Sự áp bức: Bối cảnh và sự ra đời của Môi-se
Kinh Thánh Nghiên Cứu: Xuất Ê-díp-tô Ký 1:1–22; Sáng-thế Ký 37:26–28; Sáng-thế Ký 39:2,21; Công-vụ 7:6; Ga-la-ti 3:16,17; Xuất Ê-díp-tô Ký 2:1–25
"Dân Y-sơ-ra-ên than thở kêu van vì phải phục dịch khổ sở; tiếng kêu van lên thấu Đức Chúa Trời. Ngài nghe tiếng than thở chúng, nhớ đến sự giao ước mình kết lập cùng Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp. Đức Chúa Trời đoái lại dân Y-sơ-ra-ên, nhận biết cảnh ngộ của chúng" — Xuất Ê-díp-tô Ký 2:23-25
Sa-bát Sự áp bức: Bối cảnh và sự ra đời của Môi-se
Câu gốc
“Dân Y-sơ-ra-ên than thở kêu van vì phải phục dịch khổ sở; tiếng kêu van lên thấu Đức Chúa Trời. Ngài nghe tiếng than thở chúng, nhớ đến sự giao ước mình kết lập cùng Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp. Đức Chúa Trời đoái lại dân Y-sơ-ra-ên, nhận biết cảnh ngộ của chúng” (Xuất Ê-díp-tô Ký 2:23-25).
Kinh Thánh nghiên cứu
Xuất Ê-díp-tô Ký 1:1–22; Sáng-thế Ký 37:26–28; Sáng-thế Ký 39:2,21; Công-vụ 7:6; Ga-la-ti 3:16,17; Xuất Ê-díp-tô Ký 2:1–25.
Sách Xuất Ê-díp-tô Ký kể về những người bị áp bức, bị phân biệt đối xử, bị ngược đãi, bị bóc lột và bị khinh miệt. Qua đó, ngày nay nhiều người cảm thấy bị bỏ rơi, bị quên lãng và bị biến thành nô lệ có thể tìm thấy niềm hy vọng, vì cùng một Đức Chúa Trời đã cứu dân Do Thái khi xưa, thì hôm nay, Ngài cũng có thể cứu họ.
Sách Xuất Ê-díp-tô Ký nói về những cuộc chiến vì sự sống còn và về những bất công, những thử thách là một phần trong cuộc sống này. Mọi người đều có thể được khích lệ bởi những câu chuyện về sự can thiệp của Đức Chúa Trời vì lợi ích của dân tộc đau khổ của Ngài. Đức Chúa Trời nghe lời kêu than của những người bị áp bức, thấy được sự đấu tranh của họ, ghi nhận những giọt nước mắt của họ và trong nỗi đau khổ của họ, Ngài đến cứu giúp.
Đức Chúa Trời chủ động giải cứu những ai tin cậy nơi Ngài. Bởi đức tin, chúng ta chỉ cần tin nhận những gì Ngài ban cho chúng ta. Đây là lý do tại sao chúng ta nên nghiên cứu sách Xuất Ê-díp-tô Ký, vì sách này chỉ cho chúng ta biết những gì Đức Chúa Giê-su đã làm cho tất cả chúng ta. Đây là sách nói về sự cứu chuộc, sự giải cứu và sự cứu rỗi sau cùng - bởi đức tin nơi Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc và những gì Ngài đã bảo đảm cho chúng ta, thì tất cả những điều nói trên thuộc về chúng ta.
Giữa những hỗn loạn và tối tăm, nếu chúng ta cứ hướng mắt lên Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ nhận ra sự hiện diện, sự trợ giúp và sự quan phòng của Ngài khi Ngài dẫn dắt chúng ta đến “Đất Hứa”.
* Nghiên cứu bài học tuần này để chuẩn bị cho Sa-bát ngày 5 tháng 7.
Thứ Nhất Dân Sự Chúa Tại Ai Cập
Sách Xuất Ê-díp-tô Ký gọi bằng tiếng Do Thái là shemot, nghĩa đen là “tên” trong tiếng Anh, theo như lời mở đầu của tài liệu cổ đó. “Đây là tên” là cách bắt đầu của sách Xuất Ê-díp-tô Ký. Tên của các con trai Gia-cốp được liệt kê ngay từ đầu.
Đọc Xuất Ê-díp-tô Ký 1:1-7. Sự thật quan trọng nào được tìm thấy ở đây?
