Lời chứng của người Sa-ma-ri
Kinh Thánh Nghiên Cứu: Giăng 4:1-42; Giăng 3:26-30; Giê-rê-mi 2:13; Xa-cha-ri 14:8; Ê-xê-chi-ên 36:25-27
"Họ nói với người đàn bà rằng: Ấy không còn phải vì điều ngươi đã nói với chúng ta mà chúng ta tin đâu; vì chính chúng ta đã nghe Ngài, và biết rằng chính Ngài thật là Cứu Chúa của thế gian" — Giăng 4:42
Sa-bát Lời Chứng Của Người Sa-ma-ri
Câu gốc
“Họ nói với người đàn bà rằng: Ấy không còn phải vì điều ngươi đã nói với chúng ta mà chúng ta tin đâu; vì chính chúng ta đã nghe Ngài, và biết rằng chính Ngài thật là Cứu Chúa của thế gian” (Giăng 4:42).
Kinh Thánh nghiên cứu
Giăng 4:1-42; Giăng 3:26-30; Giê-rê-mi 2:13; Xa-cha-ri 14:8; Ê-xê-chi-ên 36:25-27.
Người Sa-ma-ri là ai? Vương quốc phía bắc của Y-sơ-ra-ên đã bị đế chế A-si-ri thống trị vào năm 722 TCN, để duy trì sự ổn định về mặt chính trị, và để dễ bề cai trị, người A-si-ri đã phân tán những tù nhân rải ra trên khắp đế quốc rộng lớn của họ. Tương tự như vậy, những người bị bắt từ các quốc gia khác đã được đưa đến cư ngụ tại vương quốc phía bắc này, về sau họ trở thành một cộng đồng dân cư với tên gọi là người Sa-ma-ri, những người áp dụng hình thức Do Thái giáo theo cách riêng của họ.
Tuy nhiên, mối quan hệ của họ với người Do Thái không hề tốt đẹp chút nào! Chẳng hạn như người Sa-ma-ri chống đối việc xây dựng lại đền thánh khi người Do Thái quay về từ Ba-by-lôn. Trong khi đó, người Sa-ma-ri đã xây dựng đền thờ của riêng họ trên núi Ga-ri-xim. Nhưng ngôi đền này đã bị phá hủy vào năm 128 TCN bởi nhà cai trị người Do Thái là John Hyrcanus.
Vào thời của Đấng Cơ-đốc, sự thù địch này vẫn tiếp tục tồn tại. Người Do Thái tránh mặt người Sa-ma-ri càng nhiều càng tốt. Mặc dù hoạt động thương mại có thể vẫn tiếp tục, nhưng mọi tương tác khác đều là điều cấm kỵ. Người Do Thái không bao giờ vay mượn bất cứ thứ gì từ người Sa-ma-ri hay thậm chí không nhận bất cứ sự giúp đỡ nào từ họ. Trong bối cảnh này, Giăng tường thuật lại cuộc gặp gỡ giữa Đức Chúa Giê-su, người đàn bà bên giếng Gia-cốp và người dân trong thành Si-kha của xứ Sa-ma-ri.
* Nghiên cứu bài học tuần này để chuẩn bị cho Sa-bát ngày 2 tháng 11.
Thứ Nhất Bối Cảnh Của Cuộc Gặp Gỡ
Đọc Giăng 4:1-4. Bối cảnh chính nào đã đưa Đức Chúa Giê-su đi ngang qua xứ Sa-ma-ri?
