Bài Học 2 · 5 – 11 Tháng 10

Dấu hiệu của thần tánh

Kinh Thánh Nghiên Cứu: Giăng 6:1–15, Ê-sai 53:4–6, 1 Cô-rinh-tô 5:7, Giăng 6:26–36, Giăng 9:1–41, 1 Cô-rinh-tô 1:26–29, Giăng 11

"Đức Chúa Giê-su phán rằng: Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi. Còn ai sống và tin ta thì không hề chết. Ngươi tin điều đó chăng?" — Giăng 11:25,26
Sa-bát Dấu Hiệu Của Thần Tánh

Câu gốc

“Đức Chúa Giê-su phán rằng: Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi. Còn ai sống và tin ta thì không hề chết. Ngươi tin điều đó chăng?” (Giăng 11:25,26).

Kinh Thánh nghiên cứu

Giăng 6:1–15, Ê-sai 53:4–6, 1 Cô-rinh-tô 5:7, Giăng 6:26–36, Giăng 9:1–41, 1 Cô-rinh-tô 1:26–29, Giăng 11.

Kinh Thánh nói rõ ràng rằng Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc là Con vĩnh hằng, hiệp một với Chúa Cha, Đấng Tự hữu và Hằng hữu. Đức Chúa Giê-su là Đấng tạo ra muôn loài vạn vật (Giăng 1:1-3). Vì vậy, Đức Chúa Giê-su luôn luôn hiện hữu; không có lúc nào là Ngài không hiện hữu. Mặc dầu Đức Chúa Giê-su đến thế gian này và mặc lấy nhân tính của chúng ta, nhưng trong Ngài vẫn có thần tính, và vào những thời điểm cụ thể, Đức Chúa Giê-su phán và làm những điều thể hiện thần tánh của Ngài.

Đây là lẽ thật rất quan trọng đối với Giăng, đó là lý do tại sao khi kể về một số phép lạ của Đức Chúa Giê-su, Giăng dùng những điều này, để chỉ về thần tánh của Đấng Cơ-đốc. Đức Chúa Giê-su không những nói những điều thể hiện thần tánh của mình, mà còn hỗ trợ lời nói bằng những việc làm bày tỏ thần tánh của Ngài.

Bài học tuần này nghiên cứu về ba dấu hiệu lớn nhất của Đức Chúa Giê-su, thể hiện thần tánh của Ngài. Điều đáng chú ý là, trong mọi trường hợp đều có một số người không tin phép lạ, hoặc không nhận ra tầm quan trọng của nó. Đối với một số người, đó là thời điểm để quay lưng lại với Đức Chúa Giê-su; những người khác thì, đó là lúc để chìm sâu vào sự mù quáng, và đối với những người khác nữa, thì đó là thời điểm để âm mưu giết Đức Chúa Giê-su. Và, với một số người, đó là thời điểm để tin rằng Đức Chúa Giê-su là Đấng Mê-si.

*Nghiên cứu bài học tuần này để chuẩn bị cho Sa-bát ngày 12 tháng 10.

Thứ Nhất Cho Năm Ngàn Người Ăn

Trong Giăng 6:4,5, vị sứ đồ cho biết rằng thời điểm Chúa hóa bánh cho năm ngàn người ăn là gần ngày lễ Vượt qua. Lễ Vượt qua là kỷ niệm về sự giải cứu dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập. Chiên con của lễ Vượt Qua chết thay cho con đầu lòng. Sự hy sinh này là biểu tượng về sự chết thay của Đức Chúa Giê-su cho chúng ta. Trên thập giá, là hình phạt mà chúng ta phải chịu vì tội lỗi của mình, thì thay vào đó, lại đổ lên Đức Chúa Giê-su. Đấng Cơ-đốc, Lễ Vượt qua của chúng ta, thật sự đã bị giết vì chúng ta (1 Cô-rinh-tô 5:7).

“Ngài mang lấy hình phạt của tội lỗi và không thấy sự hiện diện của Cha Ngài cho đến khi lòng Ngài tan vỡ và lìa trần. Tất cả những sự hy sinh này chỉ để cứu chuộc tội nhân.” - Ellen G. White, Thiện Ác Đấu Tranh, trang 476.

