Bài Học 10 · 30 Tháng 8 – 5 Tháng 9

Giao ước và bản kế hoạch

Kinh Thánh Nghiên Cứu: Xuất Ê-díp-tô Ký 24:1–18; 1 Cô-rinh-tô 11:23–29; Lê-vi Ký 10:1,2; Ê-xê-chi-ên 36:26–28; Xuất Ê-díp-tô Ký 25:1–9; Xuất Ê-díp-tô Ký 31:1–18

"Môi-se bèn đến thuật lại cho dân sự mọi lời phán của Đức Giê-hô-va và các luật lệ, thì chúng đồng thinh đáp rằng: Chúng tôi sẽ làm mọi lời Đức Giê-hô-va phán dạy" — Xuất Ê-díp-tô Ký 24:3
Sa-bát Giao ước và bản kế hoạch

Câu gốc

“Môi-se bèn đến thuật lại cho dân sự mọi lời phán của Đức Giê-hô-va và các luật lệ, thì chúng đồng thinh đáp rằng: Chúng tôi sẽ làm mọi lời Đức Giê-hô-va phán dạy” (Xuất Ê-díp-tô Ký 24:3).

Kinh Thánh nghiên cứu

Xuất Ê-díp-tô Ký 24:1–18; 1 Cô-rinh-tô 11:23–29; Lê-vi Ký 10:1,2; Ê-xê-chi-ên 36:26–28; Xuất Ê-díp-tô Ký 25:1–9; Xuất Ê-díp-tô Ký 31:1–18.

Là Đức Chúa Trời, Đấng Tạo Hóa và Đấng Cứu Chuộc của dân sự Ngài, Ngài mong muốn được ở với họ và ngự giữa họ. Ngài đã tạo dựng chúng ta để có mối quan hệ mật thiết với Ngài. Tuy nhiên, cũng giống như các mối quan hệ giữa con người với nhau đòi hỏi thời gian và sự cố gắng, mối quan hệ dọc (theo chiều thẳng đứng vì Ngài cao quý hơn chúng ta) giữa chúng ta với Đức Chúa Trời cũng vậy. Đây có thể là một trải nghiệm đầy nâng đỡ và tăng trưởng, nhưng chỉ khi chúng ta dành thời gian cho Ngài. Trong thực tế, điều này có nghĩa là: Học Lời Ngài (Đức Chúa Trời phán với chúng ta), Cầu nguyện (mở lòng với Đức Chúa Trời), Làm chứng về sự chết, sự sống lại và sự trở lại của Đấng Cơ-đốc (tham gia vào sứ mệnh của Đức Chúa Trời). Khi Chúa ban phước cho chúng ta, chúng ta cũng trở thành phần phước hạnh cho người khác.

Sự tập trung của chúng ta phải hướng về Đức Chúa Trời, chứ không phải về bản thân mình (Hê-bơ-rơ 12:1,2). Khi kết nối với Ngài, Đức Chúa Trời có thể ban năng lực để chúng ta vâng theo các lời dạy của Ngài, nghĩa là tuân giữ Lời Ngài. Không có gì ngạc nhiên khi thế hệ cuối cùng của các môn đồ Đấng Cơ-đốc được mô tả là những người “giữ điều răn Đức Chúa Trời và giữ lòng tin Đức Chúa Giê-su” (Khải Huyền 14:12).

Thật đơn giản: chúng ta yêu Chúa, và vì tình yêu đó, chúng ta vâng lời Ngài.

* Nghiên cứu bài học tuần này để chuẩn bị cho ngày Sa-bát ngày 6 tháng 9.

Thứ Nhất Sách Và Huyết

Đọc Xuất Ê-díp-tô Ký 24:1–8. Vai trò của việc đọc Lời Đức Chúa Trời và sự rảy huyết trong việc lập giao ước giữa Đức Chúa Trời và dân Ngài là gì?

Đức Chúa Trời hằng sống trong Kinh Thánh là Đức Chúa Trời của mối quan hệ. Điều quan trọng đối với Ngài không phải là vật chất hay kế hoạch, mà là con người. Vì vậy, Đức Chúa Trời chú ý đến con người, và mục đích chính trong mọi hoạt động của Ngài là xây dựng một mối quan hệ cá nhân với loài người.

