Bài Học 9 · 24 – 30 Tháng 8

Sự tranh luận tại Giê-ru-sa-lem

Kinh Thánh Nghiên Cứu: Mác 11; I Các Vua 1:32-48; Xa-cha-ri 9:9, Ê-sai 56:7; Giê-rê-mi 7:11; Mác 12:1-34

"Khi các ngươi đứng cầu nguyện, nếu có sự gì bất bình cùng ai, thì hãy tha thứ, để Cha các ngươi ở trên trời cũng tha lỗi cho các ngươi" — Mác 11:25
Sa-bát Sự Tranh Luận Tại Giê-ru-sa-lem

Câu gốc

“ Khi các ngươi đứng cầu nguyện, nếu có sự gì bất bình cùng ai, thì hãy tha thứ, để Cha các ngươi ở trên trời cũng tha lỗi cho các ngươi” (Mác 11:25).

Kinh Thánh nghiên cứu

Mác 11; I Các Vua 1:32-48; Xa-cha-ri 9:9, Ê-sai 56:7; Giê-rê-mi 7:11; Mác 12:1-34

Trong Mác 2 và 3 đã kể lại năm cuộc tranh luận giữa Đức Chúa Giê-su và người Pha-ri-si (xem bài học số 3). Trong bài học tuần này, khi Đức Chúa Giê-su đến thành Giê-ru-sa-lem, Ngài đã có sáu cuộc tranh luận với những người lãnh đạo tôn giáo lúc bấy giờ. Hai nhóm tranh luận như là một cuốn sách viết lại sự bắt đầu và kết thúc chức vụ của Đức Chúa Giê-su ở trên đất. Mỗi nhóm tránh cãi đề cập đến những vấn đề quan trọng trong đời sống của một Cơ-đốc nhân. Những chỉ dẫn của Ngài, ngay cả trong những tình huống tranh luận để hướng dẫn cho những kẻ tin trong những vấn đề nền tảng đức tin cũng như trong kinh nghiệm đời sống hằng ngày.

Những nhà lãnh đạo tôn giáo đến để đối đầu, chửi rủa và đánh bại Đức Chúa Giê-su, nhưng họ chưa bao giờ thành công. Một phần của bài học tuần này sẽ bao gồm việc phân tích những gì khiến mọi người chống đối Đức Chúa Trời và xem xét những gì Cơ-đốc nhân có thể làm để vượt qua thành kiến và nói với tấm lòng của những người chống lại lời kêu gọi của Thánh Linh.

Trong Mác 11, chức vụ của Đức Chúa Giê-su sẽ ở tại Giê-ru-sa-lem cho Lễ Vượt Qua (tháng Ba-tháng Tư). Mác 11–16 chỉ bao gồm hơn một tuần; Thời gian kể chuyện đã chậm lại rõ rệt. 10 chương đầu tiên bao gồm khoảng ba năm rưỡi. Sự chậm lại này chỉ ra tầm quan trọng của những cảnh kết thúc này.

*Nghiên cứu bài học tuần này để chuẩn bị cho Sa-bát ngày 31 tháng 8.

Thứ Nhất Sự Khải Hoàn

Đọc Mác 11:1–11 và Xa-cha-ri 9:9,10. Chuyện gì đang xảy ra ở đây?

Phân nửa câu chuyện này liên quan đến việc Đức Chúa Giê-su sai hai môn đồ đến một ngôi làng gần đó để lấy một con lừa cho Ngài cưỡi vào thành Giê-ru-sa-lem. Tại sao quá nhiều thời gian dành cho sự việc này?

Câu trả lời có hai phần. Trước hết, nó chứng tỏ quyền năng tiên tri của Đức Chúa Giê-su, nâng cao phẩm giá của sự xuất hiện của Ngài và liên kết nó với ý muốn của Đức Chúa Trời. Thứ hai, khía cạnh này của câu chuyện liên kết với Xa-cha-ri 9:9,10, nói về nhà vua cưỡi lừa vào thành Giê-ru-sa-lem. Nó gợi nhớ đến sự tôn làm vua của Sa-lô-môn vào Giê-ru-sa-lem trên một con lừa (1 Các vua 1:32-48), khi A-đô-ni-gia cố gắng chiếm đoạt ngai vàng, và Đa-vít ra sắc lệnh rằng Sa-lô-môn phải được trao vương miện ngay lập tức.

