Giao ước tại núi Si-nai
Kinh Thánh Nghiên Cứu: Xuất Ê-díp-tô Ký 19:1–20:17; Khải Huyền 21:3; Phục truyền Luật-lệ Ký 5:6–21; Gia-cơ 1:23–25; Rô-ma 3:20–24; Rô-ma 10:4
"Các ngươi đã thấy điều ta làm cho người Ê-díp-tô, ta chở các ngươi trên cánh chim ưng làm sao, và dẫn các ngươi đến cùng ta thể nào. Vậy, bây giờ, nếu các ngươi vâng lời ta và giữ sự giao ước ta, thì trong muôn dân, các ngươi sẽ thuộc riêng về ta, vì cả thế gian đều thuộc về ta. Các ngươi sẽ thành một nước thầy tế lễ, cùng một dân tộc thánh cho ta. Bấy nhiêu lời đó ngươi sẽ nói lại cùng dân Y-sơ-ra-ên." — Xuất Ê-díp-tô Ký 19:4-6
Sa-bát Giao ước tại núi Si-nai
Câu gốc
“Các ngươi đã thấy điều ta làm cho người Ê-díp-tô, ta chở các ngươi trên cánh chim ưng làm sao, và dẫn các ngươi đến cùng ta thể nào. Vậy, bây giờ, nếu các ngươi vâng lời ta và giữ sự giao ước ta, thì trong muôn dân, các ngươi sẽ thuộc riêng về ta, vì cả thế gian đều thuộc về ta. Các ngươi sẽ thành một nước thầy tế lễ, cùng một dân tộc thánh cho ta. Bấy nhiêu lời đó ngươi sẽ nói lại cùng dân Y-sơ-ra-ên.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 19:4-6).
Kinh Thánh nghiên cứu
Xuất Ê-díp-tô Ký 19:1–20:17; Khải Huyền 21:3; Phục truyền Luật-lệ Ký 5:6–21; Gia-cơ 1:23–25; Rô-ma 3:20–24; Rô-ma 10:4.
Sau khi giải phóng dân Y-sơ-ra-ên khỏi Ê-díp-tô, Đức Chúa Trời đã dẫn dắt họ đi đâu? Đến Đất Hứa – hay còn nơi nào khác? Tuy câu trả lời đó đúng về mặt địa lý, nhưng lại sai về mặt thần học. Chính Đức Chúa Trời đã trả lời câu hỏi này: “Các ngươi đã thấy điều ta làm cho người Ê-díp-tô, ta chở các ngươi trên cánh chim ưng làm sao và dẫn các ngươi đến cùng Ta” (Xuất Ê-díp-tô Ký 19:4). Do đó, câu trả lời theo quan điểm thần học Kinh Thánh tiết lộ ưu tiên và mục tiêu của Đức Chúa Trời: Ngài đã đưa họ đến cùng chính Ngài.
Khi con người xa lìa Đức Chúa Trời, Ngài tìm kiếm họ và kêu gọi họ trở lại với Ngài. Mô hình tốt nhất cho chân lý sâu sắc này được tìm thấy trong Vườn Ê-đen, khi A-đam và Ê-va phạm tội, không vâng lời Đức Chúa Trời và lẩn trốn khỏi Ngài. Chính Ngài đã chủ động bước tới và gọi họ: “Ngươi ở đâu?” (Sáng-thế Ký 3:9). Ngài luôn là người chủ động thực hiện bước đầu tiên. Đức Chúa Giê-su bày tỏ điều này một cách sâu sắc: “Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng Ta, Ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ. Hãy mang lấy ách của Ta và học theo Ta, vì Ta có lòng nhu mì và khiêm nhường; nên linh hồn các ngươi sẽ được yên nghỉ” (Ma-thi-ơ 11:28,29).
Đức Chúa Trời kêu gọi tất cả chúng ta; số phận đời đời của chúng ta phụ thuộc vào cách chúng ta đáp lại Ngài.