Xét cho cùng, một Đức Chúa Trời là tình yêu ắt hẳn phải là một Đức Chúa Trời quan tâm đến các mối quan hệ, bởi vì tình yêu không thể tồn tại mà không có mối quan hệ. Đức Chúa Giê-su phán: “Còn ta, khi ta đã được treo lên khỏi đất, ta sẽ kéo mọi người đến cùng ta” (Giăng 12:32). Đức Chúa Trời không chỉ quan tâm đến hành vi đạo đức, giáo lý đúng đắn, hay những hành động chuẩn mực của chúng ta, mà trên hết, Ngài mong muốn một mối quan hệ cá nhân và sự thân thiết với mỗi người. Hai điều được thiết lập từ buổi sáng thế (Sáng-thế Ký 1–2) đều liên quan đến mối quan hệ: Thứ nhất: Mối quan hệ dọc giữa con người với Đức Chúa Trời (ngày Sa-bát). Thứ hai: Mối quan hệ ngang giữa con người với nhau (hôn nhân). Việc lập giao ước tại Si-nai nhằm củng cố mối quan hệ đặc biệt mà Đức Chúa Trời muốn có với dân sự Ngài. Trong buổi lễ đó, dân sự đã hai lần thốt lên rằng họ sẽ vâng theo mọi điều Đức Chúa Trời phán dạy: “Mọi điều Đức Giê-hô-va phán, chúng tôi sẽ làm”. Họ thật sự có ý định làm như vậy, nhưng họ chưa nhận thức được sự yếu đuối, mong manh và bất lực của mình. Huyết đã được rảy trên sách giao ước, điều này cho thấy rằng chỉ nhờ công lao của Đấng Cơ-đốc, dân Y-sơ-ra-ên mới có thể theo đúng các chỉ dẫn của Đức Chúa Trời.

Chúng ta không muốn thừa nhận rằng bản chất con người mình là yếu đuối, hư nát và đầy tội lỗi. Bản tính chúng ta có khuynh hướng hướng về điều ác. Để có thể làm điều thiện, chúng ta cần sự giúp đỡ từ bên ngoài chính mình. Sự giúp đỡ này chỉ có thể đến từ trên cao - từ quyền năng của ân điển Đức Chúa Trời, từ Lời Ngài và từ Đức Thánh Linh. Và dù có tất cả những điều này trong tầm tay, tội lỗi vẫn dễ dàng lấn át chúng ta, phải không?

Đó là lý do vì sao một mối quan hệ cá nhân mật thiết với Đức Chúa Trời quan trọng đối với dân Y-sơ-ra-ên ngày xưa tại Si-nai, cũng như quan trọng đối với chúng ta ngày nay.

“Mọi điều Đức Giê-hô-va phán, chúng tôi sẽ làm” (Xuất Ê-díp-tô Ký 24:3). Bao nhiêu lần bạn cũng đã nói như vậy, nhưng rồi lại thất bại? Giải pháp duy nhất là gì?

Thứ Hai Nhìn Thấy Đức Chúa Trời

Đọc Xuất Ê-díp-tô Ký 24:9–18. Dân Y-sơ-ra-ên đã được ban cho trải nghiệm tuyệt vời nào ở đây?

Sau khi giao ước với Đức Chúa Trời được thiết lập vững chắc, Môi-se lại một lần nữa lên núi Si-nai. Nhưng lần này, ông không đi một mình. Ông có sự đồng hành đặc biệt của 73 vị lãnh đạo Y-sơ-ra-ên. Đối với các lãnh đạo này, đây là trải nghiệm đỉnh cao: họ đã nhìn thấy Đức Chúa Trời. Lời Kinh Thánh nhấn mạnh điều này hai lần, cho thấy đó là một thực tế kỳ diệu. Ngoài ra, đây còn là thời điểm mà các lãnh đạo cùng ăn uống với nhau để xác nhận giao ước với Đức Chúa Trời. Đây không chỉ đơn thuần là một bữa ăn, mà là một tiệc thánh và Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên chính là Chủ Tiệc. Điều này thể hiện sự vinh dự to lớn mà Đức Chúa Trời đã ban cho họ.

Tại Trung Đông trong thời Kinh Thánh (và phần nào đó vẫn còn ngày nay), ăn uống chung là một trải nghiệm thiêng liêng, một vinh dự lớn lao, và là một đặc ân. Điều đó thể hiện sự tha thứ, hình thành mối quan hệ thân thiết, và mang ý nghĩa luôn hỗ trợ lẫn nhau trong lúc khó khăn. Khi ăn chung, họ ngầm cam kết rằng nếu một bên gặp hoạn nạn, bên kia sẽ có trách nhiệm giúp đỡ. Được mời dự tiệc là một đặc ân không dành cho tất cả mọi người.