“Năm trăm năm trước khi Đấng Cơ-đốc giáng sinh, tiên tri Xa-cha-ri đã báo trước sự xuất hiện của Vua đến Israel. Lời tiên tri này giờ đây sẽ được ứng nghiệm. Người từ lâu đã từ chối danh dự hoàng gia bây giờ đến Giê-ru-sa-lem với tư cách là người thừa kế ngai vàng của vua Đa-vít” — Ellen G. White, Nguyện Ước Thời Đại, trang 569.

Giê-ru-sa-lem nằm trong một vùng đồi núi, ở độ cao khoảng khoảng 740m. Vào thời Đức Chúa Giê-su, dân số của nó có lẽ là 40.000-50.000 người, nhưng điều này đã tăng lên vào dịp Lễ Vượt Qua. Thành phố chỉ bao gồm khoảng 100 mẫu, nhưng đền thờ phủ khoảng 15 mẫu. Với dãy đền thờ xinh đẹp bao phủ toàn thành phố.

Đức Chúa Giê-su tiến vào từ phía đông, đi xuống Núi Ô-li-ve và có khả năng đi qua Cổng Vàng vào Núi Đền thờ (một cánh cổng hiện đã bị bịt kín). Toàn bộ thành phố đã bị khuấy động bởi sự xuất hiện của Ngài, mọi người đều nhận ra tầm quan trọng của hành động tượng trưng của Ngài. Đám đông đi cùng với Đức Chúa Giê-su đã hô vang Hô-sa-na, một thuật ngữ ban đầu có nghĩa là “cứu ngay bây giờ”, nhưng cuối cùng có nghĩa là “ngợi khen Đức Chúa Trời”.

Thân phận Ngài được giữ bí mật, điều mà Đức Chúa Giê-su đã nhấn mạnh trong hầu hết thời gian của Mác, đã trôi qua. Bây giờ Đức Chúa Giê-su công khai vào thành Giê-ru-sa-lem bằng cách sử dụng một hành động biểu tượng nổi tiếng của hoàng gia. Ngài bước vào đền thờ, nhưng vì trời đã khuya, Ngài chỉ đơn giản nhìn xung quanh và sau đó lui đi cùng với mười hai môn đồ đến làng Bê-tha-ni. Những gì có thể biến thành một cuộc bạo loạn hoặc nổi loạn thay vào đó kết thúc với việc Ngài lặng lẽ rời đi. Nhưng ngày hôm sau sẽ khác.

Ý tưởng cưỡi trên con lừa gợi lên ý tưởng về sự khiêm tốn. Tại sao đó là một đặc điểm quan trọng, đặc biệt là đối với các Cơ-đốc nhân? Chúng ta, dưới ánh sáng thập giá, phải tự hào về điều gì?

Thứ Hai Cây Vả Bị Rủa Sả Và Sự Làm Sạch Đền Thờ

Đọc Mác 11:12–26. Ý nghĩa của các sự kiện được mô tả ở đây là gì?

Vào buổi sáng, xuất phát từ làng Bê-tha-ni, chỉ cách Giê-ru-sa-lem hơn 3km, Đức Chúa Giê-su đói. Nhìn thấy một cây vả có lá, Ngài đã đi đến đó để tìm trái nó. Hành động này sẽ không được coi là trộm cắp, vì theo luật pháp Cựu Ước, người ta có thể ăn thức ăn từ cánh đồng hoặc vườn cây ăn quả của hàng xóm để làm dịu cơn đói (Lê-vi 19:9;23:22, Phục truyền Luật lệ Ký 23:25). Nhưng Ngài không tìm thấy trái cây nào và nói với cây, “Chẳng hề có ai ăn trái của mầy nữa!” (Mác 11:14). Đó là một hành động rất kỳ lạ và không điển hình đối với Đức Chúa Giê-su, nhưng những gì xảy ra ngay sau đó thậm chí còn trở nên nổi bật hơn.