Đọc Giăng 6:1-14. Giữa Đức Chúa Giê-su và Môi-se có điểm tương đồng nào mà chúng ta có thể thấy được ở đây? Nghĩa là, Đức Chúa Giê-su đã làm gì để nhắc dân chúng nhớ đến sự giải cứu mà tổ phụ của họ đã nhận qua chức vụ của Môi-se?

Rất nhiều chi tiết trong câu chuyện này cho thấy Đức Chúa Giê-su có những điểm tương đồng với Môi-se trong cuộc hành trình ra khỏi Ai Cập. Thời điểm lễ Vượt qua (Giăng 6:4) cho thấy sự giải cứu ra khỏi Ai Cập cách tuyệt vời. Đức Chúa Giê-su lên núi (Giăng 6:3) cũng giống như Môi-se lên núi Si-nai. Đức Chúa Giê-su thử Phi-líp (Giăng 6:5,6) giống như dân Y-sơ-ra-ên bị thử thách trong đồng vắng. Việc hóa bánh ra nhiều (Giăng 6:11) gợi nhớ đến ma-na. Việc thu gom những bánh thừa (Giăng 6:12) gợi nhớ hình ảnh dân Y-sơ-ra-ên đi lượm bánh ma-na. Mười hai giỏ bánh còn thừa được thu nhặt (Giăng 6:13), con số trùng với mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên. Và người ta cho rằng Đức Chúa Giê-su là Đấng tiên tri phải đến thế gian (Giăng 6:14), giống với “tiên tri như Môi-se” được báo trước trong Phục truyền Luật lệ Ký 18:15. Tất cả những điều này cho thấy Đức Chúa Giê-su là một Môi-se mới - phải đến để giải cứu dân sự Ngài.

Do đó, Giăng cho thấy Đức Chúa Giê-su không những chỉ làm các dấu kỳ và phép lạ, mà những dấu kỳ và phép lạ này, trong bối cảnh của chúng, phải có ý nghĩa đặc biệt đối với dân Giu-đa. Điều cốt yếu là, Ngài đang chỉ cho họ thấy thần tính của Ngài.

Đọc Ê-sai 53:4-7 và 1 Phi-e-rơ 2:24. Những câu Kinh Thánh này dạy lẽ thật vĩ đại nào về Đức Chúa Giê-su, là Chiên Con của Đức Chúa Trời? Thần tính của Ngài gắn liền với lẽ thật này như thế nào, và tại sao lẽ thật này là lẽ thật quan trọng nhất mà chúng ta có thể biết đến?

Thứ Hai “Người Này Thật Là Đấng Tiên Tri”

Đọc Giăng 6:14,15,26-36. Dân chúng phản ứng như thế nào trước phép lạ của Ngài, và Đức Chúa Giê-su dùng điều này như thế nào để dạy họ biết Ngài là ai?

Dân Giu-đa mong đợi một Đấng Mê-si của trần thế, là người sẽ giải cứu họ khỏi sự áp bức của Đế quốc La Mã. Hai trong những điều khó khăn nhất trong chiến tranh là cung cấp lương thực cho quân đội và chăm sóc những người bị thương và tử trận. Bởi các phép lạ của Ngài, Đức Chúa Giê-su cho thấy rằng Ngài có thể làm được cả hai điều đó.

Nhưng đó không phải là lý do Đức Chúa Giê-su đến thế gian, và đó cũng không phải là mục đích để Ngài làm phép lạ. Thay vào đó, câu chuyện Chúa hóa bánh cho năm ngàn người ăn là cơ hội để chứng minh rằng Đức Chúa Giê-su là Bánh Sự Sống, rằng Ngài chính là Đức Chúa Trời đã từ trời xuống. “Đức Chúa Giê-su phán rằng: Ta là bánh của sự sống, ai đến cùng ta chẳng hề đói” (Giăng 6:35).

Đây là câu đầu tiên trong bảy câu nói “Ta là” trong Phúc Âm của Giăng, trong câu “Ta là” được kết nối với một số vị ngữ (“bánh sự sống” (Giăng 6:35); “sự sáng của thế gian” (Giăng 8:12); “cái cửa” (Giăng 10:7,9); “người chăn hiền lành” (Giăng 10:11,14); “sự sống lại và sự sống” (Giăng 11:25); “đường đi, lẽ thật, và sự sống” (Giăng 14:6); “gốc nho thật” (Giăng 15:1,5). Mỗi một trường hợp đều chỉ ra một lẽ thật quan trọng về Đức Chúa Giê-su. Những câu nói “Ta là” hướng chúng ta quay về Xuất Ê-díp-tô Ký 3, là nơi Đức Chúa Trời giới thiệu với Môi-se, Ngài chính là Đấng TA Là vĩ đại (so sánh với Giăng 8:58). Đức Chúa Giê-su chính là Đấng TA Là vĩ đại.

