Bài Học 7 · 9 – 15 Tháng 11

Phước cho những kẻ tin

Kinh Thánh Nghiên Cứu: Giăng 8:54–58, Sáng-thế Ký 12:3, Rô-ma 4:1–5, Giăng 12:1–8, Giăng 19:4–22, Giăng 20:19–31, Đa-ni-ên 2, Đa-ni-ên 7

"Đức Chúa Jêsus phán: Vì ngươi đã thấy ta, nên ngươi tin. Phước cho những kẻ chẳng từng thấy mà đã tin vậy!" — Giăng 20:29
Sa-bát Phước Cho Những Kẻ Tin

Câu gốc

“Đức Chúa Jêsus phán: Vì ngươi đã thấy ta, nên ngươi tin. Phước cho những kẻ chẳng từng thấy mà đã tin vậy!” (Giăng 20:29).

Kinh Thánh nghiên cứu

Giăng 8:54–58, Sáng-thế Ký 12:3, Rô-ma 4:1–5, Giăng 12:1–8, Giăng 19:4–22, Giăng 20:19–31, Đa-ni-ên 2, Đa-ni-ên 7.

Trải dài Phúc Âm Giăng, ta thấy sự đa dạng của những con người có xuất thân, niềm tin và trải nghiệm khác nhau - tất cả đều làm chứng cho danh tính của Đức Chúa Giê-su.

“Kìa! Chiên Con của Đức Chúa Trời!” (Giăng 1:36). “Chúng ta đã gặp Đấng Mê-si (nghĩa là Đấng Cơ-đốc)” (Giăng 1:41). “Chúng ta đã gặp Đấng mà Môi-se có chép trong luật pháp” (Giăng 1:45). “Lạy thầy, thầy là Con Đức Chúa Trời, thầy là Vua dân Y-sơ-ra-ên!” (Giăng 1:49). “Ấy chẳng phải là Đấng Cơ-đốc sao?” (Giăng 4:29). “Chúng ta đã nghe Ngài, và biết rằng chính Ngài thật là Cứu Chúa của thế gian” (Giăng 4:42). “Lạy Chúa, chúng tôi đi theo ai? Chúa có những lời của sự sống đời đời” (Giăng 6:68). “tôi tin Chúa là Đấng Cơ-đốc, Con Đức Chúa Trời, là Đấng phải đến thế gian” (Giăng 11:27). “tôi đã mù mà bây giờ lại sáng” (Giăng 9:25). “Vua các ngươi kia kìa!” (Giăng 19:14)

“về phần ta không thấy người có tội lỗi chi hết.” (Giăng 19:6). “Lạy Chúa tôi và Đức Chúa Trời tôi!” (Giăng 20:28).

Vậy những người này là ai, và tại sao họ lại làm chứng về danh của Đức Chúa Giê-su như vậy?

*Nghiên cứu bài học tuần này để chuẩn bị cho Sa-bát ngày 16 tháng 11.

Thứ Nhất Hồi Tưởng Về Áp-ra-ham

Đức Chúa Giê-su không hề ngần ngại phán Ngài là ai, cũng chẳng ngại kêu gọi những nhân chứng để làm chứng về Ngài, kể cả những nhân chứng đã qua đời từ lâu, trong đó có Áp-ra-ham. “Cha các ngươi là Áp-ra-ham đã nức lòng nhìn thấy ngày của ta; người đã thấy rồi, và mừng rỡ” (Giăng 8:56).

Tại sao lời chứng của Áp-ra-ham lại quan trọng đến mức được đưa vào Phúc Âm Giăng? (Sáng-thế Ký 12:3; Sáng-thế Ký 18:16-18; Sáng-thế Ký 26:4; Ma-thi-ơ 1:1; Công Vụ Sứ Đồ 3:25).