Sách Xuất Ê-díp-tô Ký bắt đầu với lời nhắc nhở về ơn phước của Đức Chúa Trời. Khi tộc trưởng Gia-cốp và gia đình ông cư ngụ tại Ai Cập, họ chỉ có 70 người (Sáng-thế Ký 46:27, Xuất Ê-díp-tô Ký 1:5), nhưng “Con cháu Y-sơ-ra-ên thêm nhiều lạ lùng, sanh sản ra, và trở nên rất cường thạnh; cả xứ đều đầy dẫy” (Xuất 1:7). Tuy nhiên, vào thời điểm họ rời Ai Cập, số người là khoảng “sáu trăm ngàn người đàn ông đi bộ, không kể con nít” (Xuất 12:37).
Đọc Xuất Ê-díp-tô Ký 1:8-11. Tình hình của dân Y-sơ-ra-ên vào thời điểm rời khỏi Ai Cập như thế nào?
Kinh Thánh tô vẽ câu chuyện của con cái Y-sơ-ra-ên ở Ai Cập bằng những mảng màu tối. Sách Xuất Ê-díp-tô Ký bắt đầu với cảnh dân Y-sơ-ra-ên làm nô lệ, bị các đốc công người Ai Cập áp bức, bắt lao động cực khổ. Tuy nhiên, sách Xuất Ê-díp-tô Ký kết thúc bằng sự hiện diện bình an và đầy an ủi của Đức Chúa Trời nơi đền tạm, ngay trung tâm trại quân của dân Y-sơ-ra-ên (xem Xuất Ê-díp-tô Ký 40). Giữa hai cực đối lập này, chiến thắng của Đức Chúa Trời được mô tả. Qua việc giải phóng dân Chúa khỏi sự nô lệ, qua việc Biển Đỏ được rẽ ra và Ngài đánh bại đội quân mạnh nhất thời bấy giờ, đã bày tỏ sự chiến thắng ngoạn mục của Đức Chúa Trời trước các thế lực gian ác.
Câu chuyện nhấn mạnh sự nghịch lý rằng: “Càng bắt làm khó nhọc chừng nào, dân Y-sơ-ra-ên càng thêm nhiều lên, và tràn ra chừng nấy” (Xuất 1:12). Điều đó có nghĩa là, bất kể những âm mưu của con người, Đức Chúa Trời vẫn tể trị và sẽ giải cứu dân sự của Ngài, ngay cả khi hoàn cảnh dường như vô vọng, ít nhất là theo quan điểm của con người.
“Có một vua mới lên ngôi, chẳng quen biết Giô-sép” Câu này nói gì với chúng ta về việc tại sao chúng ta đừng bao giờ xem những hoàn cảnh, đặc biệt là những hoàn cảnh tốt đẹp, như là điều hiển nhiên?
Thứ Hai Bối Cảnh Lịch Sử
Khi gia đình của Gia-cốp đến Ai Cập sau khi trải qua nạn đói ở Ca-na-an (Sáng-thế Ký 46), vua Ai Cập tỏ ra thân thiện với người Do Thái vì Giô-sép và tất cả những gì người đã làm cho người Ai Cập.
“Pha-ra-ôn lại phán cùng Giô-sép rằng: Hãy xem! Trẫm lập ngươi cầm quyền trên cả xứ Ê-díp-tô. Vua liền cởi chiếc nhẫn trong tay mình, đeo vào tay Giô-sép, truyền mặc áo vải gai mịn, và đeo vòng vàng vào cổ người; rồi, truyền cho lên ngồi xe sau xe vua, có người đi trước hô rằng: Hãy quì xuống! Ấy, Giô-sép được lập lên cầm quyền cả xứ Ê-díp-tô là vậy” (Sáng 41:41 – 43).
Đọc Sáng-thế Ký 37:26–28 và Sáng-thế Ký 39:2,21. Điểm mấu chốt nào cho sự thành công đáng kinh ngạc của Giô-sép sau sự khởi đầu đầy căm go như vậy là gì?