Nhưng dân chúng đã bỏ lỡ tất cả những điều này.

“Tấm lòng bất mãn của họ đã thắc mắc, nếu Đức Chúa Giê-su có thể thực hiện nhiều việc kỳ diệu như họ đã chứng kiến, thì tại sao Ngài không thể ban sức khỏe, sức mạnh, và sự giàu có cho dân sự của Ngài, giải cứu họ khỏi những kẻ áp bức, và ban cho họ quyền lực và sự tôn trọng? Việc Ngài tuyên bố mình là Đấng được Đức Chúa Trời sai đến, nhưng lại từ chối làm vua Y-sơ-ra-ên, là một điều mầu nhiệm mà họ không thể nào thấu hiểu. Sự từ chối của Ngài đã bị hiểu sai. Nhiều người kết luận rằng Ngài không dám khẳng định lời tuyên bố của mình, họ cho rằng chính Ngài cũng hoài nghi về tính chất thiêng liêng của sứ mạng của Ngài. Vì vậy, họ đã mở lòng mình cho sự vô tín, và hạt giống mà Sa-tan đã gieo đã đơm bông kết trái, trong sự hiểu sai và chối bỏ.” - Ellen G. White, Nguyện Ước Thời Đại, trang 385.

Họ đang tìm kiếm lợi ích vật chất thay vì chân lý tồn tại đến đời đời. Đây là cái bẫy mà tất cả chúng ta đều có thể gặp phải nếu không cẩn thận.

Làm thế nào để chúng ta đừng đánh mất đời sống tâm linh bằng những lôi cuốn từ của cải vật chất?

Thứ Ba Chữa Lành Người Mù - Phần 1

Đọc Giăng 9:1-16. Các môn đồ nghĩ nguyên nhân khiến người đàn ông này bị mù là gì, và Đức Chúa Giê-su đã chỉnh sửa niềm tin sai lầm của họ như thế nào?

Các môn đồ đã đưa ra mối liên hệ giữa bệnh tật và tội lỗi. Một số đoạn Kinh Thánh trong Cựu Ước đã nói về vấn đề này (so sánh với Xuất Ê-díp-tô Ký 20:5; 2 Các vua 5:15-27; 2 Các vua 15:5; 2 Sử ký 26:16-21), nhưng câu chuyện của Gióp cho chúng ta sự thận trọng, liệu một kết nối như vậy có luôn luôn xảy ra không.

Đức Chúa Giê-su đi thẳng vào vấn đề, không phủ nhận bất cứ sự nối kết nào giữa tội lỗi và đau khổ, nhưng trong trường hợp này, Ngài chỉ ra một mục đích cao cả hơn, đó là Đức Chúa Trời được vinh hiển qua việc chữa lành. Câu chuyện chứa đựng các mối liên hệ nhất định với câu chuyện Sáng tạo, đó là Đức Chúa Trời đã tạo nên con người đàn ông đầu tiên từ bụi đất (Sáng 2:7), giống như Đức Chúa Giê-su dùng đất sét để chữa bệnh cho người mù, như là bù đắp phần còn thiếu từ trong lòng mẹ của người ấy.

Trong Ma-thi-ơ, Mác và Lu-ca, những câu chuyện về phép lạ thường tuân theo một khuôn mẫu chung: diễn đạt vấn đề, đưa người bệnh đến với Đức Chúa Giê-su, được chữa lành, và ngợi khen Đức Chúa Trời khi nhận ra mình được chữa lành.

Câu chuyện trong Giăng 9, diễn tiến câu chuyện chấm dứt trong câu 7. Nhưng đặc thù của Giăng là, tầm quan trọng của phép lạ trở thành chủ đề tranh luận rộng rãi hơn nhiều, dẫn đến sự tương tác lâu dài giữa người đàn ông được chữa lành và các nhà lãnh đạo tôn giáo. Cuộc tranh luận nổi bật này xoay quanh hai cặp khái niệm tương phản đan xen nhau - tội lỗi/công việc của Đức Chúa Trời và sự đui mù/thị lực.

