Đền tạm
Kinh Thánh Nghiên Cứu: Xuất Ê-díp-tô Ký 35:1–36:7; Sáng-thế Ký 1:1; Xuất Ê-díp-tô Ký 36:8–39:31; Hê-bơ-rơ 7:25; Xuất Ê-díp-tô Ký 40:1–38; Giăng 1:14
"Rồi có một đám mây bao phủ Lều Hội Kiến và vinh quang của Đức Giê-hô-va đầy dẫy Đền Tạm… Vì trong mỗi chặng đường của cuộc hành trình, đám mây của Đức Giê-hô-va ngự trên Đền Tạm vào ban ngày và có lửa trong đám mây vào ban đêm trước mặt cả nhà Y-sơ-ra-ên." — Xuất Ê-díp-tô Ký 40:34,38
Sa-bát Đền tạm
Câu gốc
“Rồi có một đám mây bao phủ Lều Hội Kiến và vinh quang của Đức Giê-hô-va đầy dẫy Đền Tạm… Vì trong mỗi chặng đường của cuộc hành trình, đám mây của Đức Giê-hô-va ngự trên Đền Tạm vào ban ngày và có lửa trong đám mây vào ban đêm trước mặt cả nhà Y-sơ-ra-ên.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 40:34,38).
Kinh Thánh nghiên cứu
Xuất Ê-díp-tô Ký 35:1–36:7; Sáng-thế Ký 1:1; Xuất Ê-díp-tô Ký 36:8–39:31; Hê-bơ-rơ 7:25; Xuất Ê-díp-tô Ký 40:1–38; Giăng 1:14.
Nhiệm vụ chính của dân sự Đức Chúa Trời trong Cựu Ước, cũng như đối với chúng ta ngày nay, là sống trong mối quan hệ mật thiết với Đức Chúa Trời; thờ phượng, phụng sự Ngài, và bày tỏ hình ảnh đúng đắn về Đức Chúa Trời cho người khác (Phục-truyền Luật-lệ Ký 4:5–8).
Trong Vườn Địa đàng, A-đam và Ê-va đã tránh mặt Đức Chúa Trời vì tội lỗi khiến họ sợ Ngài. Bản chất tội lỗi khiến con người sợ Đức Chúa Trời, và nỗi sợ hãi này làm méo mó cái nhìn của chúng ta về bản tính của Ngài. Tin tốt lành là Đức Chúa Trời đã thực hiện bước đầu tiên để xóa bỏ sự rạn nứt này; Ngài đã chủ động hàn gắn khoảng cách và mối quan hệ tan vỡ. Ngài gọi tội nhân trở về với Ngài: “ Ngươi ở đâu? ” (Sáng-thế Ký 3:9).
Vì vậy, nhiệm vụ chính của chúng ta là bày tỏ đúng đắn về bản tính của Đức Chúa Trời, về những hành động yêu thương và công bình của Ngài cho những người xung quanh. Khi mọi người được thu hút bởi Đức Chúa Trời và tin tưởng vào tình yêu thương vô vị kỷ của Ngài dành cho họ, họ sẽ dâng hiến cuộc đời mình cho Ngài và vâng phục theo những gì Ngài dạy bảo; đồng thời cũng nhận biết rằng mọi sự đều làm ích cho chính họ.
Đền thờ là minh chứng cho sự gần gũi của Đức Chúa Trời với nhân loại; và đền thờ tiết lộ cho nhân loại lẽ thật vĩ đại nhất, lẽ thật về sự cứu rỗi mà Đức Chúa Trời hứa ban cho những ai đến với Ngài bằng đức tin.
* Nghiên cứu bài học tuần này để chuẩn bị cho Sa-bát ngày 27 tháng 9.
Thứ Nhất Ngày Sa-bát Của Đức Chúa Trời
Những người phản đối ngày Sa-bát cho rằng ngày này chỉ dành riêng cho người Do Thái, nhưng sự thật là trong Vườn Địa Đàng, Đức Chúa Trời phán biệt riêng và thánh hóa ngày thứ bảy (đọc Sáng-thế ký 2:1–3); hoặc giả họ có lập luận sai lầm rằng lần đầu tiên người Do Thái nghe về ngày Sa-bát là tại núi Si-nai, nhưng thực tế người Do Thái đã giữ ngày Sa-bát trước khi đến Si-nai (đọc Xuất Ê-díp-tô ký 16:22–29). Vậy, điều này cho thấy ngày Sa-bát là một phần rất quan trọng trong đời sống của người Do Thái ngay từ thuở ban đầu.