Trong khi đó, từ chối lời mời là một sự xúc phạm nghiêm trọng. Điều này giúp chúng ta hiểu rõ hơn tại sao Đức Chúa Giê-su bị chỉ trích nặng nề vì Ngài ăn cùng với người thu thuế và tội nhân (Lu-ca 5:30). Khi các tín hữu cử hành Tiệc Thánh, họ cũng thiết lập mối liên kết thiêng liêng với những tín hữu khác, những người cũng là tội nhân như họ. Trong bữa ăn này, chúng ta cùng nhau kỷ niệm sự tha thứ và sự cứu rỗi trong Đức Chúa Giê-su (xem Ma-thi-ơ 26:26–30; Mác 14:22–25; 1 Cô-rinh-tô 11:23–29).

Đáng tiếc thay, một số người đã đi lên núi cùng với Môi-se sau này vẫn sa vào tội lỗi và bị hủy diệt (xem Lê-vi Ký 10:1,2, 9). Dù đã có trải nghiệm thiêng liêng sâu sắc với Đức Chúa Trời, nhưng họ vẫn không được biến đổi hay hoán cải. Đây là bài học mạnh mẽ về việc sở hữu lẽ thật và có những đặc ân thuộc linh không có nghĩa là tự động được biến đổi hay cứu rỗi. Những người này, sau khi đã trải qua những điều kỳ diệu đó, đáng lẽ phải là những người không phạm tội, nhưng họ vẫn sa ngã.

Hãy suy gẫm về câu chuyện của những người có đặc ân này, ngay cả các con trai của A-rôn. Lời cảnh báo nào điều này dành cho chúng ta, những người Cơ-đốc Phục Lâm, những người đã được giao phó ánh sáng của lẽ thật?

Thứ Ba Quyền Năng Để Vâng Lời

Đọc Ê-xê-chi-ên 36:26–28. Việc vâng lời diễn ra như thế nào trong cuộc sống của chúng ta?

Ba lần dân Y-sơ-ra-ên đã tha thiết tuyên bố rằng họ sẽ vâng lời Đức Chúa Trời (Xuất Ê-díp-tô Ký 19:8; 24:3,7). Sự vâng lời là điều quan trọng, dù Kinh Thánh cũng dạy rằng con người yếu đuối, đổ vỡ, mong manh và tội lỗi. Sự thật đau buồn này đã được bày tỏ không chỉ qua lịch sử của dân Y-sơ-ra-ên cổ đại mà còn qua lịch sử của toàn thể dân sự Ngài.

Vậy, làm thế nào để chúng ta có thể trung tín bước theo Đức Chúa Trời?

Tin mừng là những gì Đức Chúa Trời truyền dạy, Ngài cũng ban năng lực để chúng ta làm theo. Sự giúp đỡ không đến từ chúng ta, mà đến từ bên ngoài, giúp chúng ta thực hiện những gì Đức Chúa Trời đòi hỏi. Đây là công việc của Ngài. Trong phần tóm tắt thần học quan trọng của mình, tiên tri Ê-xê-chi-ên nhấn mạnh chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể thay đổi tấm lòng con người. Ngài cất bỏ tấm lòng chai đá và thay vào đó là tấm lòng bằng thịt mềm mại. Như Giô-suê đã nhắc nhở dân sự: “Các ngươi không thể phục vụ Đức Giê-hô-va” (Giô-suê 24:19).

Chúng ta có thể quyết định bước theo Chúa, đó là phần trách nhiệm của chúng ta. Chúng ta phải lựa chọn từng giây phút để đầu phục Ngài. Nhưng vấn đề là chúng ta không có khả năng tự thực hiện quyết định của mình để phục vụ Chúa. Tuy nhiên, khi chúng ta trao sự yếu đuối của mình cho Ngài, Ngài sẽ làm chúng ta trở nên mạnh mẽ. Phao-lô nói: “Khi tôi yếu đuối, ấy là lúc tôi mạnh mẽ” (2 Cô-rinh-tô 12:10).