Những gì xảy ra tiếp theo giống như trong đền thờ của dân ngoại, nơi việc bán của lễ đã diễn ra (gần đây được bắt đầu bởi Cai-phe). Đức Chúa Giê-su xua đuổi những người bán hàng ra khỏi tòa án để sự thờ phượng yên tĩnh có thể trở lại. Hành động của Ngài trực tiếp bày tỏ sự khinh thường đối với những người phụ trách hệ thống đền thờ.

Đức Chúa Giê-su liên kết hai câu Kinh Thánh Cựu Ước như một lời quở trách gay gắt về sự ô uế trong đền thờ. Ngài khẳng định đền thờ là một ngôi nhà cầu nguyện cho tất cả mọi người (Ê-sai 56:7), đặc biệt bao gồm cả dân Ngoại. Sau đó, Ngài phán rằng các nhà lãnh đạo đã biến đền thờ thành hang ổ của bọn cướp (Giê-rê-mi 7:11). Sau đó, vào cuối ngày tuyệt vời này, Đức Chúa Giê-su rời khỏi thành phố với các môn đồ của Ngài (Mác 11:19).

Sáng hôm sau, khi trở lại thành phố (xem Mác 11:20–26), các môn đồ ngạc nhiên khi thấy cây vả khô héo từ rễ. Đức Chúa Giê-su đưa ra một bài học về sự cầu nguyện và tha thứ trong lời giải thích của Ngài về những gì đã xảy ra. Tất cả điều này có nghĩa là gì?

Hai câu chuyện này tạm được gọi là cách kể “bánh mỳ kẹp” thứ tư trong Mác (xem bài 3) nghĩa là khi người kể đang kể câu chuyện thì lại xen vào một câu chuyện khác trước khi kết thúc câu chuyện đó. Trong những câu chuyện như vậy, sự châm biếm kịch tính xảy ra với các nhân vật có tính cách giống nhau nhưng có hành động trái ngược nhau hoặc có tính cách trái ngược lại có hành động giống nhau.Trong câu chuyện này, cây vả và đền thờ là hai hình ảnh tương đồng. Đức Chúa Giê-su rủa sả cây vả nhưng làm sạch đền thờ, một hành động trái ngược. Nhưng trớ trêu thay là những người lãnh đạo tôn giáo lại tìm cách giết Ngài và hành động đó sẽ đánh dấu sự kết thúc của tầm quan trong của các nghi lễ trong đền thờ. Mọi thứ được ứng nghiệm trong Ngài.

Những điều gì trong cuộc sống của bạn cần Đức Chúa Giê-su làm sạch? Làm thế nào điều này xảy ra?

Thứ Ba Bởi Thẩm Quyền Nào Ngài Làm Điều Này?

Đọc Mác 11:27-33. Các nhà lãnh đạo tôn giáo đã mang đến thách thức nào cho Đức Chúa Giê-su và Ngài đã phản ứng như thế nào?

Sau khi Đức Chúa Giê-su dẹp sạch đền thờ, những người lãnh đạo tôn giáo lúc bấy giờ đối chất với Ngài tại tòa án, hỏi Ngài đã hành động bởi thẩm quyền nào vào ngày hôm trước. Họ không tìm kiếm lẽ thật nhưng tìm cách bẫy Ngài. Nếu Ngài nói rằng thẩm quyền của Ngài đến từ Đức Chúa Trời, họ sẽ phủ nhận rằng một người thợ mộc thôn quê đơn giản có thể có thẩm quyền như vậy. Nếu Ngài thừa nhận rằng thẩm quyền của Ngài là con người, họ sẽ chối bỏ Ngài như một kẻ ngu dại.