Đọc Xuất Ê-díp-tô ký 35:1–3. Lẽ thật nào đã được nhắc lại cho mọi người ở đây, trong bối cảnh xây dựng đền thờ?
Ngày Sa-bát và sứ điệp của nó đã, đang và sẽ luôn luôn bày tỏ về Đức Chúa Trời; nó cho biết Ngài là ai và những công trình vĩ đại của Ngài là gì. Ngày Sa-bát nhắc nhở chúng ta về công trình sáng tạo và cứu rỗi của Đức Chúa Trời, và nó thu hút sự chú ý của chúng ta vào Ngài - Đấng luôn muốn ở cùng dân sự của Ngài. Điều này cho thấy, ngày Sa-bát và đền thánh hướng về cùng một hướng, đó là sự hiện diện của Đức Chúa Trời trong đời sống của chúng ta.
Trong thời Cựu Ước, sứ điệp Ngày Sa-bát truyền tải một thông điệp đa dạng; chúng ta có thể tóm tắt nó trong năm trọng điểm như sau:
- Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa. Điều này được Kinh Thánh mở đầu bằng lời tuyên bố vĩ đại và chắc chắn (Sáng-thế Ký 1:1). Kỷ niệm đáng nhớ về sự sáng tạo của Đức Chúa Trời là ngày Sa-bát (Sáng-thế Ký 2:2,3; Xuất Ê-díp-tô Ký 20:8–11). Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa, lẽ thật này khai mở thông suốt cho tất cả những lẽ thật còn lại trong Kinh Thánh.
- Đấng Mê-si sẽ đến và Ngài sẽ chiến thắng con rắn (Sa-tan), đánh bại điều ác; và niềm hy vọng này xoay quanh lời hứa của Đức Chúa Trời về một Dòng dõi.
- Đức Chúa Trời sẽ thiết lập vương quốc của Ngài, và trong đó ngày Sa-bát đã được cho biết trước.
- Sự cứu rỗi đến từ Chúa. Dân Chúa sẽ làm chứng danh Ngài chính là Đấng Cứu Rỗi và Đấng Cứu Chuộc của họ; sự cứu rỗi đến từ ân điển của Ngài và chỉ ân điển của Ngài mà thôi.
- Chúa là thẩm phán tối cao của muôn dân. Những ai luôn thách thức và phủ nhận Ngài sẽ không có tương lai; nhưng Ngài ban sự sống đời đời một cách nhưng không cho những ai theo Ngài.
Người Giu-đa có câu nói: Ngày Sa-bát giữ dân Y-sơ-ra-ên hơn cả dân Y-sơ-ra-ên giữ ngày Sa-bát. Mặc dù chúng ta là người Cơ-đốc Phục Lâm, nhưng chúng ta sẽ không diễn đạt về ngày Sa-bát theo cách của họ. Ngày Sa-bát có vai trò quan trọng như thế nào trong đời sống của Hội Thánh chúng ta?
Thứ Hai Lễ Vật Và Đức Thánh Linh
Đọc Xuất Ê-díp-tô Ký 35:4–36:7. Ở đây có những bài học quan trọng nào dành cho chúng ta ngày nay?
Cần rất nhiều vật liệu quý giá khác nhau để xây dựng Đền Tạm, và nhu cầu này được thực hiện nhờ sự đóng góp rộng rãi của dân sự Đức Chúa Trời, những người có lòng dâng hiến tận tâm, dâng hiến một cách tự nguyện và vui vẻ. Họ đã dâng vàng, bạc, đồng, vải gai mịn, chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm, đá quý, gỗ si-tim, dầu ô liu, gia vị và nhiều vật dụng cần thiết khác. Mọi người cũng dâng hiến sức lao động của mình, vì có những vật dụng cần được chế tác thông qua công việc cần mẫn và tay nghề mỹ thuật của họ khi dựng lều hoặc bày trí các vật dụng trong lều. Ngoài ra, các người thợ phải dệt lễ phục cho các thầy tế lễ, là những người sẽ phục vụ trong Đền Tạm và cho Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm, người có trang phục rất cầu kỳ bao gồm bảng đeo ngực và khăn xếp.
Đức Chúa Trời đã ban phước dồi dào cho dân Y-sơ-ra-ên qua những món quà mà người Ai Cập đã tặng họ khi họ rời khỏi Ai Cập. Giờ đây là cơ hội để họ dâng lễ vật tạ ơn cho sự dẫn dắt vĩ đại và nhân từ của Đức Chúa Trời; lòng họ được thúc giục để hoàn tất công trình xây dựng này vì vinh quang của Ngài.