Hãy chú ý đến điệp khúc “Ta sẽ” trong Ê-xê-chi-ên 36:24–30, Đức Chúa Trời nhóm họp, thanh tẩy, cất bỏ, ban cho, đặt để và khiến chúng ta bước đi trong đường lối Ngài. Những gì Ngài làm, chúng ta sẽ làm. Ngài đồng hành với chúng ta, và nếu chúng ta gắn bó mật thiết với Ngài, những việc Ngài làm cũng sẽ trở thành những việc chúng ta làm. Sự hiệp nhất giữa Đức Chúa Trời và chúng ta sẽ đầy năng quyền, sống động và mạnh mẽ.

Điều quan trọng nhất trong đoạn này là công việc của Đức Chúa Trời. “Ta sẽ đặt Thánh Linh của Ta vào trong các ngươi và khiến các ngươi bước đi theo luật lệ Ta, giữ gìn và làm theo các mạng lệnh Ta” (Ê-xê-chi-ên 36:27). Đức Chúa Trời truyền cho con người phải vâng lời, và chính Ngài cũng ban năng lực để vâng lời. Những gì Ngài đòi hỏi nơi dân sự, Ngài cũng luôn giúp họ làm theo. Sự vâng lời là ơn ban cho của Đức Chúa Trời (không chỉ là thành tích hay nỗ lực của con người), giống như sự xưng công bình và sự cứu rỗi cũng là những sự ban cho của Ngài (Phi-líp 2:13).

Nếu chúng ta đã được hứa ban quyền năng để vâng lời, tại sao chúng ta vẫn dễ dàng sa vào tội lỗi?

Thứ Tư Giữa Vòng Dân Sự Của Ngài

Đức Chúa Trời đã dạy dân Ngài qua nhiều phương tiện khác nhau, và một trong số đó là qua đền tạm. Tất cả các nghi lễ trong đó đều chỉ về Đức Chúa Giê-su; chúng là những bài học cụ thể trong kế hoạch cứu rỗi, kế hoạch này sẽ được thực hiện qua Đức Chúa Giê-su nhiều thế kỷ sau.

Đọc Xuất Ê-díp-tô Ký 25:1–9. Những lẽ thật thiết thực và thần học quan trọng nào được thấy trong những câu này?

Mặc dù Đức Chúa Trời đã dẫn dắt dân Y-sơ-ra-ên và Ngài đã gần gũi với họ, nhưng Ngài vẫn chỉ dẫn cho Môi-se xây dựng một đền tạm: “Họ sẽ làm cho ta một đền thánh và ta sẽ ở giữa họ” (Xuất Ê-díp-tô Ký 25:8). Đức Chúa Trời muốn cho họ thấy một cách rõ ràng rằng Ngài thực sự ở cùng họ. Mặc dù họ đã phạm sai lầm nhiều lần, nhưng Ngài không bỏ họ, và “sau khi họ được Ngài thương xót” (Ellen G. White, Tộc Trưởng Và Tiên Tri, trang 343), họ được ban lệnh truyền thiêng liêng, và quá trình xây dựng đền tạm bắt đầu.

Kinh Thánh khẳng định rằng Đức Chúa Trời không ngự trong các đền thờ do con người xây dựng (Công vụ 7:47–50) vì Ngài lớn hơn cả trời và trời không thể chứa Ngài. Phao-lô tại Areopagus ở A-then đã nói: “Đức Chúa Trời đã dựng nên thế giới và mọi vật trong đó, là Chúa của trời đất, chẳng ngự tại đền thờ bởi tay người ta dựng nên đâu” (Công vụ 17:24). Cũng như vua Sa-lô-môn nói: “Nhưng quả thật rằng Đức Chúa Trời ngự trên đất này chăng? Kìa, trời, dầu đến đỗi trời của các từng trời chẳng có thể chứa Ngài được thay, phương chi cái đền này tôi đã cất!” (1 Các Vua 8:27). Đền tạm là nơi Đức Chúa Trời sẽ biểu lộ sự hiện diện của Ngài đối với họ.

Dân Y-sơ-ra-ên phải đem của dâng tự nguyện để xây dựng đền tạm. Họ phải dâng những của dâng quý giá và đắt tiền, bao gồm vàng, bạc, đồng, gỗ tràm, các loại vải đẹp, dầu ô liu và gia vị. Trong Xuất Ê-díp-tô Ký 25:10–27:21, chúng ta được cung cấp nhiều chi tiết về đền tạm và các nghi lễ trong đó. Đức Chúa Trời đã cung cấp cho Môi-se một bản thiết kế với những chỉ dẫn cụ thể về cách xây dựng và trang trí đền tạm, bao gồm hòm giao ước, bàn bánh trần thiết, chân đèn, các bàn thờ, rèm vải, màu sắc và các kích thước.

