyên tắc của nó vẫn tồn tại ở một số dạng khác. Chúng ta có thể làm gì, trong phạm vi giới hạn của mình, để chống lại những nguyên tắc này?

Thứ Hai Nhiều Luật Lệ Hơn

Trong sự thương xót của Đức Chúa Trời, Ngài đã dạy các quan xét cách xử lý các tình huống liên quan đến quyền sở hữu tài sản. Nhiều trường hợp cụ thể đã được liệt kê, chỉ rõ cách giải quyết khi con bò của một người tấn công con bò của người láng giềng, khi một người ăn trộm gia súc và bán nó, khi súc vật đi gặm cỏ trên đồng ruộng hoặc vườn nho của chủ khác, khi một đồ vật mà ai đó mượn bị mất cắp, hoặc khi một con vật được thuê bị thương hoặc chết (Xuất Ê-díp-tô Ký 21:33–22:15).

Đọc Xuất Ê-díp-tô Ký 22:16–23:9. Những vấn đề nào được đề cập trong các luật này và cách giải quyết làm sao?

Luật pháp của Đức Chúa Trời bao gồm nhiều vấn đề khác nhau. Các quy định cụ thể cấm việc làm nhục hoặc hạ thấp người khác. Đức Chúa Trời không muốn bất kỳ hình thức bóc lột nào tồn tại. Trong sự thương xót của Ngài, Đức Chúa Trời sửa đổi những khuynh hướng tội lỗi của lòng người và kiềm chế những bản năng tự nhiên của họ. Xã hội phải được giữ an toàn, điều ác bị loại trừ và các mối quan hệ giữa con người được phát triển tốt đẹp. Công lý và tình yêu phải chi phối mọi hành động.

Đọc Xuất Ê-díp-tô Ký 23:10–19. Những vấn đề quan trọng nào được đề cập ở đây?

Ngày Sa-bát và các lễ hội: Ngày Sa-bát và các lễ hội liên quan đến sự thờ phượng và là những lời nhắc nhở về các sự kiện quan trọng trong lịch sử cứu rỗi. Sự thờ phượng được điều chỉnh một cách cẩn thận vì đây là nền tảng thần học cho tất cả các hoạt động khác.

Ngày Sa-bát được thiết lập từ lúc sáng thế (Sáng-thế Ký 2:2-3; Xuất Ê-díp-tô Ký 20:8-11), liên kết với sự giải cứu và cứu chuộc dân Y-sơ-ra-ên (Phục-truyền Luật-lệ Ký 5:12-15), và một cách mạnh mẽ, chỉ ra sự thờ phượng Đức Chúa Trời là Đấng Sáng Tạo, Đấng Cứu Chuộc, và Chúa của chúng ta (Mác 2:27-28).

Ngoài ra, dân Y-sơ-ra-ên được yêu cầu tổ chức ba lễ hội quan trọng mỗi năm: 1) Lễ Vượt Qua hoặc Lễ Bánh Không Men vào mùa xuân (thường từ giữa tháng Ba đến giữa tháng Tư). 2) Lễ Ngũ Tuần, còn gọi là Lễ Mùa Gặt (hoặc Lễ Các Tuần), diễn ra bảy tuần sau lễ trước, bắt đầu 50 ngày sau đó. 3) Lễ Lều Tạm (hoặc Lễ Hội Gặt Hái Cuối Mùa) vào mùa thu (thường từ giữa tháng Chín đến giữa tháng Mười), xem thêm: Xuất Ê-díp-tô Ký 34:18–26; Lê-vi Ký 23:4–44; Dân-số Ký 28:16–29:40; Phục-truyền Luật-lệ Ký 16:1–16.

Thứ Ba Kế Hoạch Ban Đầu Của Đức Chúa Trời

Đọc Xuất Ê-díp-tô Ký 23:20–33. Những phương cách nào Đức Chúa Trời muốn dùng để chinh phục Đất Hứa?

Đức Chúa Trời không có ý định để dân Y-sơ-ra-ên phải chiến đấu để giành lãnh thổ mới của họ; vùng đất đó được ban tặng cho họ như một món quà. Đây là lời hứa dành cho Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp và họ đáng lẽ phải tiếp nhận như món quà đặc biệt của Đức Chúa Trời dành cho dân Y-sơ-ra-ên.