* Nghiên cứu bài học tuần này để chuẩn bị cho Sa-bát ngày 23 tháng 8.
Thứ Nhất Tại Núi Si-nai
Đọc Xuất Ê-díp-tô Ký 19:1–8. Đức Chúa Trời đã hứa gì với dân Y-sơ-ra-ên tại chân núi Si-nai?
Đức Chúa Trời đã dẫn dắt dân Y-sơ-ra-ên đến núi Si-nai, nơi Ngài sẽ ban cho họ Mười Điều Răn (Luật Pháp). Jebel Musa (cao 2.285 mét) có khả năng là nơi Môi-se đã nhiều lần gặp Đức Chúa Trời (Xuất Ê-díp-tô Ký 3:1,19:2,24:18) và nhiều năm sau, Ê-li cũng đã gặp Đức Chúa Trời tại đây (1 Các Vua 19:8). Đây chính là ngọn núi nơi Đức Chúa Trời đã kêu gọi Môi-se dẫn dắt dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập (Xuất Ê-díp-tô Ký 3:1,10). Lúc đó, Đức Chúa Trời đã cho Môi-se biết rằng ông và dân Y-sơ-ra-ên được giải phóng sẽ thờ phượng Đức Chúa Trời tại chính nơi này, như một dấu hiệu cho Môi-se rằng Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp đang dẫn dắt họ (Xuất Ê-díp-tô Ký 3:12).
Sau hai tháng hành trình, dân Y-sơ-ra-ên đã đến Si-nai (Xuất Ê-díp-tô Ký 19:1), nơi họ ở lại khoảng một năm (so sánh Xuất Ê-díp-tô Ký 19:1 với Dân-số Ký 10:11,12). Trong khoảng thời gian này, nhiều Luật-lệ đã được ban hành, được mô tả trong Xuất Ê-díp-tô Ký 19–40, Lê-vi Ký 1–27 và Dân-số Ký 1:1–10:10. Thời gian lưu lại tại núi Si-nai là trung tâm của câu chuyện trong năm sách đầu của Môi-se. Đây là nền tảng để họ trở thành dân được chọn của Đức Chúa Trời, là quốc gia duy nhất không chìm đắm trong tà thần và sự thờ lạy hình tượng.
Đức Chúa Trời đã chủ động thiết lập giao ước giữa Ngài và dân Y-sơ-ra-ên. Với điều kiện dân sự vâng lời và duy trì mối quan hệ với Ngài, Đức Chúa Trời hứa rằng Ngài sẽ làm cho họ trở thành báu vật đặc biệt, một vương quốc thầy tế lễ, một dân thánh.
Làm một dân thánh nghĩa là được dâng hiến cho Đức Chúa Trời và bày tỏ bản tính Ngài cho những người khác, đặc biệt là các dân tộc xung quanh. Họ cũng được kêu gọi để đóng vai trò như một vương quốc thầy tế lễ, kết nối các dân tộc khác với Đức Chúa Trời, dẫn dắt họ đến với Ngài và dạy dỗ họ về đường lối và luật pháp của Ngài. Họ sẽ là báu vật đặc biệt của Đức Chúa Trời, vì Ngài muốn dân Y-sơ-ra-ên làm kênh dẫn (sự kết nối) để chiếu sáng thế gian bằng sự hiểu biết về Ngài và bản tính của Ngài.
Giao ước này là sự thiết lập pháp lý (hợp pháp) cho mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời và dân Ngài. Công thức chung của giao ước, được biểu hiện hơi khác nhau trong các văn bản khác nhau, là: “Ta sẽ làm Đức Chúa Trời của họ, và họ sẽ làm dân Ta” (xem Xuất Ê-díp-tô Ký 6:7, Lê-vi Ký 26:12, Giê-rê-mi 24:7, 31:33, Hê-bơ-rơ 8:10, Khải Huyền 21:3).