Môi-se phải xây dựng đền tạm theo mẫu mà Đức Chúa Trời đã chỉ cho ông (Xuất Ê-díp-tô Ký 25:9,40; Xuất Ê-díp-tô Ký 26:30) và mẫu này phản ánh đền thờ trên thiên đàng (Hê-bơ-rơ 8:1,2; Hê-bơ-rơ 9:11). Đền tạm trần gian đã có một chức năng quan trọng cho đến khi Đức Chúa Giê-su chịu chết và Ngài thực thi chức vụ trong đền thờ thiên đàng, việc này cũng chấm dứt cho nghi lễ của đền tạm, nó đã được minh họa qua việc màn trong đền thờ bị xé đôi trước nơi chí thánh khi Đức Chúa Giê-su bị đóng đinh (Ma-thi-ơ 27:51, Mác 15:38).

Thứ Năm Được Đầy Dẫy Thánh Linh Của Đức Chúa Trời

Đức Chúa Trời đã chỉ dạy Môi-se về từng chi tiết trong công việc chuẩn bị các nghi lễ của đền tạm. Các thầy tế lễ phải mặc y phục lễ, nhưng thầy tế lễ thượng phẩm mặc một chiếc áo choàng đặc biệt, có tên của các con trai Y-sơ-ra-ên. Ông cũng mặc một áo lễ có chứa Urim và Thummim và phải đeo trên ngực phải (Xuất Ê-díp-tô Ký 28). Tất cả các thầy tế lễ phải được nên thánh (Xuất Ê-díp-tô Ký 29). Những đồ vật khác phải được chuẩn bị kỹ lưỡng là bàn thờ xông hương, chậu rửa, dầu xức và hương (Xuất Ê-díp-tô Ký 30).

Đọc Xuất Ê-díp-tô Ký 31:1–18. Đức Chúa Trời đã ban trợ giúp đặc biệt nào để tất cả các chi tiết của đền tạm và các nghi lễ liên quan được chuẩn bị và xây dựng một cách đẹp đẽ và đúng đắn?

Lần đầu tiên trong Kinh Thánh, người ta đọc thấy rằng Đức Chúa Trời sẽ làm cho đầy dẫy một người bằng Thánh Linh của Ngài. Điều đó có nghĩa là gì? Bết-sa-lê-ên đã được trao quyền để trang trí trong việc xây dựng đền tạm. Ông đã được đầy dẫy, tức là được trang bị những kỹ năng mới, sự hiểu biết và kiến thức về các nghề thủ công cần thiết. Thêm vào đó, Đức Chúa Trời đã ban cho Ô-hô-li-áp và nhiều thợ thủ công khác cùng một Thánh Linh để giúp đỡ trong công việc này.

Giữa tất cả sự sáng tạo này, ngày Sa-bát của Đức Chúa Trời được trình bày như một dấu hiệu giữa Đức Chúa Trời và dân Ngài, rằng Chúa làm cho họ nên thánh. Điều này có nghĩa là việc tuân giữ điều răn thứ tư có liên quan đến sự thánh hóa. Ê-xê-chi-ên sau này đã ghi nhận: “Ta cũng cho chúng nó những ngày sa bát ta làm một dấu giữa ta và chúng nó, đặng chúng nó biết rằng ta là Đức Giê-hô-va biệt chúng nó ra thánh” (Ê-xê-chi-ên 20:12).

Ngày Sa-bát là một lời nhắc nhở rằng Đức Chúa Trời không chỉ là Đấng Tạo Hóa (Sáng-thế Ký 2:2,3), Đấng Cứu Chuộc và là Đức Chúa Trời (Phục-truyền 5:15; Mác 2:27,28) mà còn là Đấng Thánh. Ngài biến đổi con người qua sự hiện diện của Ngài; qua Thánh Linh và Lời của Ngài, họ trưởng thành để phản ánh một bản tính yêu thương, nhân từ, vị tha và tha thứ.

