Bánh và nước của sự sống
Kinh Thánh Nghiên Cứu: Xuất Ê-díp-tô Ký 15:22–16:36; Sáng-thế Ký 3:1–6; Xuất Ê-díp-tô Ký 17:1–7; 1 Cô-rinh-tô 10:4; Xuất Ê-díp-tô Ký 18: 1–27; 1 Cô-rinh-tô 10:11
"Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Các ngươi chẳng chịu vâng giữ điều răn và luật pháp ta cho đến chừng nào? Hãy suy nghĩ rằng Đức Giê-hô-va đã cho các ngươi ngày Sa-bát; vậy nên, đến ngày thứ sáu Ngài lại cho các ngươi lương thực đủ hai ngày. Trong ngày thứ bảy, mỗi người phải ở yên chỗ mình, chớ ai ra khỏi nhà. Thế thì, ngày thứ bảy dân sự đều nghỉ ngơi." — Xuất Ê-díp-tô Ký 16:28–30
Sa-bát Bánh và nước của sự sống
Câu gốc
“Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Các ngươi chẳng chịu vâng giữ điều răn và luật pháp ta cho đến chừng nào? Hãy suy nghĩ rằng Đức Giê-hô-va đã cho các ngươi ngày Sa-bát; vậy nên, đến ngày thứ sáu Ngài lại cho các ngươi lương thực đủ hai ngày. Trong ngày thứ bảy, mỗi người phải ở yên chỗ mình, chớ ai ra khỏi nhà. Thế thì, ngày thứ bảy dân sự đều nghỉ ngơi.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 16:28–30).
Kinh Thánh nghiên cứu
Xuất Ê-díp-tô Ký 15:22–16:36; Sáng-thế Ký 3:1–6; Xuất Ê-díp-tô Ký 17:1–7; 1 Cô-rinh-tô 10:4; Xuất Ê-díp-tô Ký 18: 1–27; 1 Cô-rinh-tô 10:11.
Sau khi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, dân Y-sơ-ra-ên bắt đầu một hành trình chưa biết để đi đến miền Đất Hứa. Dân sự đối diện với một hành trình dài và đầy thử thách, và họ cần phải học nhiều bài học mới. Chúa sẽ dẫn dắt và chăm sóc dân Ngài; thật vậy, Ngài muốn giúp họ trưởng thành, nhưng họ phải học sự kỷ luật, tiết độ, hy sinh, không ích kỷ, lòng tin cậy nơi Chúa, và đặc biệt là sự vâng lời.
Môi-se là một vị lãnh đạo hữu hình và dân sự phải nghe theo sự lãnh đạo của ông thì mới có thể đắc thắng. Điều quan trọng là phải hiệp một với nhau, cộng tác như một cộng đồng và giúp đỡ lẫn nhau. Có rất nhiều trở ngại và thử thách ở phía trước. Phần lớn sự trưởng thành tâm linh của dân sự sẽ tùy thuộc vào cách họ đối diện với những thử thách, và cách họ phản ứng đối với Môi-se - đặc biệt là khi các thử thách trở nên lớn hơn.
Ngạn ngữ quen thuộc của người Trung Quốc có viết: “Hành trình vạn dặm bắt đầu từ bước chân đầu tiên” thật đúng với hoàn cảnh của dân sự, và họ cần phải tin cậy sự dẫn dắt của Chúa trong từng bước đi. Như chúng ta sẽ thấy, thật bi thảm thay, họ đã không dễ dàng học được bài học này.
Nhưng rồi, ai trong chúng ta học được bài học này một cách dễ dàng đây?
* Nghiên cứu bài học tuần này để chuẩn bị cho Sa-bát ngày 16 tháng 8.
Thứ Nhất Nước Đắng
Trong các câu chuyện được Kinh Thánh tường thuật lại, những nhân vật khác nhau đóng vai trò khác nhau - thiện hoặc ác - và chúng ta cần chú ý kỹ đến cốt truyện, địa điểm, thời gian, và những kẻ thù nghịch. Tuy nhiên, điểm quan trọng nhất trong một câu chuyện thường là giải pháp và bài học rút ra. Trong những câu chuyện này cũng vậy.