Hãy tưởng tượng việc được làm "báu vật đặc biệt" của Đức Chúa Trời! Những đặc quyền đặc biệt đó sẽ bao gồm gì? Những trách nhiệm đặc biệt nào bạn sẽ có?
Thứ Hai Chuẩn Bị Sự Ban Cho (Mười Điều Răn)
Đọc Xuất Ê-díp-tô Ký 19:9–25. Đức Chúa Trời đã chuẩn bị dân Y-sơ-ra-ên như thế nào để nhận Mười Điều Răn?
Đức Chúa Trời đã ban những hướng dẫn cụ thể cho dân Y-sơ-ra-ên về việc họ cần làm để chuẩn bị cho việc nhận luật pháp tại núi Si-nai. Sự tinh sạch bên ngoài của họ phải phản ánh sự tận hiến hoàn toàn cho Đức Chúa Trời. Họ cần sẵn sàng cho sự bày tỏ vinh quang rực rỡ của Đức Chúa Trời sắp đến. Khi điều đó xảy ra, nó đi kèm với “sấm chớp, mây dày đặc trên núi, và tiếng kèn vang rất lớn, khiến cả dân trong trại đều run rẩy” (Xuất Ê-díp-tô Ký 19:16).
Mười Điều Răn là trọng tâm của sự mặc khải của Đức Chúa Trời và đạo đức Kinh Thánh. Nó hình thành nội dung và nền tảng của các tiêu chuẩn tuyển chọn dành cho nhân loại; các nguyên tắc của nó là vĩnh cửu và phổ quát.
Theo tường thuật Kinh Thánh, Mười Điều Răn được Đức Chúa Trời công bố (Xuất Ê-díp-tô Ký 19:19; 20:1; Phục-truyền Luật-lệ Ký 5:4,5,24) và được Ngài viết ra (Xuất Ê-díp-tô Ký 24:12; 31:18; Phục-truyền Luật-lệ Ký 5:22). Nó được trao hai lần cho Môi-se như một ân tứ đặc biệt (Xuất Ê-díp-tô Ký 32:19; 34:1; Phục-truyền Luật-lệ Ký 10:1,2).
Trong sách Xuất Ê-díp-tô Ký, Mười Điều Răn được gọi là “Chứng Cớ” (tiếng Hê-bơ-rơ: ‘edut’; Xuất Ê-díp-tô Ký 31:18) hoặc “những lời của giao ước” (tiếng Hê-bơ-rơ: dibre habberit; Xuất Ê-díp-tô Ký 34:28). Trong sách Phục-truyền Luật-lệ Ký, chúng được viết trên “bảng giao ước” (Phục-truyền Luật-lệ Ký 9:9, 11,15). Cả hai sách đều không sử dụng thuật ngữ “Mười Điều Răn” (tiếng Hê-bơ-rơ: mitzwot, “các điều răn”). Thay vào đó, chúng được gọi ba lần là “Mười Lời Phán”. Tiếng Hê-bơ-rơ là ‘aseret haddebari’, từ dabar nghĩa là “lời nói, câu văn, vấn đề, điều, câu chuyện, lời hứa, lời phán” (xem Xuất Ê-díp-tô Ký 34:28; Phục-truyền Luật-lệ Ký 4:13; 10:4).
Có hai phiên bản của Mười Điều Răn với những khác biệt nhỏ; phiên bản đầu tiên được ghi lại trong Xuất Ê-díp-tô Ký 20:1–17 và phiên bản thứ hai trong Phục-truyền Luật-lệ Ký 21:3–21. Phiên bản thứ hai, được Môi-se trình bày bằng lời cho dân Y-sơ-ra-ên, xảy ra gần bốn mươi năm sau tại Si-nai, ngay trước khi họ vào Đất Hứa (Phục-truyền Luật-lệ Ký 1:3,4; 4:44–47). Những hoàn cảnh này giải thích những khác biệt nhỏ giữa hai phiên bản.