Người Pha-ri-si đã khám phá ra rằng các môn đồ của Đức Chúa Giê-su làm phép báp-têm cho nhiều người hơn Giăng Báp-tít. Tình trạng này có thể tạo ra sự căng thẳng không đáng có giữa những người theo Giăng Báp-tít và các môn đồ của Đức Chúa Giê-su. Các môn đồ của Giăng Báp-tít ganh tỵ khi danh tiếng và vị thế của thầy họ bị ảnh hưởng trầm trọng là điều tự nhiên (xem thêm Giăng 3:26-30). Câu trả lời đầy ấn tượng của Giăng Báp-tít là ông phải hạ xuống, nhưng Đức Chúa Giê-su sẽ phải được dấy lên (Giăng 3:30). Có lẽ để tránh sự đối đầu vô ích, Đức Chúa Giê-su rời khỏi xứ Giu-đê để về xứ Ga-li-lê. Sa-ma-ri nằm trên tuyến đường ngắn nhất giữa hai địa điểm đó. Nhưng đó không phải là tuyến đường khả thi dành cho người Do Thái. Những người Do Thái sùng đạo sẵn sàng đi một chặng đường xa hơn, vòng về phía đông, đi qua xứ Pê-rê-a. Nhưng Đức Chúa Giê-su có một sứ mạng đặc biệt tại xứ Sa-ma-ri.
Đọc Giăng 4:5-9. Đức Chúa Giê-su đã tận dụng cơ hội này như thế nào để mở ra cuộc đối thoại với người đàn bà Sa-ma-ri bên giếng nước?
Giếng Gia-cốp nằm ngay bên cạnh Si-chem, trong khi Si-kha, nơi người đàn bà trú ngụ, cách xa khoảng một dặm (1,5 ki-lô-mét). Đức Chúa Giê-su ngồi bên giếng chờ đợi các môn đồ vào trong thành để mua thức ăn. Ngài không có bất cứ vật gì để múc nước. Khi người đàn bà đến để xách nước, Ngài xin bà để uống.
Trong Giăng 3, thật đáng ngạc nhiên khi Ni-cô-đem, một người cai trị của dân Do Thái, một giáo sư danh giá, lại hạ mình tìm đến cùng Đức Chúa Giê-su. Ông ta đến vào ban đêm để tránh bị phát hiện. Nhưng trong Giăng 4, người đàn bà Sa-ma-ri lại lén lút giữa ban ngày, đi xách nước vào giữa trưa, có lẽ để tránh phải tiếp xúc với những người khác, thường đi lấy nước khi trời mát vào lúc sáng sớm hoặc xế chiều. Rốt cuộc, tại sao bà ta lại đi một quãng đường xa như vậy để lấy nước, và lại đi giữa trưa, trời đang nắng nóng? Dù lý do là gì đi nữa, việc gặp được Đức Chúa Giê-su bên giếng nước đã hoàn toàn thay đổi cuộc đời của bà ta.
Những gì đã diễn ra tiếp theo? Hình ảnh một vị giáo sư Do Thái đầy danh giá tương phản hoàn toàn với một người đàn bà Sa-ma-ri nghèo khó đầy tai tiếng. Thật là một sự đối nghịch không thể tả! Và rồi, trong bối cảnh không ngờ đó, một cuộc hội thoại đáng chú ý đã diễn ra.
Trong nền văn hóa của đất nước bạn, một số điều cấm kỵ có thể cản trở việc làm chứng của bạn cho người khác là gì? Làm thế nào để chúng ta học được cách vượt qua những rào cản đó? Mang câu trả lời của bạn đến thảo luận tại lớp học Trường Sa-bát.
Thứ Hai Người Đàn Bà Bên Giếng Nước
Đọc Giăng 4:7-15. Đức Chúa Giê-su tận dụng cơ hội của cuộc gặp gỡ này như thế nào để bắt đầu làm chứng cho người đàn bà Sa-ma-ri?
“Mối hận thù giữa người Do Thái và người Sa-ma-ri đã ngăn cản người đàn bà thể hiện lòng tốt đối với Đức Chúa Giê-su; nhưng Đấng Cứu Thế tìm cách mở cửa tâm hồn đang e ngại này, và với sự tế nhị xuất phát từ tình yêu thương thiêng liêng, Ngài đã yêu cầu sự giúp đỡ từ người đàn bà, chứ không phải ban cho bà ta một ân huệ. Lòng tốt có thể bị từ chối, nhưng niềm tin đánh thức niềm tin” – Ellen G. White, Nguyện Ước Thời Đại, trang 184.