Ơn tứ cao quý mà Đức Chúa Trời đã ban cho Môi-se là Mười Điều Răn (Xuất Ê-díp-tô Ký 31:18). Chính Đức Chúa Trời đã viết và ban hai bảng đá có mười điều răn (Xuất Ê-díp-tô Ký 31:18, Phục-truyền 9:9–11). Những bảng đá này sẽ được đặt trong nơi chí thánh và bên trong hòm giao ước, nằm dưới nắp thi ân (Xuất Ê-díp-tô Ký 25:21).

Cụm từ “nắp thi ân” xuất phát từ một từ tiếng Hê-bơ-rơ, có nghĩa gốc là “để chuộc tội.” Vậy tại sao “nắp thi ân” này lại được đặt ngay trên Luật của Đức Chúa Trời? Hy vọng gì chúng ta có thể thấy trong sự thật này?

Thứ Sáu Nghiên Cứu Bổ Túc

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC

Đọc trong chương “Đền Tạm và Các Nghi lễ” Trong cuốn sách “Tộc Trưởng và Tiên Tri” của Ellen G. White, trang 343-353.

Đền tạm là một nơi đặc biệt, nơi công việc chuộc tội đã được thực hiện cho tội lỗi đã được xưng nhận của dân sự Đức Chúa Trời. Đây là nơi mà lẽ thật và toàn bộ kế hoạch cứu rỗi đã được mạc khải và một phần chi tiết, cho dân Y-sơ-ra-ên khi họ còn ở trong sa mạc. Sự xưng công bình, sự thánh hóa, và sự phán xét đều được dạy ở đó. Mỗi lễ vật hy sinh đều chỉ về sự chết của Đức Chúa Giê-su, sự tha thứ tội lỗi và cuối cùng là sự xóa bỏ tội lỗi. Và, cùng với những lễ vật hy sinh, là sự hiện diện của luật pháp của Đức Chúa Trời, tiêu chuẩn của sự công bình.

“Luật pháp của Đức Chúa Trời, được đặt trong hòm, là quy tắc lớn về sự công bình và phán xét. Luật pháp đó tuyên án sự chết đối với kẻ phạm tội; nhưng phía trên luật pháp là nơi tha thứ, nơi sự hiện diện của Đức Chúa Trời được mạc khải, và từ đó, nhờ công việc chuộc tội, sự tha thứ đã được ban cho kẻ ăn năn. Do đó, trong công việc của Đấng Cơ-đốc vì sự cứu chuộc của chúng ta, được tượng trưng qua công việc trong đền thánh, ‘lòng thương xót và lẽ thật đã gặp nhau; sự công bình và sự bình an đã hôn nhau.’ (Thi Thiên 85:10)” - Ellen G. White, “Tộc Trưởng và Các Tiên Tri”, tr. 349.

Câu hỏi thảo luận:

Bạn đã bao nhiêu lần nói, “Mọi điều Chúa dạy tôi làm, tôi sẽ làm”? Bạn đã thành công như thế nào trong những nỗ lực đó?

Vào cuối 40 ngày Môi-se ở với Chúa trên núi Si-nai, Đức Chúa Trời nhấn mạnh rằng dân Y-sơ-ra-ên phải giữ ngày Sa-bát của Ngài, vì đó sẽ là dấu hiệu giữa Ngài và họ rằng chính Ngài sẽ làm cho họ nên thánh. Vai trò của sự thánh khiết và sự thánh hóa trong việc giữ ngày Sa-bát là gì?

Chúa muốn họ xây dựng một đền thánh để “Ta có thể ở giữa họ.” Thật thú vị khi nơi này là trung tâm của sự cứu rỗi đối với dân Y-sơ-ra-ên. Chính tại đây - trong đền thánh này, nơi Chúa ngự giữa dân Ngài - kế hoạch cứu rỗi đã được thực hiện qua hình và bóng. Điều này nói với chúng ta điều gì về sự phụ thuộc hoàn toàn của chúng ta vào Đức Chúa Trời cho sự cứu rỗi?

Bởi huyết, tất cả tội lỗi của họ đã được mang vào đền thánh, nhà của Đức Chúa Trời, điều này có nghĩa là? Làm thế nào sự thật tuyệt vời này phản ánh, dù chỉ là mờ nhạt, những gì Đức Chúa Giê-su đã làm trên thập tự giá vì chúng ta và những gì Ngài đang làm cho chúng ta bây giờ trong đền thánh trên trời?