Mẫu mực cho việc chinh phục Đất Hứa đã được minh chứng trong sự kiện vượt Biển Đỏ. Đức Chúa Trời chiến đấu thay cho dân Ngài và ban cho họ chiến thắng hoàn toàn trước những kẻ có ý định tiêu diệt họ (Xuất Ê-díp-tô Ký 14:13,14). Người Ai Cập bị đánh bại vì Đức Chúa Trời đã can thiệp một cách kỳ diệu. Tương tự, trong thời vua San-chê-ríp của A-si-ri, Đức Chúa Trời cũng đánh bại đội quân A-si-ri hùng hậu, được trang bị đầy đủ và huấn luyện bài bản, mà không cần dân Y-sơ-ra-ên phải tham chiến. Đức Chúa Trời ban chiến thắng vì Vua Ê-xê-chia đã tin vào lời Đức Chúa Trời qua tiên tri Ê-sai (2 Các Vua 19:35; Ê-sai 37:36).

Đức Chúa Trời đã thông báo trước cho Áp-ra-ham rằng Đất Hứa sẽ không được ban ngay lập tức cho hậu duệ của ông mà phải sau 400 năm (Sáng-thế Ký 15:13–16). Tại sao? Lý do liên quan đến sự gian ác của cư dân xứ Ca-na-an. Đức Chúa Trời trong sự thương xót đã làm việc với dân đó, ban cho họ thêm một thời kỳ ân điển để ăn năn. Tuy nhiên, họ tiếp tục phản nghịch chống lại Đức Chúa Trời và những giá trị của Ngài, nên khi tội ác của họ đã đầy trọn, Đức Chúa Trời sẵn sàng ban lãnh thổ của họ làm quê hương mới cho dân Hê-bơ-rơ. Ngoài ra, Đức Chúa Trời hứa sẽ đuổi các dân tộc ra khỏi xứ trước dân Y-sơ-ra-ên bằng hai cách lạ thường nhưng rất hiệu quả: 1) Gieo rắc sự kinh hoàng và sợ hãi đến các dân gian ác. 2) Dùng những bầy ong vò vẽ (ong bắp cày) để xua đuổi họ. Trước khi dân Y-sơ-ra-ên đến vùng lãnh thổ mới, kẻ thù của họ sẽ bỏ xứ và “quay lưng bỏ chạy” (Xuất Ê-díp-tô Ký 23:27,28).

Vai trò quan trọng trong việc chinh phục Đất Hứa được thực hiện bởi Thiên sứ của Đức Chúa Trời. Thiên sứ ấy chính là Đấng Cơ-đốc, Đấng đã dẫn dắt dân Y-sơ-ra-ên, chinh phục lãnh thổ và bảo vệ họ. Ngài là trụ mây dẫn đường ban ngày và trụ lửa bảo vệ ban đêm. Dân Y-sơ-ra-ên phải chú ý lắng nghe và vâng lời Ngài vì Ngài có thẩm quyền thiêng liêng (Xuất Ê-díp-tô Ký 23:21). Việc chống đối ý muốn Đức Chúa Trời và không tin cậy sự lãnh đạo của Ngài sẽ làm phức tạp hành trình của họ.

Ý tưởng rằng Đức Chúa Trời ban cho những người ngoại giáo nhiều năm để thay đổi đời sống dạy chúng ta điều gì về ân điển của Ngài, nhưng cũng về giới hạn của ân điển đối với những ai từ chối chấp nhận?

Thứ Tư Mắt Đền Mắt

Đọc Ma-thi-ơ 5:38–48, Đức Chúa Giê-su giải thích luật báo thù như thế nào? Chúng ta nên áp dụng nó ra sao ngày nay?

Trong Bài Giảng Trên Núi, Đức Chúa Giê-su đã trích dẫn các đoạn Kinh Thánh từ Cựu Ước - những đoạn mà dân chúng chắc chắn đã quen thuộc. Tuy nhiên, Ngài không nói nghịch lại Kinh Thánh mà đang bác bỏ cách giải thích của các thầy thông giáo và người Pha-ri-si, vì qua nhiều thế kỷ, họ đã đi lệch khỏi mục đích ban đầu của những luật lệ này. Truyền thống của loài người không những che khuất ý định của Lời Đức Chúa Trời mà trong một số trường hợp (chẳng hạn như luật lệ về ngày Sa-bát), thậm chí còn bóp méo ý nghĩa thật của các điều răn ấy. Qua lời dạy của Ngài, Đức Chúa Giê-su đang khôi phục lại ý nghĩa ban đầu của luật pháp Đức Chúa Trời.