Tương tự như trường hợp gặp gỡ Ni-cô-đem, Đức Chúa Giê-su biết rõ những gì ẩn chứa trong lòng người đối diện. Để đáp lại sự ngạc nhiên của bà ta về việc một người Do Thái lại yêu cầu sự giúp đỡ như vậy đối với một người Sa-ma-ri, Đức Chúa Giê-su đi thẳng vào vấn đề: “Ví bằng ngươi biết sự ban cho của Đức Chúa Trời, và biết người nói: ‘Hãy cho ta uống’ là ai, thì chắc ngươi sẽ xin người cho uống, và người sẽ cho ngươi nước sống” (Giăng 4:10).
Sự phản hồi của người đàn bà Sa-ma-ri cũng giống như của Ni-cô-đem, với câu hỏi: “Điều đó làm thế nào được?” (Giăng 3:9), trong bối cảnh Đức Chúa Giê-su nói với Ni-cô-đem về sự tái sanh. Bà hỏi Ngài: “Hỡi Chúa, Chúa không có gì mà múc, và giếng thì sâu, vậy bởi đâu có nước sống ấy?” (Giăng 4:11). Trong cả hai trường hợp, Đức Chúa Giê-su đều chỉ cho họ (một người là giáo sư Do Thái đầy quyền thế, và người còn lại là một người đàn bà Sa-ma-ri có phẩm cách thấp hèn) về lẽ thật thiêng liêng siêu việt mà mỗi người cần được nghe và hiểu rõ. Trong mỗi trường hợp, về cơ bản, Đức Chúa Giê-su đều nói với họ một điều giống nhau: Họ cần một trải nghiệm về sự biến cải.
Bối cảnh nào của thời Cựu Ước trong lời tuyên bố của Đức Chúa Giê-su về nước hằng sống? (Giê-rê-mi 2:13; Xa-cha-ri 14:8).
Nước hết sức cần thiết cho sự sống; loài người không thể tồn tại nếu thiếu nước, và do đó, nước cũng có thể là một hình ảnh mạnh mẽ và phù hợp để tượng trưng cho sự sống đời đời. Vì thế, Đức Chúa Giê-su phán rằng: “Nhưng uống nước ta sẽ cho, thì chẳng hề khát nữa. Nước ta cho sẽ thành một mạch nước trong người đó, văng ra cho đến sự sống đời đời” (Giăng 4:14).
Đọc Giăng 7:37,38. Đức Chúa Giê-su nhắn nhủ gì với chúng ta qua những câu Kinh Thánh này và chúng ta trải nghiệm điều Ngài đang hứa ở đây như thế nào?
Thứ Ba “Lạy Chúa, Xin Cho Tôi Nước Ấy”
“Ta sẽ rưới nước trong trên các ngươi, và các ngươi sẽ trở nên sạch; ta sẽ làm sạch hết mọi sự ô uế và mọi thần tượng của các ngươi. Ta sẽ ban lòng mới cho các ngươi, và đặt thần mới trong các ngươi. Ta sẽ cất lòng bằng đá khỏi thịt các ngươi, và ban cho các ngươi lòng bằng thịt. Ta sẽ đặt Thần ta trong các ngươi, và khiến các ngươi noi theo luật lệ ta, thì các ngươi sẽ giữ mạng lịnh ta và làm theo” (Ê-xê-chi-ên 36:25-27).
Ê-xê-chi-ên 36:25-27 phản ảnh những lẽ thật mà Đức Chúa Giê-su đang tìm cách truyền đạt cho Ni-cô-đem và người đàn bà Sa-ma-ri bên giếng nước như thế nào?
Trong cả hai trường hợp, Đức Chúa Giê-su đang tìm cách tiếp cận hai người này với những lẽ thật về tâm linh, dù rằng Ngài đã sử dụng những hình ảnh minh họa từ thế giới tự nhiên để thực hiện điều đó.