“Qua những hình bóng và lời hứa, Đức Chúa Trời đã “đã rao-truyền trước cho Áp-ra-ham tin lành nầy” (Ga-la-ti 3:8). Đức tin của vị tổ phụ này hướng về Đấng Cứu Rỗi sẽ đến. Đấng Cơ-đốc phán cùng người Giu-đa rằng: “Cha các ngươi là Áp-ra-ham đã nức lòng nhìn thấy ngày của ta; người đã thấy rồi, và mừng-rỡ” (Giăng 8:56). Con chiên được dâng thay cho Y-sác tượng trưng cho Con của Đức Chúa Trời, Đấng phải hy sinh thay chúng ta. Khi con người bị định tội chết vì vi phạm luật của Đức Chúa Trời, thì Cha, nhìn xem Con của Ngài, phán cùng tội nhân: “Hãy sống đi: Ta đã tìm được tiền chuộc.” - Ellen G. White, Tộc Trưởng và Tiên Tri, trang 154.

Áp-ra-ham là tổ phụ của dân Do Thái. Ông nhận được lời hứa rằng qua ông, muôn dân sẽ được phước hạnh. Phước hạnh này đến qua Đấng Mê-si, sinh ra từ dòng dõi của ông.

Áp-ra-ham cũng là tổ phụ của những người đáp lại Đức Chúa Trời bằng đức tin (Hê-bơ-rơ 11:8,17-19). Sự sẵn sàng hy sinh Y-sác (Sáng-thế Ký 22), con của lời hứa, không chỉ là bằng chứng về đức tin mà còn là cánh cửa nhìn vào kế hoạch cứu rỗi.

Khi Đức Chúa Giê-su phán: “Cha các ngươi là Áp-ra-ham đã nức lòng nhìn thấy ngày của ta; người đã thấy rồi, và mừng rỡ.” (Giăng 8:56), các nhà lãnh đạo Do Thái đáp: “Thầy chưa đầy năm mươi tuổi, mà đã thấy Áp-ra-ham!” (Giăng 8:57).

Câu trả lời của Đức Chúa Giê-su thật đáng kinh ngạc. “Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, trước khi chưa có Áp-ra-ham, đã có ta” (Giăng 8:58).

Lời Đức Chúa Giê-su gợi nhớ đến điều Đức Chúa Trời phán cùng Mô-se tại bụi gai cháy. Đây là tuyên bố Ngài là Đức Chúa Trời, Đấng Tự Hữu Hằng Hữu. Chắc chắn, các nhà lãnh đạo Do Thái hiểu hàm ý trong lời Ngài phán vì sau đó họ “lấy đá ném vào Ngài” (Giăng 8:59).

Đọc Rô-ma 4:1–5. Phao-lô sử dụng câu chuyện của Áp-ra-ham để tiết lộ lẽ thật vĩ đại về sự cứu rỗi chỉ bởi đức tin mà không cần đến công việc của luật pháp như thế nào? Những câu Kinh Thánh này giúp chúng ta hiểu thế nào về ý niệm Áp-ra-ham là tổ phụ của những người sống bởi đức tin?

Thứ Hai Lời Chứng Của Ma-ri

Sáu ngày trước lễ Vượt Qua, Đức Chúa Giê-su đến thăm Ma-ri, Ma-thê và La-xa-rơ, anh trai của họ, người mà Đức Chúa Giê-su đã khiến sống lại. Si-môn, người được chữa khỏi bệnh phung, đã tổ chức một bữa tiệc để bày tỏ lòng biết ơn về những gì Đức Chúa Giê-su đã làm cho ông. Ma-thê đang phục vụ, và La-xa-rơ ngồi cùng bàn với các khách mời (Giăng 12:1–8).

Hành động của Ma-ri ở đây có ý nghĩa gì? Điều này đã làm chứng như thế nào về việc Đức Chúa Giê-su thật sự là ai? (Giăng 12:1–3).

Dầu thơm rất đắt tiền, trị giá khoảng một năm tiền công của người lao động bình thường. Ma-ri có lẽ đã tặng món quà này như một lời cảm ơn dành cho Đấng Cứu Rỗi vì sự tha tội cho bà và vì sự sống lại của anh trai bà. Bà đã dự định dành dầu thơm này cho việc mai táng Đức Chúa Giê-su. Nhưng sau đó, bà nghe nói rằng Ngài sắp được xức dầu làm Vua. Trong trường hợp đó, bà sẽ là người đầu tiên mang đến vinh dự cho Ngài.