Khi Phao-lô tóm tắt luật pháp là tình yêu thương, ông đã trích dẫn từ Mười Điều Răn (Rô-ma 13:8–10). Tình yêu thật sự là tổng hợp của luật pháp Đức Chúa Trời, bởi vì Ngài là Đức Chúa Trời của tình yêu (1 Giăng 4:16).
Bạn hiểu ý tưởng Mười Điều Răn như một biểu hiện của tình yêu Đức Chúa Trời như thế nào? Điều đó có ý nghĩa gì? Tình yêu của Đức Chúa Trời được bày tỏ qua Mười Điều Răn ra sao?
Thứ Ba Món Quà Của Mười Điều Răn
Đọc Xuất Ê-díp-tô Ký 20:1–17. Những nguyên tắc của Mười Điều Răn là gì và nó được tổ chức như thế nào?
Hãy lưu ý rằng Mười Điều Răn không bắt đầu bằng các mệnh lệnh, mà bằng hành động ân điển của Đức Chúa Trời dành cho dân Ngài: “Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, đã đem ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, khỏi nhà nô lệ” (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:2). Trước tiên, Đức Chúa Trời bày tỏ ân điển của Ngài bằng cách ban sự tự do và cứu rỗi cho dân Y-sơ-ra-ên, chỉ sau đó Ngài mới bày tỏ ý muốn của Ngài. Những điều răn này phải được tuân giữ vì tình yêu và lòng biết ơn đối với những gì Đức Chúa Trời đã làm cho họ.
Từ chính yếu mà Đức Chúa Trời dùng để tóm tắt Mười Điều Răn là “tình yêu” (Rô-ma 13:10). Điều răn lớn nhất là điều răn về tình yêu, được thể hiện qua hai cách: yêu Đức Chúa Trời (Phục-truyền Luật-lệ Ký 6:5) và yêu người lân cận (Lê-vi Ký 19:18).
Trong bốn điều răn đầu, Mười Điều Răn giải thích ý nghĩa của việc yêu Đức Chúa Trời; trong sáu điều răn tiếp theo, luật pháp giải thích ý nghĩa của việc yêu người lân cận. Mười Điều Răn bắt đầu bằng việc tôn kính Đức Chúa Trời trên hết (tình yêu theo chiều dọc) và tiếp tục với việc tôn trọng người khác (tình yêu theo chiều ngang):
- Tôn kính và kính sợ Đức Chúa Trời bằng cách đặt Ngài ở vị trí cao nhất và quan trọng nhất trong mọi khía cạnh của đời sống (Điều Răn thứ nhất).
- Tôn kính và giữ gìn vị trí duy nhất của Đức Chúa Trời, không thay thế Ngài bằng bất kỳ hình tượng nào, dù là hình thể, biểu tượng hay tinh thần. Những tình cảm thánh khiết nhất thuộc về Chúa (Điều Răn thứ hai).
- Tôn kính danh Đức Chúa Trời “danh tiếng và bản tính của Ngài” (Điều Răn thứ ba).
- Tôn kính ngày nghỉ ngơi và thờ phượng của Ngài “ngày Sa-bát” (Điều Răn thứ tư).
- Tôn trọng cha mẹ (Điều Răn thứ năm).
- Tôn trọng sự sống (Điều Răn thứ sáu).
- Tôn trọng hôn nhân (Điều Răn thứ bảy).
- Tôn trọng tài sản của người khác (Điều Răn thứ tám).
- Tôn trọng danh tiếng của người khác (Điều Răn thứ chín).
- Tôn trọng bản thân để không có những ham muốn ích kỷ làm hỏng nhân cách (Điều Răn thứ mười).
Chính Đức Chúa Giê-su đã phán: “Nếu các ngươi yêu mến ta, thì giữ gìn các điều răn của ta” (Giăng 14:15; xem thêm 1 Giăng 4:20,21). Vì vậy, sự vâng lời thật sự chính là biểu hiện của tình yêu và lòng biết ơn đối với Đức Chúa Giê-su, một tình yêu được thể hiện mạnh mẽ nhất qua cách chúng ta đối xử với người lân cận.