Mãi đến Giăng 9:14 người kể chuyện mới nói cho độc giả biết rằng Đức Chúa Giê-su đã chữa bệnh trong ngày Sa-bát, là điều mà theo truyền thống chứ không phải theo Kinh Thánh, đã vi phạm ngày Sa-bát. Do đó, Ngài bị người Pha-ri-si cho là kẻ vi phạm ngày Sa-bát. Họ kết luận rằng Ngài không phải đến từ Đức Chúa Trời vì họ khẳng định “Ngài không giữ ngày Sa-bát”. Nhưng những người khác thấy bất bình, vì một tội nhân làm sao có thể làm được những phép lạ như vậy (Giăng 9:16).

Cuộc tranh cãi sẽ còn kéo dài nữa, nhưng nó đã gây ra sự chia rẽ. Người mù càng lúc càng biết rõ hơn về Đức Chúa Giê-su là ai, nhưng những nhà lãnh đạo tôn giáo càng lúc càng trở nên bối rối hoặc mù mờ về danh tính thật sự của Ngài.

Câu chuyện này cho chúng ta biết gì về những nguy hiểm của việc quá mù quáng bởi niềm tin và truyền thống của chính mình, đến nỗi bỏ lỡ các lẽ thật quan trọng ngay trước mắt chúng ta?

Thứ Tư Chữa Lành Người Mù - Phần 2

Đọc Giăng 9:17-34. Các nhà lãnh đạo đã hỏi những câu hỏi gì, và người mù trả lời như thế nào?

Phần này trong Giăng 9 là phần duy nhất trong sách Giăng, mà Đức Chúa Giê-su không phải là diễn viên chính trên sân khấu, mặc dầu, chắc chắn Ngài là chủ đề của sự tranh luận. Ngay khi câu hỏi về tội lỗi bắt đầu trong câu chuyện (Giăng 9:2), thì những người Pha-ri-si nghĩ Đức Chúa Giê-su là một tội nhân, vì Ngài đã chữa bệnh trong ngày Sa-bát (Giăng 9:16,24), và họ vu khống người được chữa lành là “sanh ra trong tội lỗi” (Giăng 9:34).

Một sự đảo ngược kỳ lạ xảy ra. Khi người mù càng biết ơn Chúa và tin tưởng vào Ngài, thì ông càng ngày càng thấy rõ hơn về Ngài, không những về thể chất mà cả về tâm linh. Ngược lại, những người Pha-ri-si càng ngày càng trở nên mù quáng về sự hiểu biết của họ, trước tiên trong họ có sự chia rẽ vì Đức Chúa Giê-su (Giăng 9:16), và sau đó họ không biết Ngài từ đâu đến (Giăng 9:29).

Trong khi đó, việc tường trình của ông về phép lạ này đã cho Giăng cơ hội nói cho chúng ta biết Đức Chúa Giê-su là ai. Chủ đề về các phép lạ trong Giăng 9 giao thoa với nhiều chủ đề khác trong Phúc Âm. Giăng tái khẳng định rằng Đức Chúa Giê-su là Sự Sáng của thế gian (Giăng 9:5; so sánh với Giăng 8:12). Câu chuyện cũng đề cập đến nguồn gốc bí ẩn của Đức Chúa Giê-su. Ngài là ai, Ngài đến từ đâu, sứ mạng của Ngài là gì? (Giăng 9:12,29; so sánh với Giăng 1:14). Môi-se, người được nói đến trong những câu chuyện phép lạ trước đó, cũng xuất hiện trong đoạn này (Giăng 9:28,29; so sánh với Giăng 5:45,46 và Giăng 6:32). Cuối cùng là chủ đề về phản ứng của đám đông. Một số người thích bóng tối hơn ánh sáng, trong khi những người khác thì đáp lại bằng đức tin (Giăng 9:16-18, 35-41; so sánh với Giăng 1:1-16, Giăng 3:16-21, Giăng 6:60-71).