Dân sự rất đỗi vui mừng và dâng hiến quá nhiều đến nỗi Môi-se được báo rằng: “Dân chúng đem đến quá mức cần thiết so với công việc mà Đức Giê-hô-va đã truyền phải làm” (Xuất Ê-díp-tô Ký 36:5); vì thế, Môi-se đã phải dừng lại việc dâng hiến xây Đền Tạm (Xuất Ê-díp-tô Ký 36:7).
Qua sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh, Đức Chúa Trời đã trang bị và trao quyền xây dựng Đền Tạm cho dân sự theo ý chỉ của Ngài. Bết-sa-lê-ên, Ô-hô-li-áp và những người khác được “đầy dẫy Thần của Đức Chúa Trời…” (Xuất Ê-díp-tô Ký 35:31), điều đó có nghĩa là họ được ban cho các kỹ năng, sự khôn ngoan và kiến thức thủ công mỹ nghệ để hoàn thành mọi công việc một cách hoàn hảo nhất. Đó là một dự án khổng lồ và phải được xây dựng chính xác theo mô hình mà Đức Chúa Trời đã chỉ dạy Môi-se.
Điều quan trọng là ân tứ Thuộc Linh có liên quan đến khả năng và sự khéo léo khác nhau được ban cho mỗi người trong công việc xây dựng Đền Tạm. Được tuôn đỗ Đức Thánh Linh, không phải là một phép mầu và nó cũng không có nghĩa là con người được ban cho những năng quyền tâm linh đặc biệt. Để thúc đẩy cơ nghiệp của Đức Chúa Trời và làm trọn sứ mệnh của Ngài, Đức Chúa Trời đã trao quyền cho dân sự Ngài để họ làm tốt và hoàn thành các mục tiêu của Ngài.
Khi được tuôn đổ Đức Thánh Linh, bạn đã nhận được những ân tứ Thuộc Linh nào? Hãy nhớ rằng các ân tứ Thuộc Linh chỉ có thể lớn mạnh khi bạn vun trồng những bông trái của Đức Thánh Linh trong đời sống của mình (Ga-la-ti 5:22, 23).
Thứ Ba Đền Tạm Được Dựng Nên
Đọc Xuất Ê-díp-tô Ký 36:8–39:31. Theo bạn, tại sao lại có những chỉ dẫn rõ ràng cụ thể như vậy? Điều này cho chúng ta biết gì về cách Đức Chúa Trời quan tâm đến từng chi tiết?
Môi-se cẩn thận xây dựng Đền Tạm, ông cần mẫn làm theo những chỉ dẫn mà ông đã nhận được trên Núi Si-nai. Kinh Thánh liệt kê mọi việc như sau: (1) Đền Tạm với các loại vải, màn che và các phần khác nhau (Xuất Ê-díp-tô Ký 36:8–38); (2) hòm Bảng Chứng “Hòm Giao Ước” (Xuất Ê-díp-tô Ký 37:1–9); (3) bàn để bánh trần thiết (Xuất Ê-díp-tô Ký 37:10–16); (4) chân đèn (Xuất Ê-díp-tô Ký 37:17–24); (5) bàn thờ xông hương (Xuất Ê-díp-tô Ký 37:25–29); (6) bàn thờ của lễ thiêu (Xuất Ê-díp-tô Ký 38:1–7); (7) chậu rửa (Xuất Ê-díp-tô Ký 38:8); (8) hành lang Đền Tạm (Xuất Ê-díp-tô Ký 38:9–20); và (9) tổng số các vật liệu dùng cho Đền Tạm (Xuất Ê-díp-tô Ký 38:21–31). Xuất Ê-díp-tô Ký 39 tiếp tục mô tả về lễ phục ê-phốt, bảng đeo ngực và các bộ lễ phục khác dành cho những thầy tế lễ.
Các buổi lễ trong Đền Tạm là những bài học trực quan về Phúc âm, nó chứng minh toàn bộ kế hoạch cứu chuộc của Đức Chúa Trời. Các nghi lễ khác nhau mô tả về (1) cách Đức Chúa Trời ghê tởm và xử lý tội lỗi, (2) cách Ngài cứu rỗi những kẻ ăn năn, (3) số phận của kẻ ác là gì, và (4) cách Ngài sẽ đảm bảo một tương lai vinh quang không có điều ác.