Nhưng Đức Chúa Giê-su nhìn thấu âm mưu của họ và nói rằng Ngài sẽ trả lời câu hỏi của họ nếu họ trả lời câu hỏi của Ngài. Ngài hỏi: liệu phép báp-têm của Giăng Báp-tít là từ Đức Chúa Trời hay từ con người. Ngay lập tức, các nhà lãnh đạo thấy rằng họ là những người bị mắc kẹt. Nếu họ trả lời rằng nó từ Đức Chúa Trời, Đức Chúa Giê-su sẽ nói, “Tại sao ngươi không tin người?”. Nếu họ nói từ con người, họ sợ người dân. Vì vậy, họ nói dối và nói rằng họ không biết. Điều này cho Đức Chúa Giê-su cơ hội để từ chối trả lời câu hỏi của họ.

Đọc Mác 12:1–12. Đức Chúa Giê-su đã từ chối trả lời như thế nào và điều gì xảy ra?

Đức Chúa Giê-su kể một dụ ngôn về một vườn nho, một chủ sở hữu và những người thuê cánh đồng. Câu chuyện Đức Chúa Giê-su kể có những điểm rất tương đồng với dụ ngôn về vườn nho được tìm thấy trong Ê-sai 5, nơi Đức Chúa Trời kết tội dân Y-sơ-ra-ên bất trung. Mọi người sẽ nhận ra sự tương đồng, đặc biệt là các nhà lãnh đạo tôn giáo.

Câu chuyện mở ra theo một cách khác thường khi những người thuê vườn nho từ chối đưa bất kỳ hoa lợi nào của cánh đồng cho chủ sở hữu. Thay vào đó, họ ngược đãi và giết những tôi tớ của chủ. Cuối cùng, người chủ đưa con trai thân yêu của mình, người mà ông mong họ tôn trọng. Nhưng không phải vậy. Họ lý luận một cách kỳ lạ rằng, nếu họ giết con trai của chủ vườn nho, vườn nho sẽ là của họ. Sự phi lý của họ làm nổi bật sự phán xét là điều phải đến đối với họ.

Những gì Đức Chúa Giê-su đang làm trong câu chuyện này là đưa ra cho các nhà lãnh đạo tôn giáo một lời cảnh báo long trọng về việc sẽ xảy ra đối với họ. Trong ánh sáng của lẽ thật, câu chuyện dụ ngôn của Ngài là một lời báo trước đầy yêu thương. Vẫn chưa quá muộn để họ thay đổi và tránh những sự phán xét. Một số người sẽ ăn năn, thay đổi và chấp nhận Đức Chúa Giê-su. Nhưng một số khác thì không.

Thứ Tư Nhiệm Vụ Dưới Đất Và Thành Quả Nơi Thiên Đàng

Đọc Mác 12:13–27. Điều gì đang xảy ra ở đây và Đức Chúa Giê-su dạy những lẽ thật nào?

Các nhà lãnh đạo tôn giáo đang cố gắng tìm mọi cách mà họ có thể có được để kết án Đức Chúa Giê-su, hoặc với tổng đốc La Mã hoặc với người dân. Họ hướng vấn đề sang việc liên quan đến việc nộp thuế. Bởi lúc ấy, việc từ chối nộp thuế có thể được coi là cuộc nổi loạn chống lại chính quyền La Mã, một hành vi phạm tội nghiêm trọng.

Câu trả lời của Đức Chúa Giê-su hãy trả cho Caesar những thứ thuộc về Caesar và cho Đức Chúa Trời những thứ thuộc về Đức Chúa Trời đã giữ Ngài khỏi cái bẫy của chúng, nhưng cũng cung cấp sự hướng dẫn sâu sắc về trách nhiệm của tín đồ đối với chính phủ. “Ngài tuyên bố rằng vì họ đang sống dưới sự bảo vệ của quyền lực La Mã, họ nên cung cấp cho quyền lực đó sự hỗ trợ mà nó ban bố, miễn là điều này không xung đột với nghĩa vụ cao hơn. Nhưng trong khi tuân theo luật pháp của đất nước một cách hòa bình, họ nên trung thành trước tiên với Đức Chúa Trời — Ellen. G. White, Nguyện Ước Thời Đại, trang 602.