Tám phước lành trên núi, Đức Chúa Giê-su tìm cách sửa lại những sự giải thích sai lạc khi hướng thính giả trở lại với ý định và ý nghĩa nguyên thủy của những điều luật này.

Phân đoạn trong Xuất Ê-díp-tô Ký 21:24 nói về “mắt đền mắt, răng đền răng,” được trích dẫn trong Ma-thi-ơ 5:38 (“Các ngươi có nghe lời phán rằng… nhưng Ta phán cùng các ngươi…”) và liên quan đến “lex talionis” tức luật báo thù. Luật này cũng được tìm thấy trong Lê-vi Ký 24:20 và Phục-truyền Luật-lệ Ký 19:21.

Ý định ban đầu của luật này là để ngăn chặn sự báo thù cá nhân. Nó nhằm chấm dứt các cuộc báo thù đẫm máu hoặc sự trả thù không qua điều tra thích đáng. Mọi tổn thương phải được đánh giá bởi các quan xét và sau đó sẽ có một khoản tiền bồi thường hợp lý được ấn định để trả cho nạn nhân. Quy trình này nhằm ngăn cản con người tự mình thi hành công lý theo cách riêng của họ. Công lý phải được thực hiện, nhưng nó phải tuân theo luật pháp của Đức Chúa Trời.

Chính Đức Chúa Giê-su - Đấng đã ban các luật lệ này cho Môi-se biết rõ mục đích của luật pháp, nên Ngài có thể áp dụng nó một cách khách quan theo đúng ý định ban đầu. Mục đích của luật này là mang lại công lý, sự hòa giải và khôi phục hòa bình.

Một số người có thể lập luận rằng công lý cũng có phần nào gắn với sự báo thù. Tuy nhiên, việc áp dụng đúng luật pháp này dường như là một nỗ lực để tìm ra sự cân bằng giữa công lý và báo thù.

Làm thế nào việc nhận thức rằng một ngày nào đó công lý sẽ được thực thi có thể giúp bạn đối diện với tất cả sự bất công mà chúng ta thấy trong thế giới ngày nay?

Thứ Năm Sự Báo Thù

“Hỡi kẻ rất yêu dấu của tôi ơi, chính mình chớ trả thù ai, nhưng hãy nhường cho cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời; vì có chép lời Chúa phán rằng: Sự trả thù thuộc về ta, ta sẽ báo ứng” (Rô-ma 12:19; Phục-truyền Luật-lệ Ký 32:35).

Lời hứa và mệnh lệnh nào được tìm thấy trong những câu Kinh Thánh này và chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau như thế nào?

Cho đến khi Chúa mang lại sự công lý đang thiếu trong thế giới hiện tại, các quan xét trong dân Y-sơ-ra-ên thời cổ đại có trách nhiệm thực thi luật pháp và xác định hình phạt công bằng khi có tổn hại hoặc thương tích xảy ra. Nhưng trước tiên, họ cần có đầy đủ sự thật.

Vấn đề nằm ở chỗ: các thầy dạy luật vào thời của Đấng Cơ-đốc đã áp dụng luật này theo cách mở đường cho sự báo thù cá nhân. Bằng cách làm như vậy, họ đã lấy nguyên tắc ra khỏi bối cảnh của nó và bỏ lỡ ý định ban đầu của Đức Chúa Trời. Kết quả là, họ bảo vệ điều mà luật pháp thực ra đã nghiêm cấm.

Hãy đọc Ma-thi-ơ 6:4,6; Ma-thi-ơ 16:27; Lu-ca 6:23 và 2 Ti-mô-thê 4:8. Những câu Kinh Thánh này nói gì về cách Đức Chúa Giê-su nhìn nhận nguyên tắc về thưởng và phạt?

Đức Chúa Giê-su không chống lại nguyên tắc về thưởng và phạt. Công lý là một nguyên tắc quan trọng, là một phần không thể thiếu trong cuộc sống. Tuy nhiên, không ai được tự ý đóng vai trò quan xét, bồi thẩm đoàn, và “người thi hành án.” Nếu tự mình trả thù, con người rất dễ làm sai lệch sự công bằng. Việc xử lý điều ác phải được thực hiện bởi một tòa án khách quan; đó là công việc của các quan xét.