Trong một năm có hai buổi lễ khác nhau được cử hành tại Đền thờ: buổi lễ hàng ngày và buổi lễ hàng năm; tuy khác nhau nhưng hai buổi lễ này có sự liên kết chặt chẽ với nhau. Hai buổi lễ cho biết cách mà Đức Chúa Trời xử lý tội lỗi và cứu chuộc tội nhân. Thông qua các buổi lễ hàng ngày, Đức Chúa Trời đảm bảo Ngài tha thứ tội lỗi cho những ai có lòng ăn năn và ban cho họ sự cứu rỗi một cách nhân từ. Để nhận được ơn tứ cứu rỗi, con sinh tế phải được dâng làm của lễ, và sự hy sinh này là hình ảnh chỉ về sự chết của Đấng Mê-si, là Đấng mà huyết của Ngài “tẩy sạch mọi tội của chúng ta.” (1 Giăng 1:7). Xưng tội và chấp nhận chiếc áo công bình của Đấng Cơ-đốc là trọng tâm của ơn tứ cứu rỗi (Thi Thiên 32:1,2). Bằng cách này, các tội nhân được đảm bảo sự tha thứ và có thể vui mừng trong sự cứu rỗi.
Buổi lễ hàng năm, được thực hiện vào Đại Lễ Chuộc tội, cho biết Đức Chúa Trời xóa tội và xử lý vấn đề tội lỗi ra sao; và nó cũng đảm bảo một tương lai không còn có tội lỗi (Lê-vi Ký 16, Giăng 1:29). Hiện nay, chức vụ hai trong một của Đấng Cơ-đốc ở đền thánh trên trời cho biết việc mà Đức Chúa Trời đang làm là vì chúng ta (Hê-bơ-rơ 7:25) và việc này sẽ mang đến giải pháp sau cùng cho vấn đề tội lỗi (Đa-ni-ên 7:13,14,22,27; Đa-ni-ên 8:14; Khải Huyền 21:4).
Đền thánh là nơi thờ phượng, tôn vinh và tạ ơn Đức Chúa Trời; việc thờ phượng duy trì mối quan hệ của con người với Đức Chúa Trời và Chúa mời gọi con cái của Ngài vào mối thông công với Ngài.
Thứ Tư Sự Hiện Diện Của Chúa Trong Đền Tạm
Đọc Xuất Ê-díp-tô Ký 40:1–38. Dân Y-sơ-ra-ên nhận biết sự hiện diện của Chúa như thế nào?
Đoạn cuối cùng của Xuất Ê-díp-tô Ký (Xuất Ê-díp-tô Ký 40) mô tả lễ dâng hiến Đền Tạm và lễ ban Mười Điều Răn. Lễ dâng hiến Đền Tạm là sự kiện đỉnh cao của dân Y-sơ-ra-ên tại núi Si-nai.
Vinh quang của Đức Chúa Trời là sự thánh khiết và là bản tính của Ngài; sự hiện diện đầy yêu thương của Ngài chính là sự tốt lành (Xuất Ê-díp-tô Ký 3:5; Xuất Ê-díp-tô Ký 33:18,19). Sự hiện diện của Ngài đầy dẫy Đền Tạm và hiện rõ như đám mây, vinh quang của Đức Giê-hô-va đầy dẫy Đền Tạm. Phần kết thúc sách Xuất Ê-díp-tô Ký nhấn mạnh vào sự hiện diện và dẫn dắt của Đức Chúa Trời, trong trụ mây của Chúa vào ban ngày và trong trụ lửa vào ban đêm. Với minh chứng thực tế và mạnh mẽ này, cho thấy dân Giu-đa không chỉ trải nghiệm thực tế về Đức Chúa Trời mà còn trải nghiệm sự hiện diện gần gũi và trường tồn của Ngài khi Ngài dẫn dắt họ.
Môi-se dựng Đền Tạm vào ngày đầu tiên của tháng đầu tiên trong năm thứ hai (Xuất Ê-díp-tô Ký 40:2,17). Ông cũng xức dầu cho mọi thứ trong Đền Tạm để biệt riêng ra thánh, kể cả A-rôn và các con trai ông, để chuẩn bị cho chức vụ tế lễ (Xuất Ê-díp-tô Ký 40: 9, 13–15). Ông đi qua Nơi Chí Thánh, Nơi Thánh và sân trong, biệt riêng mọi vật dâng lên cho Đức Chúa Trời. Qua quá trình này, ông khánh thành các buổi lễ cho toàn bộ đền thánh (cũng xem Dân-số ký 7:1). Môi-se có thể vào Nơi Chí Thánh chỉ trong ngày lễ khánh thành Đền Tạm; sau đó, mỗi năm một lần, vào Ngày Lễ Chuộc tội, chỉ có Thầy Tế Lễ thượng phẩm mới có thể vào nơi Chí Thánh (Lê-vi Ký 16:2,17).