Bối cảnh lịch sử hợp lý nhất về câu chuyện của Giô-sép như sau: người cai trị mới, trong Xuất Ê-díp-tô Ký 1:8, “chẳng quen biết Giô-sép”, là vua Ahmose (1570 TCN – 1546 TCN). Tiếp theo là vua Amenhotep I (1546 TCN – 1526 TCN), vị vua này sợ người Y-sơ-ra-ên nên đàn áp họ. Sau đó Thutmose I (1525 TCN – 1512 TCN) đã ban hành chiếu chỉ giết tất cả những con trai mới sanh của người Do Thái. Con gái của ông là Hatshepsut (1503 TCN – 1482 TCN) là công chúa đã nhận Môi-se làm con nuôi. Pha-ra-ôn Thutmose III (1504 TCN – 1450 TCN), là người đồng nhiếp chính với Hatshepsut một thời gian, là Pha-ra-ôn của Ê-díp-tô.
Theo sự tính toán chính xác nhất, việc rời khỏi Ai Cập xảy ra vào tháng 3 năm 1450 TCN (xem William H. Shea, “Ngày ra khỏi Ai Cập”, Bộ bách khoa quốc tế theo tiêu chuẩn Kinh Thánh, tập 2, do Geoffrey W. Bromiley và cộng sự biên tập, [Grand Rapids, MI: William B. Eerdmans, năm1982], trang 230–238). Để hiểu thời gian diễn ra sự kiện rời khỏi Ê-díp-tô, nghiên cứu những câu Kinh Thánh sau: Sáng-thế Ký 15:13–16; Xuất Ê-díp-tô Ký 12:40,41; Các quan-xét 11:26; và 1 Các Vua 6:1 (cũng xem Công-vụ 7:6; Ga-la-ti 3:16,17).
Đoạn đầu tiên của sách Xuất Ê-díp-tô Ký bao gồm cả một thời gian dài - từ thời Giô-sép, khi cha của ông là Gia-cốp cùng với toàn thể gia đình đến Ai Cập, cho đến sắc lệnh giết trẻ sơ sinh nam người Do Thái của Pha-ra-ôn. Mặc dầu vẫn còn nhiều tranh cãi chính xác về số năm, nhưng điều quan trọng là, ngay cả khi dân sự của Chúa bị làm nô lệ trong xứ người, Ngài vẫn không quên họ
Đó là, cho dầu có nhiều chi tiết về người Hê-bơ-rơ ở trong đất Ai Cập vào thời điểm đó vẫn còn trong bí ẩn, ít nhất là cho đến bây giờ (xem 1 Cô-rinh-tô 13:12), thì sự mặc khải về bản tính của Đức Chúa Trời vẫn chiếu sáng qua các trang sách này, cũng như trong toàn bộ Kinh Thánh. Chúng ta biết rằng, dầu cho sự việc có tồi tệ đến đâu, Đức Chúa Trời vẫn luôn ở đó, và chúng ta có thể trông cậy nơi Ngài trong bất cứ hoàn cảnh tồi tệ nào mà chúng ta gặp phải.
Thứ Ba Các Bà Đỡ Hê-bơ-rơ
Người ta không thể hiểu được sách Xuất Ê-díp-tô Ký nếu không biết gì về những sự dạy dỗ trong sách Sáng-thế Ký. Người Do Thái di chuyển đến Ai Cập, và sau một thời gian sống trong thịnh vượng và bình an, họ bị bắt làm nô lệ.
Nhưng Đức Chúa Trời không bỏ dân tộc của Ngài trong những khó khăn của họ, dầu cho có những lúc tưởng như Ngài bỏ họ. Chắc chắn nhiều người Hê-bơ-rơ tuyệt vọng trong cảnh khốn cùng. Tuy nhiên, trong thời điểm khốn đốn ấy, Ngài đến giúp họ với cánh tay quyền năng. Chúa chúng ta khuyến khích những người theo Ngài: “Trong ngày gian truân hãy kêu cầu cùng ta: Ta sẽ giải cứu ngươi, và ngươi sẽ ngợi khen ta” (Thi Thiên 50:15).
Đọc Xuất Ê-díp-tô Ký 1:9-21. Những bà đỡ trung thành đóng vai trò quan trọng nào và tại sao họ được lịch sử ghi nhớ?
Không có Pha-ra-ôn nào có tên trong sách Xuất Ê-díp-tô Ký. Họ chỉ mang danh hiệu “Pha-ra-ôn”, nghĩa là “vua”. Những người Ai Cập tin rằng Pha-ra-ôn là một vị thần trên đất, con trai của thần Ra (hoặc Osiris, hoặc Horus). Thần Ra được xem là vị thần cao nhất của Ai Cập, thần mặt trời.