Có lẽ Ma-ri không cố ý để hành động của mình bị chú ý, nhưng Giăng lưu ý, “cả nhà thơm nức mùi dầu đó.” (Giăng 12:3). Giu-đa nhanh chóng quở trách, nói rằng dầu thơm này nên được bán và tiền thu được đem cho người nghèo. Đức Chúa Giê-su lập tức khiến Ma-ri an tâm khi phán, “ Hãy để mặc người, người đã để dành dầu thơm nầy cho ngày chôn xác ta. Vì các ngươi thường có kẻ nghèo ở với mình, còn ta, các ngươi không có ta luôn luôn.” (Giăng 12:7,8).

Một chủ đề lặp đi lặp lại xuyên suốt Kinh Thánh. Đức Chúa Giê-su biết những gì đang diễn ra trong lòng người khác (Giăng 2:24, 25; Giăng 6:70,71; Giăng 13:11; Giăng 16:19). Trong trường hợp này tại bữa tiệc của Si-môn, Đức Chúa Giê-su biết những gì đang diễn ra trong lòng Giu-đa. Giăng cẩn thận chỉ ra Giu-đa là ai - một tên trộm ích kỷ (Giăng 12:6).

“Món quà thơm ngát mà Ma-ri định dùng cho thân thể của Đấng Cứu Rỗi, bà đã đổ lên thân thể đang sống của Ngài. Tại nơi chôn cất, hương thơm của nó chỉ có thể lan tỏa khắp ngôi mộ; nhưng bây giờ nó làm vui lòng Ngài với sự chắc chắn về đức tin và tình yêu của bà… Và khi Ngài đi xuống bóng tối của thử thách lớn lao, Ngài mang theo ký ức về việc làm đó, một bằng chứng về tình yêu mà Ngài sẽ nhận được từ những người được sự cứu chuộc của Ngài mãi mãi.” - Ellen G. White, Nguyện Ước Thời Đại, trang 560.

Đức Chúa Giê-su biết những gì trong lòng Ma-ri và trong lòng Giu-đa. Ngài cũng biết những gì đang diễn ra trong lòng bạn. Sự thật này nói gì với chúng ta về nhu cầu của Đấng Cơ-đốc, ví dụ như sự công bình của chúng ta, biến đổi chúng ta và che phủ chúng ta?

Thứ Ba Nhân Chứng Bất Ngờ: Phi-lát

Trong Phúc Âm Giăng, nhiều lần tác giả ghi lại những nỗ lực của giới lãnh đạo tôn giáo nhằm bắt giữ Đức Chúa Giê-su, đưa Ngài ra xét xử và kết án tử hình. Một chủ đề thường xuyên xuất hiện trong Phúc Âm Giăng, được Đức Chúa Giê-su nhắc đến nhiều lần, là thì giờ hoặc thời điểm của Ngài chưa đến, ám chỉ đến thời điểm Ngài chịu đóng đinh (Giăng 2:4; Giăng 7:6,8,30; Giăng 12:7,23,27; Giăng 13:1; Giăng 17:1).

Giờ ấy đã đến. Đức Chúa Giê-su bị bắt tại Vườn Ghết-sê-ma-nê, bị dẫn đến trước mặt An-ne, sau đó là Cai-phe, thầy tế lễ thượng phẩm, rồi đến hai lần trước mặt Phi-lát.

Giăng đã kêu gọi nhiều nhân chứng từ mọi tầng lớp xã hội để làm chứng rằng Đức Chúa Giê-su là Đấng Cơ-đốc. Giờ đây, Giăng kêu gọi Phi-lát, quan tổng đốc đã xét xử Đức Chúa Giê-su. Đây là một lời chứng quan trọng vì Phi-lát là người La Mã, là quan tổng đốc và là quan án; hầu hết các nhân chứng khác đều là người Do Thái và dân thường.

Lời phán của Phi-lát liên quan đến chủ đề của Phúc Âm Giăng như thế nào? (Giăng 18:38; Giăng 19:4–22)

Sáng sớm Thứ Sáu, Đức Chúa Giê-su được dẫn đến trước mặt Phi-lát (Giăng 18:28). Kế hoạch của quan tổng đốc là nhanh chóng xử lý tù nhân. Nhưng thái độ của Đức Chúa Giê-su đã thu hút sự chú ý của Phi-lát. Vị quan tổng đốc đã chất vấn Đức Chúa Giê-su kỹ lưỡng và nghe Ngài phán: “Nầy, vì sao ta đã sanh và vì sao ta đã giáng thế: Ấy là để làm chứng cho lẽ thật. Hễ ai thuộc về lẽ thật thì nghe lấy tiếng ta.” (Giăng 18:37).