Có ba tình huống mà Kinh Thánh nói đến việc đã được làm xong: (1) vào cuối tuần lễ Tạo Thế, Đức Chúa Trời khẳng định sự hoàn tất công trình sáng tạo của Ngài (Sáng-thế Ký 2:1–3); (2) khi hoàn thành Đền Tạm, Kinh Thánh tuyên bố: “Như thế, Môi-se đã hoàn thành mọi công việc.” (Xuất Ê-díp-tô ký 40:33); và (3) khi vua Sa-lô-môn hoàn tất công việc xây đền thờ (1 Các Vua 7:51).
Sự kết nối giữa công trình Sáng Tạo và Đền Thánh của dân Y-sơ-ra-ên nói đến phạm vi vũ trụ, tức là thời điểm Đức Chúa Trời sẽ ngự xuống cùng những kẻ được cứu tại nơi Đất Mới, trong thành Giê-ru-sa-lem Mới, thì “Kìa, Đền Tạm của Đức Chúa Trời ở với loài người!” (Khải Huyền 21:2,3; so sánh với Khải Huyền 22:1–4).
Sự hiện diện của Đức Giê-hô-va đầy dẫy Đền Tạm (Xuất Ê-díp-tô Ký 40:34) là đỉnh cao của các sự kiện, được bắt đầu bằng sự ra đời của Môi-se, tiếp theo là sự đánh bại các vị thần Ai Cập qua 10 tai họa, sự thoát ra khỏi Ai Cập, sự đánh bại của quân đội Ai Cập và cuối cùng là sự mặc khải của Đức Chúa Trời trên Núi Si-nai.
Hiện nay, bạn có thể trải nghiệm sự hiện diện của Chúa bằng những cách nào? Tại sao điều bạn làm là quan trọng?
Thứ Năm Đức Chúa Giê-su Ngự Giữa Loài Người
Đọc Giăng 1:14. Sự nhập thể của Đấng Cơ-đốc so với Đền Tạm như thế nào?
Sự nhập thể của Chúa Giê- su vừa là một điều bí ẩn vừa là một kiến thức độc quyền mà những kẻ được cứu chuộc sẽ học biết trong cõi đời đời. Sứ đồ Giăng cho biết Đấng Cơ-đốc, bằng cách mang lấy thân thể con người như chúng ta, Ngài đã ngự giữa chúng ta bằng một thân xác hữu hình. Đức Chúa Giê-su ở cùng chúng ta trong con người thật, cũng giống như trong thời Cựu Ước, Đức Chúa Trời đã ở cùng dân sự Ngài. Ngài đã ngự với dân Y-sơ-ra-ên trong Đền Tạm ở núi Si-nai và trong đồng vắng khi họ hành trình đến Đất Hứa.
Trong quá trình nhập thể, Đức Chúa Giê-su đã ngự giữa loài người. Thật là một sự hy sinh không thể hiểu! Đức Chúa Trời hằng sống đã giáng thế ở cùng chúng ta, như một người trong chúng ta, để chứng minh với chúng ta rằng Ngài chính thật là “Em-ma-nu-ên, Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta”.
Trong Ma-thi-ơ 18:20, Đức Chúa Giê-su đã phán: “Nếu hai hoặc ba người nhóm lại nhân danh Ngài, Ngài sẽ ở đó giữa họ.” Đấng Cơ-đốc ở với dân sự của Ngài thông qua sự hiện diện của Đức Thánh Linh. Đấng Cơ-đốc mời gọi các môn đồ Ngài ở trong mối quan hệ gần gũi với Ngài: “Nầy, Ta đứng ngoài cửa mà gõ; nếu ai nghe tiếng Ta mà mở cửa cho thì Ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bữa tối với người và người với Ta.” (Khải Huyền 3:20).
Đọc Khải Huyền 21:1–3. Điều gì được trình bày cho chúng ta ở đây?