Câu hỏi tiếp theo được họ đề cập đến liên quan đến sự sống lại của người chết. Người Sa-đu-sê là một nhóm thầy tế lễ chỉ chấp nhận năm sách của Môi-se là Kinh Thánh. Họ không tin vào sự sống lại của người chết. Kịch bản họ trình bày với Đức Chúa Giê-su có lẽ là giả thuyết. Nó liên quan đến bảy anh em trai và một phụ nữ. Theo luật Môi-se, để nối dòng dõi, khi một người chết không có con trai, em trai của người đó sẽ kết hôn với góa phụ (chị dâu), và bất kỳ đứa con nào được sinh ra trong sự kết hợp đó sẽ là con của người chết một cách hợp pháp (Phục truyền 25:5-10).

Tìm cách làm mất uy tín đối với giáo lý về sự phục sinh, người Sa-đu-sê chỉ ra một tình thế tiến thoái lưỡng nan về đạo đức về việc người phụ nữ sẽ là vợ của ai trong sự phục sinh. Đức Chúa Giê-su phản bác lập luận của họ trong hai bước, đề cập đến Kinh Thánh và quyền năng của Đức Chúa Trời. Thứ nhất, Ngài mô tả quyền năng của Đức Chúa Trời trong sự phục sinh và chỉ ra rằng sẽ không có hôn nhân trên thiên đàng. Sau đó, Ngài bảo vệ giáo lý về sự phục sinh bằng cách trích dẫn Xuất-ê-díp-tô Ký 3:1–22, nơi Đức Chúa Trời chỉ ra rằng Ngài là Chúa của Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp. Đức Chúa Giê-su ngụ ý rằng điều này có nghĩa là họ sẽ được sống lại; họ không thể chết mãi nếu Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời của họ.

Nếu ai đó hỏi bạn, "Bạn có biết quyền năng của Đức Chúa Trời không?" Bạn sẽ đáp lời như thế nào, và tại sao?

Thứ Năm Điều Răn Lớn Nhất

Đọc Mác 12:28–34. Thầy thông giáo thân thiện đã hỏi câu hỏi sâu sắc nào và Đức Chúa Giê-su đã đưa ra câu trả lời kép nào?

Chúng ta thấy, hầu hết các nhà lãnh đạo tôn giáo (chỉ một vài ngoại lệ) đều đối nghịch với Đức Chúa Giê-su. Điều này đặc biệt đúng ở Giê-ru-sa-lem, nơi Đức Chúa Giê-su đã đối đầu với sự lãnh đạo về việc thờ phượng trong đền thờ – nơi trung tâm của Do Thái giáo. Do đó, đối với một thầy thông giáo lắng nghe những tranh chấp và đánh giá cao những câu trả lời của Ngài thể hiện sự trung thực và can đảm khi đối mặt với sự thù địch của nhiều người đối với Đức Chúa Giê-su. Nhiều người chọn chỉ đứng lại và quan sát, ngay cả khi họ đồng cảm với Đức Chúa Giê-su. Nhưng người đàn ông này không làm như vậy.

Ông đào sâu vào trọng tâm của tôn giáo với câu hỏi của mình về điều răn nào là quan trọng nhất. Đức Chúa Giê-su trả lời với sự đơn giản và rõ ràng, trích dẫn She-ma (Lời của Đức Chúa Trời), lời tuyên xưng đức tin trong Do Thái giáo từ Phục-truyền Luật-lệ ký 6:4,5. Điều răn lớn nhất, Đức Chúa Giê-su nói, là kính mến Đức Chúa Trời với tất cả tấm lòng, linh hồn, tâm trí và sức mạnh của bạn – nghĩa là, với toàn bộ con người bạn. Đức Chúa Giê-su liệt kê điều răn quan trọng thứ hai cho thầy thông giáo bằng cách, trích dẫn Cựu Ước một lần nữa, lần này từ Lê-vi Ký 19:18, để yêu người lân cận như chính mình.