Trong bối cảnh này, Đức Chúa Giê-su dạy rằng chúng ta phải nên hoàn thiện như “Cha các ngươi ở trên trời là toàn vẹn”. Làm sao chúng ta có thể trọn vẹn như chính Đức Chúa Trời? Đặc điểm lớn nhất của Ngài là tình yêu vô vị kỷ. Ngài dạy môn đồ cách yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những người bắt bớ mình. Sự trọn vẹn thật sự là biết yêu thương, tha thứ và thương xót (Lu-ca 6:36), ngay cả với những người không xứng đáng. Chính nguyên tắc này, và những hành động phát sinh từ nó, mới thật sự phản chiếu bản tính của Đức Chúa Trời.

Có những cách nào để mỗi ngày chúng ta học yêu thương như điều Chúa truyền dạy? Tại sao điều này luôn đòi hỏi phải từ bỏ bản thân?

Thứ Sáu Nghiên Cứu Bổ Túc

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC

Đọc tác phẩm “Luật Pháp Ban Cho Dân Y-sơ-ra-ên” trong sách “Tộc Trưởng và Các Tiên Tri” của Ellen G. White, trang 310–314.

Vì chúng ta đang sống trong lãnh thổ của kẻ thù, nên không có gì lạ khi chúng ta bị tổn thương bởi những mưu kế khéo léo và lừa dối của hắn. Ai trong chúng ta chưa từng trải qua đau khổ và thống khổ, tất cả đều do tội lỗi và thế gian sa ngã này mang lại? Đáng buồn thay, đó là một phần của cuộc sống hiện tại. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời ban cho chúng ta sức mạnh để đương đầu.

“Cứu Chúa quý giá của chúng ta sẽ ban sự giúp đỡ đúng lúc chúng ta cần. Con đường lên thiên đàng đã được thánh hóa bởi dấu chân của Ngài. Mỗi cái gai đâm vào chân chúng ta cũng đã từng đâm vào chân Ngài. Mỗi cây thập tự mà chúng ta được gọi để vác, Ngài đã vác trước chúng ta. Chúa cho phép những cuộc xung đột xảy ra để chuẩn bị tâm hồn chúng ta cho sự bình an. Thời kỳ hoạn nạn là một thử thách đáng sợ đối với dân Đức Chúa Trời, nhưng đó cũng là thời điểm để mỗi tín đồ chân thật ngước nhìn lên, và bởi đức tin, họ có thể thấy cầu vòng của lời hứa bao quanh mình.” - Ellen G. White, Thiện Ác Đấu Tranh, trang 633.

Câu hỏi thảo luận:

Qua nhiều thế kỷ, con người luôn trăn trở về việc Đức Chúa Trời đã khiến các quốc gia ngoại giáo bị đuổi khỏi đất của họ, thậm chí có những trường hợp bị tiêu diệt hoàn toàn. Điều này thực sự là một vấn đề gây bối rối. Tuy nhiên, làm thế nào để nhận thức rằng tình yêu của Đức Chúa Trời cũng phải thể hiện qua sự công bình có thể giúp chúng ta tin rằng, ngay cả trong những sự kiện trên?

Hãy suy gẫm thêm về thực tế rằng ngay sau khi Đức Chúa Giê-su nói về việc yêu thương người khác, kể cả kẻ thù và những kẻ ghét chúng ta, Ngài phán: “Vậy các ngươi hãy nên trọn vẹn, như Cha các ngươi ở trên trời là trọn vẹn” (Ma-thi-ơ 5:48). Tại sao Đức Chúa Giê-su lại đưa ra mệnh lệnh này ngay sau những lời dạy về tình yêu thương? Ngài đang nói với chúng ta điều gì về ý nghĩa của việc không chỉ trở nên “trọn vẹn” mà còn trọn vẹn như “Cha trên trời”?

Sứ đồ Phao-lô có một thái độ tích cực và đầy khích lệ đối với luật pháp của Đức Chúa Trời và chức năng của nó, nhưng ông lại phản đối việc lạm dụng luật pháp. Vậy ý nghĩa của câu: “Anh em không ở dưới luật pháp, nhưng ở dưới ân điển” (Rô-ma 6:14) là gì? Những cách nào khiến chúng ta có thể lạm dụng luật pháp?

Sự khác biệt giữa công lý và báo thù là gì? Chúng có hoàn toàn khác nhau hay chỉ là những biểu hiện khác nhau của cùng một khái niệm? Làm sao chúng ta biết được rằng mong muốn đòi lại công lý của mình không phải là một mong muốn báo thù?