Chắc chắn rằng lúc đầu không ai trong số họ hiểu được ý Đức Chúa Giê-su muốn nói gì. Ni-cô-đem thì hỏi rằng làm thế nào để một người có thể được sanh lại? Tức là làm sao ông có thể quay trở vào trong bụng mẹ được? Rõ ràng là Ni-cô-đem đang mang một tư duy nằm trong cấp độ trần tục của thế gian này, mặc dù Đức Chúa Giê-su đang có ý hướng ông ta đến với lẽ thật về tâm linh. Người đàn bà bên giếng cũng vậy, bà hiểu những lời Đức Chúa Giê-su đang nói về nước theo nghĩa đen trong khi Đức Chúa Giê-su rõ ràng đang muốn đề cập đến vấn đề tâm linh.
Câu trả lời của người đàn bà Sa-ma-ri khi nghe lời đề nghị của Đức Chúa Giê-su về nước hằng sống là: “Lạy Chúa, xin cho tôi nước ấy, để cho tôi không khát và không đến đây múc nước nữa” (Giăng 4:15). Bà lập luận rằng nước mà Đức Chúa Giê-su ban cho sẽ giúp bà không khát nữa, không cần phải đến giếng lấy nước nữa, và tránh được nguy cơ gặp gỡ những người ngoài ý muốn. Điều đáng chú ý là cuộc trò chuyện đã xoay chuyển tình thế quá nhanh, từ việc Đức Chúa Giê-su là người xin nước đã chuyển sang việc bà xin Ngài nước uống.
Đọc Giăng 4:16. Đức Chúa Giê-su đã đáp lại lời yêu cầu của người đàn bà Sa-ma-ri như thế nào?
Đột nhiên, Đức Chúa Giê-su thay đổi chủ đề của cuộc thảo luận, Ngài bảo người đàn bà đi gọi chồng mình rồi quay lại đây. Tại sao Chúa lại chuyển chủ đề một cách đột ngột như thế? Hành động của người đàn bà thể hiện sự ngại ngùng né tránh. Đức Chúa Giê-su có thể đọc được những rối rắm trong lòng bà ta. Bà phải đối diện với thực trạng của mình để tìm được sự chữa lành. “Trước khi linh hồn thấp hèn này có thể nhận được ơn phước mà Ngài mong muốn ban cho, bà phải được dẫn dắt để nhận thức được tội lỗi của mình và tin nhận Đấng Cứu Thế” – Ellen G. White, Nguyện Ước Thời Đại, trang 187.
Thứ Tư Sự Khải Thị Của Đức Chúa Giê-su
Đọc Giăng 4:16-24. Đức Chúa Giê-su đã làm gì để bày tỏ cho người đàn bà biết rằng Ngài đã biết hết mọi bí mật sâu kín nhất của bà và bà đã đáp lại như thế nào?
Sự sáng quá chói lóa để có thể nhìn trực tiếp vào đó. Khi nhận biết Đức Chúa Giê-su là một vị tiên tri, người đàn bà lại thực hiện hành động né tránh. Bà hướng Đức Chúa Giê-su vào cuộc tranh luận về vấn đề tôn giáo giữa người Sa-ma-ri và người Do Thái: Nơi thờ phượng thích hợp nhất.
Để đáp lại, Đức Chúa Giê-su chỉ ra rằng người Sa-ma-ri không biết họ thờ phượng điều gì. Sự thờ phượng của họ là sự pha trộn giữa Do Thái giáo và ngoại giáo. Người Do Thái thờ phượng Đức Chúa Trời là Đấng bày tỏ chính Ngài – một sự thừa nhận hết sức quan trọng đối với một người Sa-ma-ri.
Sự thờ phượng Đức Chúa Trời một cách thật tâm, không nhất thiết phải ràng buộc vào một nơi chốn nhất định nào đó. Vì vậy, cuộc thảo luận về địa điểm thờ phượng không liên quan đến cuộc trò chuyện đang diễn ra. Vì Đức Chúa Trời là Thần, nên bất cứ ai thờ phượng Ngài phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ phượng. Người đàn bà Sa-ma-ri đã chấp nhận lẽ thật hết sức rõ ràng mà Đức Chúa Giê-su đã truyền đạt và sẵn sàng nghe nhiều hơn nữa.
Đọc Giăng 4:25,26. Đức Chúa Giê-su đã tiết lộ danh tính của Ngài cho bà thế nào?