Mặc dù cuối cùng quan tổng đốc đã kết án tử hình Đức Chúa Giê-su, nhưng ông vẫn tuyên bố Đức Chúa Giê-su vô tội đến ba lần (Giăng 18:38; Giăng 19:4,6). Và trên thập tự giá, ông cho viết dòng chữ “Giê-su người Na-xa-rét, là Vua dân Giu-đa” (Giăng 19:19), hoàn thành lời chứng của mình về Đức Chúa Giê-su là ai. Tuy nhiên, bất chấp lời chứng về sự vô tội của Đấng Cơ-đốc, cuối cùng ông vẫn kết án Đức Chúa Giê-su tội chết.

Chính Lẽ Thật đang đứng trước mặt Phi-lát, thế nhưng – vì đám đông bắt ép ông – Phi-lát vẫn kết án tử hình Đức Chúa Giê-su! Thật là một gương bi kịch cho việc không tuân theo những gì lương tâm và tấm lòng mách bảo là đúng đắn!

Chúng ta có thể học được gì từ tấm gương của Phi-lát về những nguy hiểm của việc để cho cảm xúc của đám đông, thậm chí là áp lực, ngăn cản chúng ta làm điều mà chúng ta tin là đúng?

Thứ Tư Nhân Chứng Thô-ma

Đọc Giăng 20:19-31. Chúng ta có thể học được gì về đức tin và sự nghi ngờ từ câu chuyện của Thô-ma? Sai lầm lớn nhất của Thô-ma là gì?

Đấng Cơ-đốc đã hiện ra với các môn đồ sau khi Ngài sống lại, khi họ đang đóng cửa, ở cùng nhau trong một căn phòng vì sợ hãi. Thô-ma không có mặt với họ. Sau đó, ông nghe các môn đồ khác kể lại về sự Chúa sống lại, nhưng ông lại tuyệt vọng. Điều đó không phù hợp với hình ảnh vương quốc mà ông đã tưởng tượng. Và chắc chắn, ông cũng tự hỏi tại sao Đức Chúa Giê-su lại mặc khải cho những người khác khi chính ông không hiện diện ở đó.

Thô-ma nói: “Nếu ta không thấy dấu đinh trong bàn tay Ngài, nếu ta không đặt ngón tay vào chỗ dấu đinh, và nếu ta không đặt bàn tay nơi sườn Ngài, thì ta không tin” (Giăng 20:25).

Thô-ma đang ra điều kiện để ông tin. Cách tiếp cận đức tin vào Đức Chúa Giê-su theo kiểu này đã xuất hiện nhiều lần trong Phúc Âm Giăng. Ni-cô-đem trả lời Đức Chúa Giê-su: “Người đã già thì sanh lại làm sao được? Có thể nào trở vào lòng mẹ và sanh lần thứ hai sao?” (Giăng 3:4). Người đàn bà tại giếng nước hỏi: “Hỡi Chúa, Chúa không có gì mà múc, và giếng thì sâu, vậy bởi đâu có nước sống ấy?” (Giăng 4:11). Đám đông được ăn bánh và cá đã hỏi: “thế thì thầy làm phép lạ gì, để cho chúng tôi thấy và tin? Thầy làm công-việc gì?” (Giăng 6:30).

Chính Phúc Âm Giăng bác bỏ quan điểm “phải thấy rồi mới tin” này. Khi Đức Chúa Giê-su gặp Thô-ma sau khi sống lại, Ngài mời ông đến, xem và chạm vào thân thể đã sống lại của Ngài. Nhưng rồi Ngài lại phán: “Phước cho những kẻ chẳng từng thấy mà đã tin vậy!” (Giăng 20:29).