Như các phân đoạn Kinh Thánh đều cho thấy, Đức Chúa Trời là Đấng giải quyết nan đề và Đấng làm cho hòa thuận; tuy nhiên, công việc của Ngài bị phức tạp bởi những con người không tin kính. Vì cứ lằm bằm và chẳng vâng lời, dân Hê-bơ-rơ đã trải qua nhiều rắc rối nghiêm trọng, thậm chí cả bi kịch. Họ đã tự chuốc lấy nhiều hoạn nạn vì sự chẳng tin và chẳng ăn năn.
Đọc Xuất Ê-díp-tô Ký 15:22–27. Sau khi vượt qua Biển Đỏ, bối cảnh của phép lạ đầu tiên là gì?
Sự thử thách đầu tiên về đức tin của dân Y-sơ-ra-ên liên quan đến nhu cầu về nước uống — điều không có gì đáng ngạc nhiên giữa môi trường sa mạc khắc nghiệt, nóng bức và khô hạn. Sau ba ngày đi đường, dân sự cuối cùng đã tìm được nước, nhưng nước ấy không uống được. Từ “Ma-ra” có nghĩa là “đắng”, và vì nước đắng nên đức tin của Y-sơ-ra-ên nơi Chúa đầy yêu thương nhanh chóng bị lung lay. Tuy nhiên, Chúa đã đáp lại bằng lòng thương xót, và phép lạ đầu tiên đã được thực hiện bởi một cây gậy. Dĩ nhiên, không phải cây gậy này làm cho nước ngọt, mà là Chúa đã khiến nước trở nên ngọt và uống được. Dân sự cần phải học các bài học quan trọng: (1) Sự nhịn nhục trong khi chờ đợi thì giờ của Chúa; (2) Chúa hành động sự cộng tác với con người.
Thế nhưng, con cái Y-sơ-ra-ên lại xem nhiều điều này như chuyện đương nhiên và mau quên những phép lạ lớn lao mà Chúa đã làm cho họ - những phép lạ mà họ vừa mới nồng nhiệt hát ngợi khen Ngài, xưng rằng: “Hỡi Đức Giê-hô-va! trong vòng các thần, ai giống như Ngài? Trong sự thánh khiết, ai được vinh hiển như Ngài, đáng sợ, đáng khen, hay làm các phép lạ?” (Xuất Ê-díp-tô Ký 15:11).
Và mặc cho sự lằm bằm của họ, Chúa vẫn hứa rằng Ngài sẽ không giáng trên họ “bệnh nào” (Xuất Ê-díp-tô Ký 15:26) mà Ngài đã giáng cho người Ê-díp-tô. Ngài sẽ bảo vệ họ. Nhưng lời hứa đó chỉ được ứng nghiệm với điều kiện họ giữ sự trung tín với Ngài.
Những sự tranh chiến và cố gắng này đã mang đến cho chính bạn? Sự yên ủi nào bạn có thể tìm được khi biết rằng, nếu bạn cộng tác với Chúa, thì Ngài vẫn sẽ hành động cho lợi ích của bạn?
Thứ Hai Chim Cút Và Ma-na
Thật đáng buồn, khi một khuôn mẫu nổi bật lặp đi lặp lại trong các câu chuyện hành trình nơi đồng vắng lại là sự phản loạn. Dân sự nổi tiếng là hay quên - họ quên rằng bàn tay quyền năng của Chúa đã từng cứu giúp trong quá khứ và đã từng giải quyết những nan đề cho họ. Họ để cho những nan đề hiện tại làm mờ mắt, khiến họ quên mất mục tiêu cuối cùng và tương lai vinh hiển mà Chúa đã hứa ban. Đây cũng là vấn đề phổ biến nơi dân sự của Chúa ngày nay.
Đọc Xuất Ê-díp-tô Ký 16:1–36. Nguyên nhân sự lằm bằm của dân Y-sơ-ra-ên là gì? Và sau đó điều gì đã xảy ra?
Một điều quan trọng cần lưu ý là: những sự cám dỗ trong Kinh Thánh thường liên quan đến thức ăn. Tại vườn Ê-đen, sự sa ngã xảy ra vì việc ăn trái cấm từ cây biết điều thiện và điều ác (Sáng-thế Ký 2:16–17; 3:1–6). Trong sự cám dỗ nơi đồng vắng, điều đầu tiên của Sa-tan tấn công vào Đức Chúa Giê-su bằng việc ăn uống (Ma-thi-ơ 4:3). Ê-sau đã đánh mất quyền trưởng nam chỉ vì bụng đói không biết kiềm chế (Sáng-thế Ký 25:29–34). Và biết bao lần sự không vâng lời của dân Y-sơ-ra-ên cũng liên quan đến ăn và uống! Không lạ gì khi Môi-se đã nhắc nhở các thế hệ sau: “loài người sống chẳng phải nhờ bánh mà thôi, nhưng loài người sống nhờ mọi lời bởi miệng Đức Giê-hô-va mà ra” (Phục-truyền Luật-lệ Ký 8:3).