Tuy nhiên, dầu có mọi quyền lực của mình, vị “thần” này không thể buộc các bà đỡ đi ngược lại với niềm tin của họ. Thật ra, tương phản với những Pha-ra-ôn vô danh, hai bà đỡ được nêu tên của mình là: Siếp-ra và Phu-a (Xuất Ê-díp-tô-Ký 1:15), họ được tôn trọng vì họ yên mến Chúa. Mệnh lệnh độc ác của Pha-ra-ôn không làm họ sợ, vì họ kính sợ Chúa hơn mệnh lệnh của những người cai trị nơi trần gian. Do đó, Đức Chúa Trời đã ban phước cho họ cùng với gia đình đông đúc của họ. Thật là một lời chứng mạnh mẽ về đức tin. Những phụ nữ này dù không biết nhiều về thần học, nhưng họ biết điều gì là đúng và chọn làm điều đúng.
Khi Pha-ra-ôn thấy âm mưu của mình thất bại, ông ra lệnh người Ai Cập giết tất cả các bé trai do người Hê-bơ-rơ sanh ra. Chúng bị ném xuống sông Nile, có lẽ là để dâng cho Hapi, thần của sông Nile và cũng là thần của sự sinh sản. (Đây là lần đầu tiên được ghi chép rằng người Do Thái bị giết chỉ vì họ là người Do Thái). Mục đích của sắc lệnh giết bé trai sơ sinh người Do Thái là để khuất phục người Hê-bơ-rơ, hủy diệt hết tất cả những con trai, và đồng hóa phụ nữ vào quốc gia Ai Cập, do đó chấm dứt mối đe dọa mà Pha-ra-ôn tin rằng người Hê-bơ-rơ gây ra cho quốc gia của mình.
Những bà đỡ không những chỉ biết hành động nào là đúng đắn mà họ còn thực hiện điều đó. Sứ điệp rõ ràng nào ở đây dành cho chúng ta?
Thứ Tư Môi-se Ra Đời
Đọc Xuất Ê-díp-tô Ký 2:1-10. Sự quan phòng và bảo vệ của Đức Chúa Trời đóng vai trò gì trong câu chuyện về sự ra đời của Môi-se?
Bối cảnh lịch sử về sự ra đời và cuộc đời của Môi-se thật ly kỳ vì ông sống trong thời kỳ nổi tiếng của triều đại Ai Cập thứ 18. Một vị vua trong triều đại này—Thutmose III, được gọi là “Napoleon của Ai Cập”—được coi là một trong những Pha-ra-ôn nổi tiếng của Ai Cập cổ đại.
Mặc dù mới sinh ra đã chịu án tử hình (xem Xuất Ê-díp-tô Ký 1:22), nhưng Môi-se được sinh ra như một người con “đặc biệt” (tiếng Do Thái gọi là tob, nghĩa là “tốt lành”; Xuất Ê-díp-tô Ký 2:2). Thuật ngữ Do Thái dùng từ “tốt lành” có nghĩa là còn hơn cả vẻ đẹp bên ngoài. Ví dụ, từ này được dùng để nói lên công việc của Đức Chúa Trời trong tuần lễ tạo thế, khi Ngài tuyên bố mọi thứ đều “tốt lành,” thậm chí “rất tốt lành” (Sáng-thế Ký 1:4,10,31).
Là một tạo vật mới, đứa trẻ “tốt lành” này, theo kế hoạch của Đức Chúa Trời, sẽ trở thành người trưởng thành dẫn dắt dân Hê-bơ-rơ ra khỏi cảnh nô lệ. Khi đứa bé này được sanh ra, đặc biệt là trong hoàn cảnh cay nghiệt như vậy, ai có thể hình dung được tương lai của nó? Tuy nhiên, Đức Chúa Trời sẽ thực hiện lời hứa của Ngài với Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp. Ngài đã lập giao ước với họ rằng Ngài sẽ ban cho dòng dõi họ vùng Đất Hứa (Xuất 2:24,25). Và, đúng vậy, Ngài sẽ dùng đứa trẻ sơ sinh tốt lành này, nhiều thập kỷ sau đó, để làm điều đó.
Cho đến lúc đó, công chúa Ai Cập Harshepsut nhận Môi-se làm con nuôi. Tên đặt cho Môi-se có nguồn gốc từ Ai Cập, nghĩa là “con trai của” hay “sinh ra từ,” như được phản ảnh trong tên của Ah-mose (“con trai của Akh”) hoặc Thutmose (“con trai của Thoth). Do đó, tên của ông được dịch sang tiếng Do Thái là Mosheh, nghĩa là “được kéo ra”. Mạng sống của ông được cứu thoát một cách kỳ diệu khi ông được “kéo ra” khỏi dòng sông.