“Đức Chúa Trời không bao giờ đòi chúng ta phải tin nếu Ngài không ban cho ta đủ chứng cớ để làm nền tảng cho đức tin mình. Sự thực hữu của Ngài, bản tánh của Ngài, chân lý của Ngài, thảy đều thiết lập bởi lời chứng của lý trí ta; mà lời chứng này thật nhiều vô kể. Tuy vậy, Đức Chúa Trời chẳng bao giờ cất đi mối nghi ngờ có thể nổi lên. Đức tin của chúng ta phải đặt trên chứng cớ, chớ không phải lời biện bạch.” - Ellen G. White, Con Đường Bình An, trang 105.

Qua Lời Chúa, qua Sự Sáng Thế, và qua trải nghiệm cá nhân, chúng ta đã được ban cho một lượng bằng chứng đáng kinh ngạc về đức tin của mình vào Đức Chúa Giê-su.

Nếu có người hỏi bạn, Tại sao bạn tin vào Đức Chúa Giê-su? bạn sẽ nói gì?

Thứ Năm Lời Chứng Của Chúng Ta Về Đức Chúa Giê-su

Suốt sách Phúc Âm Giăng, khi giới thiệu các nhân chứng về Đức Chúa Giê-su, Giăng muốn dẫn chúng ta đến một kết luận sâu rộng: “Đức Chúa Jêsus đã làm trước mặt môn đồ Ngài nhiều phép lạ khác nữa, mà không chép trong sách nầy. Nhưng các việc nầy đã chép, để cho các ngươi tin rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Cơ-đốc, tức là Con Đức Chúa Trời, và để khi các ngươi tin, thì nhờ danh Ngài mà được sự sống.” (Giăng 20:30,31).

Hãy tưởng tượng rằng mình có mặt ở đó, tận mắt chứng kiến Đức Chúa Giê-su thực hiện nhiều phép lạ này. Chắc chắn chúng ta sẽ tin, phải không? Chúng ta có thể nghĩ vậy; nhưng theo một cách nào đó, chúng ta thậm chí còn có nhiều lý do để tin vào Đức Chúa Giê-su hơn cả những người thực sự chứng kiến các phép lạ đó. Tại sao?

Một số điều mà chúng ta có ngày nay mà những người sống vào thời Đức Chúa Giê-su không có, có thể giúp chúng ta tin? Ví dụ, xem Ma-thi-ơ 24:2, Ma-thi-ơ 24:14, Ma-thi-ơ 24:6-8.

Đó là bởi vì chúng ta không chỉ có những tường thuật đầy quyền năng trong Phúc Âm Giăng, mà còn có lợi thế to lớn khi chứng kiến rất nhiều điều mà Đức Chúa Giê-su và những người viết Kinh Thánh khác đã báo trước trở thành sự thật, chẳng hạn như sự hủy diệt đền thờ (Ma-thi-ơ 24:2), sự lan truyền Phúc Âm khắp thế giới (Ma-thi-ơ 24:14), sự bỏ đạo lớn (2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:3), và thế giới vẫn tiếp tục là một nơi sa ngã và xấu xa (Ma-thi-ơ 24:6-8).

Suốt cuộc đời và chức vụ của Đức Chúa Giê-su, những người theo Ngài vẫn là một nhóm nam nữ nhỏ bé và bị sách nhiễu, theo tiêu chuẩn loài người, họ lẽ ra đã biến mất từ lâu trong lịch sử. Làm sao họ có thể biết, như chúng ta biết, rằng tất cả những điều này sẽ xảy ra? Và chúng đã xảy ra. Thực tế, đức tin của chính chúng ta tồn tại như một sự ứng nghiệm cho lời tiên tri của Đức Chúa Giê-su rằng Phúc Âm sẽ được truyền đến khắp thế giới.

Và ngày nay, khoảng hai ngàn năm sau, với tư cách là những người đi theo Đức Chúa Giê-su, chúng ta cũng có đặc quyền làm chứng về Ngài và những gì Ngài đã làm cho chúng ta. Chính nhờ việc đọc Kinh Thánh dưới sự cáo trách của Đức Thánh Linh, mà chúng ta có thể biết Đức Chúa Giê-su là Đấng Mê-si. Không phải qua lập luận của Na-tha-na-ên, Ni-cô-đem, người đàn bà Sa-ma-ri, hay sự dạy dỗ của người Pha-ri-si mà chúng ta có thể biết Đức Chúa Giê-su là Đấng Cứu Thế của thế gian.