Trong cả bốn sách tin lành, đây là đoạn duy nhất trước khi phiên tòa xét xử Ngài diễn ra, Đức Chúa Giê-su tuyên bố rõ ràng với người nào đó rằng Ngài là Đấng Mê-si. Và Ngài đã thực hiện điều đó không phải trước một đám đông hay với nhân vật quan trọng nào đó, mà với một người đàn bà Sa-ma-ri không tên tuổi, đơn độc bên giếng Gia-cốp. Ngài luôn quan tâm đến bất kỳ linh hồn cô đơn nào đang cảm thấy bị phân rẽ và lẻ loi.
Và đối với người đàn bà này, một người không chỉ đến từ nền văn hóa khác lạ, mà còn không có phẩm cách đạo đức nổi trội nhất, Đức Chúa Giê-su đã công khai tiết lộ với bà Ngài là ai. Và, sau khi tiết lộ cho bà biết những bí mật đen tối nhất trong cuộc đời của bà, Ngài cũng cho người đàn bà này một lý do tuyệt vời để tin vào Ngài.
Câu chuyện này cho chúng ta nhận biết gì về lý do tại sao tin lành cần phải phá bỏ những rào cản do chính con người tạo ra với nhau?
Thứ Năm Lời Chứng Của Người Sa-ma-ri
Đọc Giăng 4:27-29. Người đàn bà Sa-ma-ri đã thực hiện hành động đáng ngạc nhiên nào?
Cuộc trò chuyện của Đức Chúa Giê-su với người đàn bà Sa-ma-ri bị gián đoạn khi các môn đồ về đến. Dù rất ngạc nhiên vì Ngài đang nói chuyện với một người đàn bà, nhưng họ không hỏi han gì. Thay vào đó, họ thúc giục Ngài ăn.
Trong khi đó, người đàn bà bỏ bình nước lại, vội vàng chạy vào thành để chia sẻ với những người khác về những gì bà vừa trải qua cùng Đức Chúa Giê-su.
Đọc Giăng 4:30-42. Điều gì đã xảy ra sau cuộc chuyện trò này, và điều đó dạy cho chúng ta bài học gì để tin lành có thể được truyền bá rộng rãi?
Có vẻ kỳ lạ là câu chuyện của Đức Chúa Giê-su về mùa gặt đã làm gián đoạn tình tiết về sự biến cải của nhiều người dân trong thành. Nhưng Giăng muốn chúng ta nhận biết được rằng Đức Chúa Giê-su hiểu được điều gì đang xảy ra lúc ấy. Đối với Ngài, việc chia sẻ kế hoạch cứu rỗi với một người đàn bà Sa-ma-ri quan trọng hơn việc ăn uống rất nhiều. Dẫn dắt nhiều linh hồn đến với sự cứu rỗi là mục đích của Ngài, và Ngài đã dùng cơ hội này để dạy dỗ các môn đồ về sự cấp thiết của việc chia sẻ tin lành với tất cả mọi người, ngay cả với những người không giống như họ.
Có nhiều điểm sáng trong Tin lành Giăng. Chắc chắn là Giăng 4:39-42 là một trong số đó. Nhiều cư dân Sa-ma-ri trong thành đã tin nhận Đức Chúa Giê-su vì lời chứng mộc mạc của người đàn bà: “Ngài đã bảo tôi mọi điều tôi đã làm” (Giăng 4:39).
Nhiều người Sa-ma-ri mời Đức Chúa Giê-su vào thành và cầu xin Ngài ở lại cùng họ. Kết quả thật mỹ mãn khi có rất nhiều người tin nhận Đức Chúa Giê-su sau khi được nghe về Lời của Ngài. “Họ nói với người đàn bà rằng: Ấy không còn phải vì điều ngươi đã nói với chúng ta mà chúng ta tin đâu; vì chính chúng ta đã nghe Ngài, và biết rằng chính Ngài thật là Cứu Chúa của thế gian” (Giăng 4:42).
Câu chuyện này cho chúng ta biết điều gì về việc dù chỉ làm chứng cho một người, nhưng lại có thể tạo nên một sức mạnh to lớn như thế nào? Lời chứng mạnh mẽ của bạn như thế nào với điều mà Đức Chúa Giê-su thực hiện trong đời sống bạn?