Dĩ nhiên, Ma-na là bánh từ trời mà Chúa đã ban cho dân Y-sơ-ra-ên trong suốt 40 năm họ đi lang thang nơi đồng vắng. Qua ơn phước này, Chúa dạy họ rằng Ngài là Đấng Tạo Hóa và Đấng Cung Cấp mọi sự. Ngoài ra, Chúa đã dùng sự chu cấp siêu nhiên về bánh ma-na để dạy dân sự cách giữ ngày Sa-bát.
Mỗi tuần có bốn phép lạ xảy ra: (1) trong năm ngày đầu tuần, Chúa ban phần ma-na đủ dùng mỗi ngày; (2) vào ngày thứ sáu, Ngài ban phần gấp đôi; (3) phần ma-na này không bị hư từ thứ sáu qua ngày Sa-bát; (4) không có ma-na rơi xuống vào ngày Sa-bát. Chúa liên tục làm những phép lạ này để dân sự nhớ đến ngày Sa-bát và tôn vinh sự nhân lành của Ngài trong ngày ấy. “Hãy suy nghĩ rằng Đức Giê-hô-va đã cho các ngươi ngày Sa-bát” (Xuất Ê-díp-tô Ký 16:29).
Con người vốn thích ăn uống. Chúa tạo dựng chúng ta với sự thích thú trong việc ăn uống. Sự phong phú của thực phẩm mọc lên từ đất - tức là chế độ ăn nguyên thủy mà Chúa đã định - bày tỏ rằng Chúa không chỉ muốn chúng ta ăn, mà còn muốn chúng ta tận hưởng niềm vui trong sự ăn uống. Nhưng làm sao sự ban cho tuyệt vời như thức ăn (và việc chúng ta thích ăn) lại có thể bị lạm dụng?
Thứ Ba Nước Chảy Ra Từ Hòn Đá
Giữa nơi đồng vắng, nước là điều thiết yếu để sống còn. Chúa đã lo liệu cho nhu cầu này, mặc dù dân sự hay cãi lẫy, chẳng tin cậy Ngài, và thậm chí thử Ngài - nghi ngờ khả năng và ý muốn của Ngài trong việc cung cấp nước cho họ. Trong sự bất kính, họ lại nhìn về xứ Ê-díp-tô.
Đọc Xuất Ê-díp-tô Ký 17:1–7. Dân sự nên học được bài học gì từ sự kiện này?
Môi-se đặt tên nơi ấy là Ma-sa, nghĩa là “ướm thử” và Mê-ri-ba, nghĩa là “cãi lộn.” Mặc dù dân Y-sơ-ra-ên chẳng tin, Chúa vẫn ban nước cho họ. Hai cái tên này lẽ ra phải nhắc nhở họ đừng thử Đức Chúa Trời và đừng cãi lẫy cùng Ngài (Hê-bơ-rơ 3:7,8,15). Dù đã chứng kiến nhiều bằng chứng cụ thể về sự hiện diện, quyền năng và thẩm quyền của Chúa, họ vẫn nghi ngờ rằng Ngài có ở giữa họ hay không.
“Môi-se đã đập hòn đá, nhưng chính Con Đức Chúa Trời, ẩn mình trong trụ mây, đã đứng bên cạnh Môi-se và khiến dòng nước sự sống chảy ra. Không chỉ Môi-se và các trưởng lão, mà cả hội chúng - dù đứng xa - cũng nhìn thấy sự vinh hiển của Đức Giê-hô-va; song nếu trụ mây ấy bị cất đi, thì họ đã bị tiêu diệt bởi ánh sáng rực rỡ khủng khiếp của Đấng ngự trong đó.” - Ellen G. White, Tộc Trưởng & Tiên Tri, trang 298.