Thứ Tư Vai Trò Khác Nhau Của Luật Pháp Chúa
Luật pháp của Đức Chúa Trời bày tỏ bản tính của Đức Chúa Trời, Ngài là ai. Vì Đức Chúa Trời là thánh, công bình và nhân từ, nên luật pháp của Ngài cũng vậy. Sứ đồ Phao-lô xác nhận: “Vậy, luật pháp là thánh, điều răn cũng là thánh, công bình và tốt lành” (Rô-ma 7:12).
Trong Kinh Thánh, luật pháp của Đức Chúa Trời được nhìn nhận rất tích cực (Ma-thi-ơ 5:17,18; Giăng 14:15; 1 Cô-rinh-tô 7:19). Người ta có thể làm thơ về luật pháp (như Thi Thiên 119), ca ngợi luật pháp (Thi Thiên 19) và suy gẫm về luật pháp ngày đêm (Thi Thiên 1:2, Giô-suê 1:8). Luật pháp giúp con người tránh xa điều ác và ban sự khôn ngoan, sự hiểu biết, sức khỏe, thịnh vượng và bình an (Phục-truyền Luật-lệ Ký 4:1–6, Châm-ngôn 2–3).
- Luật pháp của Đức Chúa Trời giống như một hàng rào, tạo nên một không gian tự do lớn để sống và cảnh báo rằng, vượt qua một giới hạn cụ thể, con người sẽ đối diện nguy hiểm, rắc rối, phức tạp, và thậm chí là cái chết (Sáng-thế Ký 2:16,17; Gia-cơ 2:12).
- Luật pháp cũng giống như một bảng chỉ đường, chỉ về Đức Chúa Giê-su, Đấng tha thứ tội lỗi và thay đổi cuộc đời chúng ta (2 Cô-rinh-tô 5:17; 1 Giăng 1:7–9). Theo cách này, luật pháp dẫn dắt chúng ta như một người hướng dẫn (paidagogos) đến với Đấng Cơ-đốc (Ga-la-ti 3:24).
Đọc Gia-cơ 1:23–25. Ông muốn nói gì, và những lời này giúp chúng ta nhận ra chức năng và tầm quan trọng của luật pháp như thế nào, dù nó không thể cứu chúng ta?
Luật pháp như một chiếc gương. Một chiếc gương có thể bày tỏ khuyết điểm của bạn, đúng vậy. Nhưng trong chiếc gương không có gì có thể chữa lành những khuyết điểm đó. Gương chỉ ra các vấn đề nhưng không cung cấp giải pháp. Luật pháp của Đức Chúa Trời cũng vậy. Cố gắng được xưng công chính trước mặt Đức Chúa Trời bằng cách giữ luật pháp giống như nhìn chằm chằm vào gương với hy vọng rằng, một lúc nào đó, chiếc gương sẽ làm cho khuyết điểm của bạn biến mất.
Vì sự cứu rỗi là nhờ đức tin chứ không phải nhờ việc làm - kể cả việc làm của luật pháp - một số Cơ-đốc nhân cho rằng luật pháp đã bị bãi bỏ, và chúng ta không còn phải giữ nó nữa. Tất nhiên, xét rằng chính luật pháp là điều định nghĩa tội lỗi “Nếu chẳng có luật pháp, thì tôi đã chẳng biết tội là gì” (Rô-ma 7:7) - thì lập luận này là sự hiểu sai nghiêm trọng mối quan hệ giữa luật pháp và phúc âm. Chính vì có sự tồn tại của luật pháp mà chúng ta cần đến phúc âm.
Bạn đã thành công như thế nào trong việc cố gắng vâng giữ luật pháp của Đức Chúa Trời? Đủ để đặt nền tảng sự cứu rỗi của bạn trên đó chưa? Nếu không, tại sao bạn cần phúc âm?