Điều đáng sợ ở đây là sự mù quáng về tâm linh của những nhà lãnh đạo tôn giáo. Một người ăn xin từng bị mù có thể tuyên bố, “Người ta chẳng bao giờ nghe nói có ai mở mắt kẻ mù từ thuở sanh ra. Nếu người này chẳng phải đến từ Đức Chúa Trời, thì không làm gì được hết” (Giăng 9:32,33). Thế nhưng các nhà lãnh đạo tôn giáo, những người dẫn dắt phần tâm linh của dân tộc, là những người đáng lẽ ra trước tiên phải nhận ra Đức Chúa Giê-su và tin nhận Ngài là Đấng Mê-si - họ lại không thể nhận ra điều đó, vì họ xem thường mọi bằng chứng đầy quyền năng. Hoặc thay vào đó, họ thật sự không muốn nhận ra điều này. Thật là một lời cảnh báo mạnh mẽ về sự cứng lòng của chúng ta có thể lừa dối chúng ta như thế nào!

Đọc 1 Cô-rinh-tô 1:26-29. Những gì Phao-lô đã viết trong đó phù hợp với những gì đã xảy ra trong bối cảnh này như thế nào, và nguyên tắc đó vẫn được áp dụng cho ngày nay như thế nào?

Thứ Năm Sự Phục Sinh Của La-xa-rơ

Đầy nỗi đau buồn trong Giăng 11 - tin buồn về bệnh tình của một người bạn thân (Giăng 11:1-3); sự than khóc trước cái chết của La-xa-rơ (Giăng 11:19,31,33); lời than khóc của hai em gái của La-xa-rơ: nếu có Đức Chúa Giê-su ở đó thì anh của họ đã không qua đời (Giăng 11:21,32); và những giọt nước mắt của chính Đức Chúa Giê-su (Giăng 11:35).

Nhưng Đức Chúa Giê-su đã ở lại hai ngày trước khi bắt đầu cuộc hành trình đến nhà La-xa-ra (Giăng 11:6), thậm chí điều này còn cho thấy rằng Ngài đã vui vì không đến đó sớm hơn (Giăng 11:14, 15). Hành động này không hề xuất phát từ tấm lòng lạnh lùng vô cảm. Đúng hơn, đó là điều bày tỏ sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.

Khi chúng ta đọc đến Giăng 11:17-27, La-xa-rơ đã chết được bốn ngày. Sau bốn ngày, xác của ông đã bị thối rữa, và khi Ma-thê nói, “Lạy Chúa, đã có mùi, vì người nằm đó bốn ngày rồi” (Giăng 11:39). Không có gì phải nghi ngờ, sự trì hoãn của Đức Chúa Giê-su chỉ góp phần làm cho phép lạ xảy ra sau đó càng đáng kinh ngạc hơn. Làm sống lại một xác chết đã thối rữa? Còn bằng chứng nào khác hơn phép lạ này, để Đức Chúa Giê-su có thể cho thấy Ngài thật sự là Đức Chúa Trời?

Là Đức Chúa Trời và là Đấng tạo nên sự sống ngay từ đầu: Đức Chúa Giê-su có quyền trên sự chết. Vì thế, Đức Chúa Giê-su sử dụng cơ hội này, sự chết của La-xa-rơ, để bày tỏ một lẽ thật quan trọng về chính Ngài. “Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi. Còn ai sống và tin ta thì không hề chết” (Giăng 11:25,26).

Đọc Giăng 11:38-44. Đức Chúa Giê-su đã làm gì để hỗ trợ cho lời tuyên bố của Ngài?

Đức Chúa Giê-su đã chứng tỏ Ngài là sự Sáng của thế gian (Giăng 8:12, Giăng 9:5) bằng cách cho người mù được sáng mắt (Giăng 9:7), thì cũng vậy, ở đây, Ngài đã khiến La-xa-rơ sống lại từ cõi chết (Giăng 11:43,44), điều này chứng minh rằng Ngài là Sự Sống Lại và là Sự Sống (Giăng 11:25).

Phép lạ này, hơn bất kỳ phép lạ nào khác, cho thấy Đức Chúa Giê-su là Đấng Ban Sự Sống, là Đức Chúa Trời. Phép lạ này hỗ trợ mạnh mẽ cho chủ đề của Giăng đó là Đức Chúa Giê-su chính là Con thiêng liêng của Đức Chúa Trời, nhờ Ngài và bởi đức tin, chúng ta có được sự sống (Giăng 20:30,31).