Nước là biểu tượng của sự sống, vì nếu không có nước, sự sống không thể tồn tại. Mỗi tế bào trong thân thể chúng ta đều cần nước. Chính cơ thể chúng ta có đến 60% là nước. Ngay cả xương cũng một phần cấu thành từ nước. Vì vậy, việc Chúa ban nước giữa nơi đồng vắng chính là một dấu kỳ cho dân Y-sơ-ra-ên biết rằng Ngài quan tâm đến nhu cầu của họ, rằng họ có thể tin cậy nơi Ngài. Nhưng một lần nữa, họ phải vâng lời.
Nhiều thế kỷ sau, Sứ đồ Phao-lô, trong I Cô-rinh-tô 10:4, đã nhắc nhở các tín hữu rằng kinh nghiệm của dân Y-sơ-ra-ên nơi đồng vắng là điều đặc biệt. Chính Đấng Cơ-đốc không chỉ dẫn dắt họ, mà còn chu cấp nước (Thi Thiên 78:15,16) và đáp ứng cả những nhu cầu tâm linh lẫn thể chất. Phao-lô tuyên bố: “Vầng đá đó tức là Đấng Cơ-đốc”. Đối với họ, Đấng Cơ-đốc chính là nguồn sự sống và là Đấng ban sự sống đời đời. Như vầng đá vững chắc, Chúa đã kiên định dẫn dắt dân sự Ngài. Ta có thể trông cậy nơi Ngài, vì Ngài không bao giờ thất hứa.
Hiện tại, có những điều nào bạn cần phải tin cậy Chúa không? Bạn có thể học cách đầu phục ý muốn Ngài và chờ đợi thì giờ Ngài hành động như thế nào? Tại sao việc ấy không phải lúc nào cũng dễ thực hiện?
Thứ Tư Giê-trô
Môi-se được Giê-trô, cha vợ mình, đến thăm — người này cũng được gọi là Rê-u-ên (Xuất Ê-díp-tô Ký 2:18). Giê-trô mang theo vợ của Môi-se là Sê-phô-ra, cùng với hai con trai là Ghẹt-sôn và Ê-li-ê-se. Khi nghe tin họ sắp đến, Môi-se ra đón và tiếp rước cách vui mừng.
Đọc Xuất Ê-díp-tô Ký 18:1–27. Những bước tiến quan trọng nào trong lịch sử dân tộc Y-sơ-ra-ên đã xảy ra trong phân đoạn này?
Giê-trô đến vì đã nghe về sự giải cứu kỳ diệu mà Chúa đã làm cho Y-sơ-ra-ên. Môi-se thuật lại cho Giê-trô cách tỉ mỉ “Môi-se liền thuật cho ông gia mình biết mọi điều Đức Giê-hô-va vì Y-sơ-ra-ên đã làm cho Pha-ra-ôn và người Ê-díp-tô, mọi điều khổ nhọc xảy đến cho mình dọc đường và Đức Giê-hô-va đã giải thoát dân Y-sơ-ra-ên thế nào” (Xuất Ê-díp-tô Ký 18:8).
Giê-trô ca ngợi sự nhân từ và can thiệp phi thường của Chúa vì dân Ngài, mà nói rằng: “Đáng ngợi khen Đức Giê-hô-va thay! Là Đấng đã giải cứu các ngươi ra khỏi tay người Ê-díp-tô và tay Pha-ra-ôn và giải cứu dân sự ra khỏi quyền của người Ê-díp-tô. Bây giờ ta biết rằng Đức Giê-hô-va là lớn hơn hết các thần, vì khi người Ê-díp-tô cậy lòng kiêu ngạo dấy lên, thì Ngài thắng được chúng nó” (Xuất Ê-díp-tô Ký 18:10–11).
Những điều chúng ta thấy ở đây là một ví dụ điển hình cho thấy công việc của Chúa giữa vòng dân sự Ngài là một lời chứng mạnh mẽ cho thế gian, để bày tỏ Ngài là Đức Chúa Trời chân thật và Ngài có thể làm gì cho những ai thuộc về Ngài.