Thứ Năm Luật Pháp Như Lời Hứa Của Đức Chúa Trời Cho Chúng Ta
Đọc Rô-ma 3:20–24. Mặc dù Phao-lô khẳng định rõ rằng chúng ta không thể được cứu nhờ giữ Mười Điều Răn, vậy các điều răn đó nên đóng vai trò gì trong cuộc sống của chúng ta?
Ý nghĩa trong tiếng Hê-bơ-rơ của từ dabarim được sử dụng trong sách Môi-se để mô tả Mười Điều Răn (Xuất Ê-díp-tô Ký 34:28; Phục-truyền Luật-lệ Ký 4:13; Phục-truyền Luật-lệ Ký 10:4) không có nghĩa là “mệnh lệnh” một cách chính xác, mà là “lời.” Từ “lời,” dabar (số ít), có thể mang ý nghĩa của một “lời hứa”. Vì vậy, trong nhiều chỗ (1 Các Vua 8:56; 2 Sử Ký 1:9; Nê-hê-mi 5:12,13; Phục-truyền Luật-lệ Ký 1:11; Phục-truyền Luật-lệ Ký 6:3; Phục-truyền Luật-lệ Ký 9:28; Giô-suê 9:21; Giô-suê 22:4; Giô-suê 23:5), dabar được dịch dưới dạng danh từ hoặc động từ thể hiện ý tưởng của lời hứa.
Ellen G. White đưa ra một cái nhìn sâu sắc về chức năng của Mười Điều Răn: “Mười điều răn… là mười lời hứa.” (Ellen G. White Comments, The SDA Bible Commentary, tập 1, tr. 1105). Mười Điều Răn nên được hiểu như những lời hứa từ Đức Chúa Trời, hướng dẫn chúng ta đi đúng con đường để Ngài có thể làm những điều tuyệt vời cho chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta phải vâng lời Ngài.
Đọc Rô-ma 10:4. Chúng ta nên hiểu lời của Phao-lô rằng Đấng Cơ-đốc là “tận cùng” của luật pháp như thế nào?
Phao-lô khẳng định rằng Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc là telos của luật pháp, nhưng không phải theo nghĩa rằng Đấng Cơ-đốc bãi bỏ hoặc hủy bỏ luật pháp. Thay vào đó, điều này có nghĩa là Đấng Cơ-đốc là mục tiêu và ý định của luật pháp; điều đó không có nghĩa rằng sự hy sinh chuộc tội của Ngài làm mất hiệu lực hoặc tính vĩnh cửu của luật pháp.
Ngược lại, Phao-lô nói về tầm quan trọng của luật pháp, về tính hợp pháp và quyền uy bền vững của nó (Rô-ma 3:31; 1 Cô-rinh-tô 7:19; Ga-la-ti 5:6). Ý nghĩa chính của từ telos là mang tính mục đích và định hướng mục tiêu, chứ không liên quan đến thời gian. Đấng Cơ-đốc là chìa khóa mở ra ý nghĩa và mục đích thực sự của luật pháp Đức Chúa Trời. Do đó, sẽ là không đúng nếu nói rằng Đấng Cơ-đốc đã làm mất hiệu lực, vượt qua hoặc bãi bỏ luật pháp. Đấng Cơ-đốc chính là mục tiêu của luật pháp, Đấng mà luật pháp chỉ về.
Luật pháp chỉ về Đức Chúa Giê-su như thế nào? Tức là, luật pháp bày tỏ điều gì về bản thân chúng ta mà qua đó chỉ cho chúng ta đến với Đức Chúa Giê-su?
Thứ Sáu Nghiên Cứu Bổ Túc
NGHIÊN CỨU BỔ TÚC
Đọc trong chương “Luật pháp ban cho dân Y-sơ-ra-ên” và “Sự chống phá luật pháp của Sa-tan” trong tác phẩm “Tộc Trưởng và Các Tiên Tri”, trang 303-310 và 331-342 của bà Ellen G.White.