Chúng ta biết rất ít về thời thơ ấu của ông. Sau khi được cứu sống cách lạ lùng và được công chúa Hatshepsut nhận nuôi, trong 12 năm đầu Môi-se sống với gia đình của ông (Xuất 2:7-9; Ellen G. White, Tộc Trưởng và Tiên Tri, trang 244). Sau đó Môi-se nhận được nền giáo dục tốt nhất của Ai Cập, tất cả là để chuẩn bị cho ông trở thành Pha-ra-ôn tiếp theo của Ai Cập (Tộc Trưởng và Tiên Tri, trang 245). Thật tuyệt vời, khi cuối cùng, đứng trước những gì thật sự là quan trọng, đó là: Sự hiểu biết về Đức Chúa Trời và lẽ thật của Ngài, thì nền giáo dục quá ưu việt này trở nên vô ích, hoặc thậm chí còn đi ngược lại với sự giáo dục ấy.
Đối với những điều thực sự quan trọng, bạn đang học hỏi bao nhiêu thứ mà cuối cùng trở thành vô ích?
Thứ Năm Các Kế Hoạch Bị Thay Đổi
Đọc Xuất Ê-díp-tô Ký 2:11-25. Những biến cố nào đã nhanh chóng xảy ra và thay đổi toàn bộ hướng đi của cuộc đời Môi-se? Chúng ta học được những bài học nào từ câu chuyện này?
Môi-se sẽ làm gì? Liệu ông sẽ khuất phục trước sự hấp dẫn của Ai Cập và những quyến rũ nơi cung điện, hay sẽ cùng dân mình chịu khổ? Những sự kiện buộc ông phải đưa ra quyết định nhanh chóng.
“Pha-ra-ôn hay việc đó, thì tìm giết Môi-se; nhưng người trốn đi khỏi mặt Pha-ra-ôn, dừng chân tại xứ Ma-đi-an, và ngồi gần bên một cái giếng” (Xuất 2:15).
Sau khi giết người, Môi-se thật sự không có sự chọn lựa, ít nhất là việc ở lại Ai Cập. Vì vậy, bất kỳ dự định nào dành cho ông để lên ngôi tại Ai Cập và trở thành “vị thần”, những kế hoạch đó nhanh chóng kết thúc. Thay vì trở thành một vị thần, một vị thần giả, thì Môi-se phục sự một Đức Chúa Trời chân thật. Chắc chắn, vào lúc chạy trốn, Môi-se không biết được tương lai sẽ ra sao.
“Toàn bộ sự việc (việc Môi-se giết người Ai Cập) đã nhanh chóng được người Ai Cập biết đến, và bị cường điệu quá mức, chẳng mấy chốc đã đến tai của Pha-ra-ôn. Người ta đã trình bày với nhà vua rằng hành động này có ý nghĩa rất lớn; rằng Môi-se lên kết hoạch dẫn dắt dân tộc mình chống lại người Ai Cập, để lật đổ chính quyền và lên ngôi; và rằng sẽ không an toàn cho vương quốc khi mà Môi-se còn sống. Nhà vua lập tức quyết định Môi-se phải chết; khi nhận ra sự nguy hiểm sẽ đến với mình, ông [Môi-se] đã trốn thoát và chạy về phía Ả Rập.” - Ellen G. White, Tộc Trưởng và Tiên Tri, trang 247.
Môi-se sống được 120 năm (Phục-truyền 34:7), cuộc đời ông có thể chia làm ba phần, mỗi phần 40 năm. Bốn mươi năm đầu ông ở Ai Cập, phần lớn là ở trong cung điện hoàn gia. Bốn mươi năm thứ nhì ông sống ở nhà Giê-trô ở vùng đất Mi-đi-an.
Tuy nhiên, bốn mươi năm cuối, chiếm phần lớn trong năm sách đầu tiên của Môi-se, năm quyển sách này kể câu chuyện về sự kêu gọi đầu tiên của Y-sơ-ra-ên để làm chứng cho một thế gian đắm chìm trong sự thờ thần tượng, bày tỏ bản chất và tính cách của Đức Chúa Trời chân thật (xem Phục-truyền 4:6-8).