Thành Giê-ru-sa-lem Mới sẽ từ trời xuống, và Giăng cho biết: “Tôi nghe một tiếng lớn từ ngai nói rằng: “Kìa, đền tạm của Đức Chúa Trời ở với loài người! Ngài sẽ ở với họ và họ sẽ làm dân Ngài; chính Đức Chúa Trời sẽ ở với họ.” (Khải Huyền 21:3). Không có đền thờ nào trong thành Giê-ru-sa-lem Mới (Khải Huyền 21:22) vì cả thành là đền thánh của Đức Chúa Trời. Chiều dài, chiều rộng và chiều cao của thành bằng nhau (Khải Huyền 21:16) vì nó là Nơi Chí Thánh trong đền, nó có hình khối lập phương, với tất cả các cạnh bằng nhau. Trong cõi đời đời, là một thế giới không có tội lỗi, sự chết hay đau khổ, chúng ta sẽ ở cùng Đức Chúa Trời của chúng ta.
Nhìn lại những gì chúng ta đã được hứa trong Đức Chúa Giê-su, làm thế nào chúng ta có thể nhẫn nại chờ đợi cho đến cuối cùng?
Thứ Sáu Nghiên Cứu Bổ Túc
NGHIÊN CỨU BỔ TÚC
Đọc Ellen G. White, “The Tabernacle and Its Services” tr. 353–358, trong Tộc Trưởng và Tiên Tri.
“Việc xây dựng đền thờ được tiến hành sau hành động cứu chuộc thiêng liêng, cụ thể là giải thoát dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi quyền lực của Ai Cập. Tiếp sau đó, Đức Chúa Trời đã thiết lập mối quan hệ giao ước vĩnh cửu với dân sự của Ngài. Ngài sẽ là Đức Chúa Trời của họ, và họ sẽ trở thành dân của Ngài (Xuất Ê-díp-tô Ký 6:7). Cách họ thông công với Ngài và với nhau được xác định bởi giao ước. Đền Tạm chính là nơi gặp mặt, nơi Đức Chúa Trời và con người đến với nhau. Chỉ sau khi cứu chuộc và thiết lập sự hiệp nhất vĩnh cửu với Đức Chúa Trời thông qua giao ước, dân sự mới có thể tiếp cận với Đức Chúa Trời tại nơi Ngài ngự.” - Andrews Bible Commentary: Old Testament, “Exodus” (Berrien Springs, MI: Andrews University Press, 2020), tr. 226.
Bà Ellen G. White mô tả mục đích của các buổi lễ trong Đền Thờ: “Vì vậy, trong nghi lễ thờ phựơng của Đền Tạm và Đền Thờ diễn ra hàng ngày sau đó, đã dạy cho mọi người về những lẽ thật vĩ đại liên quan đến sứ mạng và hy sinh của Đấng Cơ-đốc; và nghi lễ hàng năm một lần, hướng tâm trí họ đến hồi kết thúc của cuộc chiến vĩ đại giữa Đấng Cơ-đốc và Sa-tan - là sự thanh tẩy cuối cùng của vũ trụ, làm cho sạch tội lỗi và không còn tội nhân.” - Tộc Trưởng và Tiên Tri, trang 358.
Câu hỏi thảo luận:
Trọng tâm của các buổi lễ thờ phượng trong đền thờ là việc đổ huyết. Mọi loài động vật đều được dâng lên làm con sinh tế, và huyết của chúng được sử dụng trong hầu hết các nghi lễ của đền thờ. Huyết tượng trưng cho điều gì, và điều gì được hướng đến khi tất cả những lễ vật này được dâng lên?
Huyền dịu thay khi Đức Chúa Trời, là Đấng Tạo Hóa của vũ trụ, lại ngự trong đền thờ ở giữa dân sự Ngài; càng đáng ngạc nhiên hơn khi Ngài đã đến ở cùng chúng ta trong thân phận một con người như chúng ta. Đây chính là một minh chứng tuyệt vời của tình yêu thương. Sau đó, Ngài lại dâng chính mình để làm của lễ chuộc tội, và Ngài đã chết vì tội lỗi của chúng ta? Điều này dạy gì về bản tính của Đức Chúa Trời? Và, cho biết Ngài mong được nhìn thấy chúng ta trong nước vĩnh sanh của Ngài nhiều như thế nào?
Đọc Hê-bơ-rơ 8:1–6. Đoạn Kinh Thánh này cho chúng ta biết gì về đền thờ dưới đất phản ánh những việc Đức Chúa Giê-su hiện nay đang làm cho chúng ta trong đền thánh trên trời?