“Đức Chúa Trời đã định làm cho dịp Ngài phán luật pháp trở thành một cảnh tượng vĩ đại, phù hợp với bản chất cao quý của luật pháp đó. Dân sự cần được ấn tượng rằng mọi thứ liên quan đến sự phục vụ Đức Chúa Trời phải được xem xét với sự kính trọng lớn lao nhất.” - Ellen G. White, Tộc Trưởng và Tiên Tri, trang 303.
Nguyên tắc về sự tôn kính này vẫn có giá trị ngày nay. Nó bắt nguồn từ sự hiểu biết về sự vĩ đại, siêu việt và uy nghiêm của Đức Chúa Trời. Khi nhìn thấy vinh quang của Đức Chúa Trời, lòng chúng ta tràn ngập lòng biết ơn và sự kiêu ngạo trong chúng ta bị hạ xuống. Càng nhìn thấy sự thánh khiết của Đức Chúa Trời, chúng ta càng nhận ra những khuyết điểm trong đời sống của mình, dẫn đến việc chúng ta càng khao khát sự hiện diện biến đổi của Ngài và muốn trở nên giống Ngài hơn.
Hơn nữa, khi biết mình là ai so với Đức Chúa Trời và luật pháp thánh khiết của Ngài, chúng ta hoàn toàn lệ thuộc vào sự chết thế của Đấng Cơ-đốc vì chúng ta.
Đồng thời, Đức Chúa Giê-su làm rõ rằng, nếu chúng ta khiêm nhường chấp nhận Đức Chúa Trời là Chúa và Vua của mình, các điều răn của Ngài không phải là điều khó vâng giữ (Ma-thi-ơ 11:28–30). Đấng Cơ-đốc đã tuyên bố rõ ràng rằng luật pháp của Đức Chúa Trời có giá trị vĩnh cửu (Ma-thi-ơ 5:17–20). Khi chúng ta giữ luật pháp của Đức Chúa Trời vì yêu mến và biết ơn Ngài vì sự cứu rỗi mà Ngài đã ban cách nhưng không, chúng ta có thể kinh nghiệm mối quan hệ cứu rỗi trọn vẹn với Ngài.
Trong khi tận hưởng những lợi ích lớn lao của việc giữ luật pháp (suy cho cùng, hãy xem những nỗi đau và gian khổ mà việc vi phạm luật pháp mang lại), chúng ta cũng có thể tận hưởng sự bảo đảm biết rằng sự cứu rỗi của chúng ta được tìm thấy trong Đấng Cơ-đốc, chứ không phải qua việc giữ luật pháp của chúng ta.
Câu hỏi thảo luận:
Việc chuẩn bị để nhận luật pháp giúp dân sự hiểu được sự tôn kính họ cần có. Ngày nay, trong Hội Thánh và đời sống Hội Thánh, liệu có còn sự tôn kính và kính sợ trước Đức Chúa Trời như vậy không? Hay chúng ta đã dần dần và bằng cách nào đó đánh mất điều đó?
Hãy suy gẫm thêm về công thức giao ước: “Ta sẽ làm Đức Chúa Trời của họ, và họ sẽ làm dân Ta.” Điều này có ý nghĩa gì với chúng ta ngày nay và nó nên được thể hiện ra sao cả ở cấp độ cá nhân lẫn tập thể?
Điều Đức Chúa Trời truyền lệnh chúng ta làm, Ngài cũng ban năng lực để thực hiện. Ellen G. White nói rằng “mọi mệnh lệnh của Ngài đều đi kèm với sự ban năng lực.” - Châu Ngọc Lẽ Thật, trang 333. Làm thế nào để đưa lời hứa này, tức là dabar, vào thực tế?
Chúng ta nên đáp lại thế nào trước lập luận phổ biến rằng luật pháp đã bị bãi bỏ sau thập giá? Trong hầu hết các trường hợp, họ thực sự đang nói rằng điều gì đã bị bãi bỏ?