Có phải đó là kế hoạch của Đức Chúa Trời để Môi-se giết người Ai Cập không? Nếu không, câu chuyện này dạy gì cho chúng ta về cách Chúa có thể điều khiển mọi tình huống và sử dụng nó cho mục đích của Ngài? Rô-ma 8:28 giúp chúng ta hiểu lẽ thật quan trọng này như thế nào?
Thứ Sáu Nghiên Cứu Bổ Túc
NGHIÊN CỨU BỔ TÚC
Đọc sách của bà Ellen G. White chương “Môi-se”, trang 241-251, trong quyển Tộc Trưởng và Tiên Tri, chương này giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc về phần nghiên cứu Kinh Thánh trong tuần này.
Câu Kinh Thánh nói rằng “Nhưng các bà mụ kính sợ Đức Chúa Trời, chẳng làm theo lời vua Ê-díp-tô phán dặn, đều để cho các con trai sống hết” (Xuất 1:17). Ellen G. White đã bình luận đúng về lòng trung thành của các bà đỡ và niềm hy vọng về Đấng Mê-si: “Mệnh lệnh được ban ra cho những người phụ nữ là những người có công việc phù hợp để thực hiện mệnh lệnh ấy vì, đó là tiêu diệt những bé trai Hê-bơ-rơ khi chúng mới lọt lòng mẹ. Sa-tan là kẻ thúc đẩy trong vấn đề này. Nó biết rằng một Đấng giải cứu sẽ được dấy lên từ dân tộc Y-sơ-ra-ên; bằng cách dẫn dắt nhà vua tiêu diệt con cái của họ, nó sẽ có hy vọng đánh bại mục đích của Chúa. Những người phụ nữ kính sợ Đức Chúa Trời, nên không dám thực hiện mệnh lệnh tàn ác ấy. Chúa ủng hộ cách làm của họ và ban cho họ sự thịnh vượng.” - Ellen G. White, Tộc Trưởng và Tiên Tri, trang 242.
Tin tốt lành trong tất cả những điều này đó là, dầu cho những kế hoạch của Sa-tan có như thế nào, Đức Chúa Trời vẫn chiến thắng, và Ngài dùng những con người trung thành để ngăn chận kẻ thù. Chúng ta đang sống trong lãnh thổ của kẻ thù, kẻ mà Đức Chúa Giê-su gọi là “vua” hoặc “vua chúa thế gian này” (Ê-phê-sô 2:2; Giăng 14:30). Sa-tan đã chiếm đoạt vị trí này từ A-đam, nhưng qua cuộc cuộc đời của Chúa và sự chết của Ngài trên thập giá, Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc đã đánh bại Sa-tan (Ma-thi-ơ 4:1-11; Giăng 19:30; Hê-bơ-rơ 2:14). Mặc dầu Sa-tan vẫn đang sống và đang hành động, cũng như sự bày tỏ về nỗ lực của nó để giết những con trẻ đó, thì bản án tử hình dành cho nó là chắc chắn (Giăng 12:31; Giăng 16:11; Khải Huyền 20:9,10,14). Tin tốt lành đó là những khó khăn trong cuộc sống sẽ được khắc phục bởi ân điển của Đức Chúa Trời (Phi-líp 4:13). Ân điển đó là niềm hy vọng duy nhất của chúng ta.
Câu hỏi thảo luận:
Tại sao Đức Chúa Trời cho phép dân Hê-bơ-rơ sống ở Ai Cập và bị áp bức? Tại sao Chúa lại để một thời gian quá lâu mới can thiệp cho họ? Hãy nhớ rằng, mỗi người sẽ chịu đựng khổ đau chỉ trong thời gian họ còn sống. Nghĩa là, thời gian chịu khốn khổ cho cả một dân tộc là rất lâu, nhưng cho mỗi cá nhân chỉ chịu đựng trong thời gian họ còn sống thôi. Tại sao việc phân biệt như vậy rất quan trọng trong việc tìm hiểu nỗi đau khổ của con người nói chung?
Tập trung nhiều hơn vào các câu hỏi liên quan đến cách Đức Chúa Trời có thể sử dụng hành động nóng nảy của Môi-se trong việc giết người Ai Cập. Giả sử ông không làm điều đó, thì có phải người Hê-bơ-rơ cuối cùng sẽ không được giải cứu khỏi Ai Cập? Giải thích lý do của bạn?