Và sau đó, mỗi người chúng ta, theo cách riêng của mình, và xuất phát từ mối thông công riêng với Chúa, đều có thể có một câu chuyện để kể. Câu chuyện của chúng ta có thể không kịch tính như chứng kiến người chết sống lại hay người mù từ thuở sơ sinh được chữa lành, nhưng điều đó không quan trọng. Điều quan trọng là chúng ta biết Đức Chúa Giê-su cho chính mình, và theo cách riêng của mình, làm chứng về Ngài, giống như những người trong Phúc Âm Giăng đã làm.

Thứ Sáu Nghiên Cứu Bổ Túc

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC

Đọc trong sách của Ellen G. White, chương “Phép Thử Đức Tin” (The Test of Faith), trang 145–155 của sách Tộc Trưởng và Tiên Tri; và chương “Trong Phòng Xét Xử của Phi-lát” (In Pilate’s Judgment Hall) trang 723–740, trong sách Nguyện Ước Thời Đại.

Trong Phúc Âm Giăng, Thô-ma “sấp mình xuống dưới chân Đức Chúa Giê-su mà kêu rằng: ‘Lạy Chúa tôi và Đức Chúa Trời tôi!’”.

Đức Chúa Giê-su chấp nhận sự công nhận của Thô-ma, nhưng nhẹ nhàng khiển trách sự thiếu đức tin của ông: “Thô-ma, vì ngươi đã thấy ta nên ngươi tin. Phước cho những kẻ chẳng từng thấy mà đã tin vậy!”. Đức tin của Thô-ma sẽ đẹp lòng Đấng Cơ-đốc hơn nếu ông sẵn sàng tin theo lời chứng của các anh em mình. Giả sử thế gian ngày nay noi theo gương Thô-ma, thì sẽ không ai tin nhận sự cứu rỗi; vì tất cả những ai tiếp nhận Đấng Cơ-đốc đều phải làm như vậy qua lời chứng của người khác.

Nhiều người hay nghi ngờ thường bào chữa cho mình bằng cách nói rằng nếu họ có bằng chứng mà Thô-ma đã nhận được từ các môn đồ đồng hành khác, thì họ sẽ tin. Họ không nhận ra rằng họ không chỉ có bằng chứng đó, mà còn có nhiều hơn thế nữa. Nhiều người giống như Thô-ma, cứ chờ đợi mọi lý do nghi ngờ phải được loại bỏ, thì họ sẽ chẳng bao giờ đạt được ước muốn của mình. Dần dần, họ trở nên kiên định trong sự vô tín. Những ai tập rèn mình nhìn vào mặt tối, rồi lằm bằm và phàn nàn, thì không biết họ đang làm gì. Họ đang gieo mầm nghi ngờ, và họ sẽ gặt hái được mùa nghi ngờ. Vào lúc đức tin và sự tự tin là cần thiết nhất, thì nhiều người sẽ thấy mình bất lực để hy vọng và tin tưởng. — Ellen G. White, Nguyện Ước Thời Đại, trang 807, 808.

Câu hỏi thảo luận:

Sự khác biệt cơ bản giữa cách bày tỏ đức tin của Áp-ra-ham và Thô-ma là gì? Chúng ta có thể học được gì từ câu chuyện của họ

Trong lớp học, những ai sẵn lòng hãy làm chứng cho Đức Chúa Giê-su, giống như chúng ta đã thấy trong Giăng. Mặc dù họ có hoàn cảnh khác nhau, họ nói gì, và làm thế nào để họ làm chứng, họ đều làm chứng cho cùng một Đấng

Phi-lát đã hỏi một câu hỏi khá triết lý: “Lẽ thật là gì?”. Hãy trả lời câu hỏi đó dựa trên tất cả những gì chúng ta đã học trong sách Phúc Âm Giăng.

Hãy xem các lời tiên tri trong Đa-ni-ên 2 và 7. Mặc dù những người trong thời của Đức Chúa Giê-su đã có hai đoạn Kinh Thánh này, nhưng lợi thế lớn lao mà chúng ta có ngày nay mà họ không có vào thời đó là gì, liên quan đến việc chứng kiến những lời tiên tri đó được ứng nghiệm ra sao và do đó chúng ta có thêm lý do để tin tưởng những lời này như thế nào?