Thứ Sáu Nghiên Cứu Bổ Túc
NGHIÊN CỨU BỔ TÚC
Đọc Ellen G. White, “Tại giếng Gia-cốp (At Jacob’s Well)”, trang 183-195, trong quyển Nguyện Ước Thời Đại.
Ngay khi vừa nhận biết Đấng Cứu Thế, người đàn bà Sa-ma-ri đã đưa nhiều người khác đến với Ngài. Bà đã chứng tỏ mình là một người truyền giáo hiệu quả hơn hẳn các môn đồ của Ngài. Các môn đồ không thấy bất cứ điều gì ở Sa-ma-ri có thể chứng tỏ đây là một cánh đồng phì nhiêu rất đáng khích lệ. Suy nghĩ của họ tập trung vào một công việc vĩ đại sẽ được thực hiện trong tương lai. Họ không hề nhận biết rằng ngay chung quanh họ là một vụ mùa bội thu cần phải thu hoạch. Nhưng qua một người đàn bà mà họ khinh rẻ, lánh xa, dân cư của cả một thành được mang đến bên Đấng Cứu Thế để nghe Lời Ngài. Chỉ với một lần gặp được Chúa, bà ta đã lập tức đem ánh sáng đến cho những người đồng hương của mình.
Người đàn bà này tượng trưng cho hoạt động của một người có đức tin thiết thực và năng động trong Đấng Cơ-đốc. Mỗi môn đồ chân chính đều bước chân vào vương quốc của Đức Chúa Trời với tư cách là một nhà truyền giáo. Những ai uống nước hằng sống đều trở thành suối nguồn của sự sống. Người nhận lãnh trở thành người cho đi. Ân điển của Đấng Cơ-đốc trong mỗi linh hồn tựa như dòng suối mát, trong lành giữa sa mạc, tuôn tràn làm tươi mới tất cả, khiến những ai sắp lụi tàn, hân hoan uống nước của sự sống.” – Ellen G. White, Nguyện Ước Thời Đại, trang 195.
Câu hỏi thảo luận:
Trong lớp học, hãy thảo luận câu trả lời của bạn cho câu hỏi cuối của ngày thứ nhất. Hãy mạnh dạn bày tỏ ý kiến một cách thẳng thắn về nó. Trong nền văn hóa của đất nước bạn, những điều cấm kỵ và những định kiến nào thực sự có thể cản trở việc làm chứng đạo của bạn cho người khác
Theo bạn nghĩ, tại sao Đức Chúa Giê-su được người Sa-ma-ri đón tiếp nồng nhiệt như vậy, trái ngược với sự đối xử dành cho một số đồng hương của Ngài
Hãy đặt chính mình vào vị trí của người đàn bà Sa-ma-ri. Một người hoàn toàn xa lạ đến từ phương xa và cho biết Ngài thấu rõ những bí ẩn sâu kín nhất trong cuộc đời bà ta. Làm thế nào để một người nào đó, nhất là một người xa lạ, có thể biết được những điều sâu kín nhất của bà ta? Cho nên không có gì đáng ngạc nhiên khi bà ta có ấn tượng đặc biệt với Đức Chúa Giê-su. Qua câu chuyện này, chúng ta nghĩ gì về việc Chúa biết mọi sự trong chúng ta, ngay cả những bí mật sâu kín nhất, đen tối nhất mà chúng ta không muốn ai biết được? Và rồi, cách Ngài ứng xử với người đàn bà ấy bày tỏ cho chúng ta điều gì về cách Ngài muốn đối xử với chúng ta ngày nay, ngay cả khi Ngài biết rõ những bí mật của chúng ta? Bạn có thể nhận được sự an ủi nào từ lẽ thật này
Cho đến nay, những chủ đề nào trong Tin lành Giăng mà chúng ta đã nghiên cứu, được tìm thấy trong sứ mạng của Đức Chúa Giê-su đối với người đàn bà Sa-ma-ri bên giếng nước?