Trong khi Giê-trô học biết về Đức Chúa Trời chân thật, ông cũng có: lời khuyên khôn ngoan và ích lợi để dâng hiến cho dân sự Chúa. Môi-se cần phải tổ chức hệ thống pháp lý theo các nguyên tắc chính trực và công bình. Ông cũng cần những người xét đoán trung tín, những người ngay thẳng và tận tâm. Giê-trô đã khôn ngoan nêu ra các tiêu chuẩn sau đây: (1) Những người kính sợ Đức Chúa Trời; (2) Đáng tin cậy; (3) Ghét sự tham lam và bất chính. Những người có năng lực và phẩm chất tốt được bổ nhiệm cai trị trên các đơn vị ngàn, trăm, năm mươi và mười. Nhờ đó, gánh nặng của Môi-se được nhẹ bớt, ông có thể tập trung giải quyết những việc lớn; còn dân sự cũng được phục vụ hiệu quả.
Môi-se chấp nhận lời khuyên khôn ngoan của Giê-trô (Xuất Ê-díp-tô Ký 18:24) và lập các vị lãnh đạo phụ trách những vai trò quản trị khác nhau (xem thêm Phục-truyền Luật-lệ Ký 1:9–18).
Môi-se hoàn toàn có thể đã từ chối lời của ông gia Giê-trô, và bảo rằng chuyện dân sự Y-sơ-ra-ên là chuyện của mình. Nhưng Môi-se đã không làm như vậy. Bài học quan trọng nào chúng ta có thể học được từ thái độ sẵn lòng lắng nghe của Môi-se với một người mà thậm chí không phải là người Hê-bơ-rơ?
Thứ Năm Bánh Và Nước Của Sự Sống
Đọc I Cô-rinh-tô 10:11. Sứ đồ Phao-lô nêu lý do nào mà các sự kiện này được chép lại?
Sứ đồ Phao-lô giải thích rằng mọi điều đã xảy ra cho dân Y-sơ-ra-ên là những ví dụ và lời cảnh tỉnh dành cho môn đồ của Đấng Cơ-đốc, để giúp họ tránh khỏi những vấp phạm tương tự; nghĩa là, chúng ta được học bài học từ các ví dụ đó. Đây là một sự dạy dỗ thiết yếu cho chúng ta, là những người đang sống “vào gần cuối cùng các đời” (I Cô-rinh-tô 10:11). Chúa ban Đức Thánh Linh cho dân Ngài, để làm cho những kẻ tin có được tâm thần mạnh mẽ, tình yêu thương và sự tiết độ” (II Ti-mô-thê 1:6,7) để dân sự có những quyết định đúng đắn và làm theo dạy dỗ của Chúa. Đức Chúa Giê-su là nguồn của sự sống mới (Giăng 14:6) và chỉ mình Ngài mới có thể biến đổi chúng ta trở nên “của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời… Đừng làm theo đời nầy, nhưng hãy biến hóa bởi sự đổi mới của tâm thần mình, để thử cho biết ý muốn tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn của Đức Chúa Trời là thể nào” (Rô-ma 12:1,2).
Sau này, Đức Chúa Giê-su đã dùng chính hình ảnh ma-na và nước trong các câu chuyện tường thuật nơi đồng vắng để dạy về chính Ngài, là Đấng dẫn dắt dân sự đi qua đồng vắng.
Đọc Giăng 4:7–15 và Giăng 6:31–51. Những lẽ thật nào được bày tỏ cho chúng ta là Cơ-đốc nhân?
Người đàn bà Sa-ma-ri đã khám phá ra rằng Đấng Cơ-đốc ban cho một điều mà bà không thể tìm được nơi nào khác. Cơn khát trong lòng về sự bình an, vui mừng và hạnh phúc là đến từ Đức Chúa Trời, và bởi đó, chỉ có Chúa mới có thể làm thỏa cơn khát ấy (Thi Thiên 42:1–2).
Sau đó, trong bối cảnh nói về ma-na, Đức Chúa Giê-su giải thích rằng không phải Môi-se, mà là Đức Chúa Trời đã ban bánh từ trên trời cho dân sự. Rồi Ngài phán: “Ta là bánh của sự sống; ai đến cùng ta chẳng hề đói, và ai tin ta chẳng hề khát” (Giăng 6:35). Đức Chúa Giê-su đã lặp lại ba lần rằng Ngài là “bánh của sự sống” (Giăng 6:35,41,48).