Tuy nhiên, khi chúng ta đọc đến cuối câu chuyện kỳ lạ này (Giăng 11:45-54), thấy trong đó nhiều người đã tin (Giăng 11:45), một sự trớ trêu đến lạ lùng đã xảy ra nhưng cũng đáng buồn. Đức Chúa Giê-su cho thấy Ngài có thể khiến cho kẻ chết sống lại, vậy mà, những con người này nghĩ rằng họ có thể chấm dứt cuộc sống Ngài bằng cách giết Ngài? Thật là một hình ảnh về những nhược điểm của con người, hoàn toàn tương phản với sự khôn ngoan và quyền năng của Đức Chúa Trời!

Thứ Sáu Nghiên Cứu Bổ Túc

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC

Đọc các chương viết của bà Ellen G. White, “Cuộc khủng hoảng ở Ga-li-lê (The Crisis in Galilee)” trang 383–394; “Hỡi La-xa-rơ, Hãy ra!” trang 524–536; và “Những âm mưu của các các thầy tế lễ” trang 537–542, trong quyển Nguyện Ước Thời Đại.

“Sự sống mà Đấng Cơ-đốc đã ban cho thế gian nằm trong Lời của Ngài. Bởi Lời của Ngài mà Đức Chúa Giê-su đã chữa lành bệnh tật và đuổi quỷ; bởi Lời của Ngài mà biển yên lặng, và cũng bởi Lời ấy, Ngài khiến kẻ chết sống lại; dân chúng đã làm chứng rằng Lời của Ngài có quyền năng. Ngài đã nói Lời của Đức Chúa Trời, Ngài đã phán qua các nhà tiên tri và các giáo sư trong thời Cựu Ước. Toàn bộ Kinh Thánh đã bày tỏ về Đấng Cơ-đốc, và Đấng Cứu Rỗi mong muốn đức tin của những người theo Ngài được vững chắc bởi Lời. Khi sự hiện diện hữu hình của Ngài không còn nữa, Lời phải là nguồn sức mạnh của họ. Giống như Thầy của họ, họ phải sống ‘nhờ mọi Lời nói ra từ miệng Đức Chúa Trời’ (Ma-thi-ơ 4:4).

“Đời sống thể chất của chúng ta được duy trì bởi thực phẩm, cũng vậy, đời sống tâm linh của chúng ta phải được duy trì bởi Lời của Đức Chúa Trời. Mỗi một linh hồn phải nhận sự sống từ Lời của Đức Chúa Trời cho chính mình. Chúng ta phải ăn để nhận được sự dinh dưỡng, vậy thì, chính bản thân chúng ta phải suy gẫm Lời. Chúng ta không thể đạt được Lời chỉ nhờ vào sự truyền đạt từ người khác. Chúng ta phải học Kinh Thánh cách cẩn thận, cầu xin sự trợ giúp từ Thánh Linh của Đức Chúa Trời, nhờ đó chúng ta mới hiểu được Lời của Ngài.” - Ellen G. White, Nguyện Ước Thời Đại, trang 390.

Câu hỏi thảo luận:

Tuần này chúng ta học về phép lạ Chúa cho năm ngàn người ăn, Chúa chữa cho người mù từ thuở mới sanh, và sau đó Ngài khiến cho La-xa-rơ sống lại từ cõi chết. Trong mỗi trường hợp Đức Chúa Giê-su đều đưa ra những bằng chứng đầy quyền năng về thần tính của Ngài. Tuy nhiên, những phép lạ này, dù đáng ngạc nhiên đến đâu, cũng đã tạo nên sự chia rẽ. Một số người đáp lại bằng đức tin, một số khác thì nghi ngờ. Điều này dạy chúng ta như thế nào gì về việc, người ta vẫn chọn sự chống đối Chúa, ngay cả khi chứng kiến những bằng chứng đầy quyền năng của Ngài?

Tất cả những câu chuyện này đều hướng tới Đấng Cơ-đốc là Đấng Thánh, là Con của Đức Chúa Trời. Tại sao thần tánh của Ngài, rất quan trọng đối với đức tin nơi Đức Chúa Giê-su, là Đấng Cứu Rỗi?

Xem lại 1 Cô-rinh-tô 1:26-29. Chúng ta thấy nguyên tắc này đang tác động trong thế kỷ 21 này theo những cách như thế nào? Những Cơ-đốc nhân tin vào một số “điều dại dột” nào, là những điều mà “người khôn ngoan theo xác thịt” chế nhạo và bác bỏ? Có những điều vĩ đại nào chúng ta đang tin mà bị xem là “làm hổ thẹn”?