Cũng như ma-na trong đồng vắng là “bánh từ trên trời xuống” (Giăng 6:31,32), thì nước từ hòn đá cũng là ơn phước của Đấng Cơ-đốc để làm thỏa cơn khát của dân sự. Không chỉ mang tính thể chất, bánh và nước còn mang ý nghĩa tâm linh, vì Đức Chúa Giê-su là “bánh của sự sống” (Giăng 6:35,48) và là “nước hằng sống” (Giăng 4:10–11,14; Giăng 7:37–38). Chỉ trong Ngài, cơn đói khát tâm linh của chúng ta mới thật sự được thỏa.
Thứ Sáu Nghiên Cứu Bổ Túc
NGHIÊN CỨU BỔ TÚC
Đọc chương “From the Red Sea to Sinai” (Tạm dịch: “Từ Biển Đỏ Đến Núi Si-nai” trong quyển Tộc Trưởng Và Tiên Tri của Ellen G. White, trang 291–302.
Không lâu sau sự kiện nước chảy ra từ hòn đá, dân Y-sơ-ra-ên lại đối diện với một hiểm họa mới (xem Xuất Ê-díp-tô Ký 17:8–16): một dân tộc hiếu chiến và hung bạo là dân A-ma-léc đã tấn công họ. “Dân A-ma-léc không phải là những kẻ chẳng biết đến bản tính và chủ quyền của Đức Chúa Trời; nhưng thay vì kính sợ Ngài, họ lại dám chống lại quyền năng của Ngài. Các phép lạ do Môi-se thực hiện trước mặt người Ê-díp-tô đã trở thành đối tượng chế giễu của dân A-ma-léc, và họ nhạo báng sự sợ hãi của các dân tộc xung quanh. Họ đã thề bởi các thần của mình rằng sẽ tiêu diệt dân Hê-bơ-rơ, đến nỗi không còn một ai sống sót, và họ kiêu ngạo mà nói rằng Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên sẽ không có quyền năng để chống lại họ. Dân A-ma-léc không hề bị Y-sơ-ra-ên làm hại hay đe dọa trước đó, nên cuộc tấn công này hoàn toàn không có lý do chính đáng. Mục đích của dân này là bày tỏ lòng thù ghét và sự thách thức đối với Đức Chúa Trời qua việc tìm cách hủy diệt dân sự Ngài. Dân A-ma-léc đã từ lâu là những kẻ phạm tội một cách kiêu ngạo, và các tội ác của chúng đã kêu thấu lên Đức Chúa Trời để đòi Ngài sự báo trả. Tuy nhiên, lòng thương xót của Ngài vẫn còn kêu gọi chúng ăn năn. Nhưng khi người A-ma-léc tấn công các đạo quân mệt mỏi và không có phòng vệ của Y-sơ-ra-ên, chúng đã đóng ấn án phạt cho cả dân tộc mình.” - Sách Tộc Trưởng và Tiên Tri của Ellen G. White, trang 300.
Câu hỏi thảo luận:
Hãy suy gẫm thêm về ý tưởng rằng Giê-trô đã nhận biết Đức Chúa Trời chân thật qua những điều Ngài làm cho dân sự Ngài (Xem Phục-truyền Luật-lệ Ký 4:4–8). Tại sao các nguyên tắc này vẫn còn đúng cho đến ngày nay? Hãy tự hỏi chính mình và hỏi cả lớp học: Hội Thánh của chúng ta đang làm chứng như thế nào trước thế gian? Chúng ta đang bày tỏ điều gì với thế gian về bản chất (nature) và bản tính của Đức Chúa Trời?
Hãy đọc lại I Cô-rinh-tô 10:4. Câu Kinh Thánh này dạy chúng ta điều gì về tà thuyết xưa, mà ngày nay vẫn có người tin theo — rằng Đức Chúa Trời trong Cựu Ước là một Đức Chúa Trời hay báo oán, đầy thù hận và không tha thứ, trái ngược với hình ảnh của Đức Chúa Giê-su trong Tân Ước? Làm sao câu Kinh Thánh trên bác bỏ quan niệm sai lầm vừa được nhắc đến?
Hãy đọc lại những gì Ellen G. White viết bên trên về việc dân A-ma-léc có cơ hội để học biết về Đức Chúa Trời chân thật. So sánh thái độ của họ đối lặp với thái độ của Giê-trô. Chúng ta có thể học được bài học gì về lý do tại sao Chúa thi hành phán xét, không chỉ trên dân A-ma-léc, mà còn trên nhiều dân tộc cổ xưa khác mà dân Y-sơ-ra-ên đã tiếp xúc?