Đôi khi mọi người tự hỏi làm thế nào có thể ra lệnh cho tình yêu. Bối cảnh văn hóa của điều răn trong Phục truyền luật lệ ký giúp giải thích. Ngôn ngữ xuất phát từ các thỏa thuận cổ xưa giữa các bên, và thuật ngữ “tình yêu” đề cập đến việc trung thành với các yêu cầu của thỏa thuận, trung thành thực hiện chúng. Do đó, mặc dù không loại trừ khái niệm tình cảm sâu sắc giữa các bên, nhưng nó tập trung nhiều hơn vào các hành động thể hiện lòng trung thành.

Ông thấy sự rõ ràng và đơn giản trong câu trả lời của Đức Chúa Giê-su và nói như vậy. Người ta có thể tưởng tượng sự cau có từ các nhà lãnh đạo tôn giáo khác vì thầy thông giáo trung thực này đã khẳng định câu trả lời của Đức Chúa Giê-su là hợp lệ, điều mà không ai sẵn sàng làm. Đức Chúa Giê-su cũng khẳng định với thầy thông giáo về câu trả lời trung thực của mình, nói rằng ông không xa vương quốc của Chúa. Không xa không có nghĩa là bên trong. Điều mà ông vẫn cần là nhận ra Đức Chúa Giê-su là ai và đi theo Ngài, một bước tiến xa hơn trong hành trình đức tin.

Làm thế nào để chúng ta học cách yêu mến Chúa và yêu người lân cận như chính mình? Tại sao thập tự giá là mấu chốt để tuân theo các điều răn này?

Thứ Sáu Nghiên Cứu Bổ Túc

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC

Đọc chương “Sự diệt vong”, “Sự làm sạch đền thờ” và “Sự tranh đấu” của bà Ellen G.White trong quyển Nguyện Ước Thời Đại, trang 580-609.

“Hành động của Đức Chúa Giê-su trong việc rủa sả cái cây mà chính quyền năng của Ngài đã tạo ra là một lời cảnh báo cho tất cả các Hội Thánh và cho tất cả các Cơ-đốc nhân. Không ai có thể sống theo luật pháp của Chúa mà không phụng sự người khác. Nhưng có nhiều người không sống cuộc sống thương xót, vô vị kỷ của Đức Chúa Giê-su. Một số người tự cho mình là Cơ-đốc nhân xuất sắc nhưng lại không hiểu điều gì tạo nên sự phụng sự Đức Chúa Trời. Họ lên kế hoạch và học tập để làm hài lòng chính mình. Họ chỉ làm những gì liên quan đến bản thân. Mọi thứ chỉ có giá trị đối với họ khi họ có thể làm lợi cho chính mình. Trong tất cả các vấn đề của cuộc sống, lợi ích của họ là trên hết. Không phải cho người khác nhưng cho chính họ, họ phục sự. Đức Chúa Trời đã tạo dựng họ để sống trong một thế giới nơi mà sự phục vụ vị tha phải được thực hiện. Ngài đã thiết lập họ để giúp đỡ đồng loại của mình bằng mọi cách có thể. Nhưng cái tôi quá lớn đến nỗi họ không thể nhìn thấy bất cứ điều gì khác. Họ không liên lạc với nhân loại. Những người sống cho bản thân như vậy giống như cây vả, bề ngoài họ có chỉ là sự giả hình nhưng không có kết quả. Họ tuân thủ các hình thức thờ phượng, nhưng không ăn năn hay có đức tin. Trong nghề nghiệp, họ tôn trọng luật pháp của Đức Chúa Trời, nhưng sự vâng lời thì thiếu. Họ nói, nhưng không làm. Trong câu được nói trên cây vả, Đức Chúa Giê-su cho thấy trong mắt Ngài sự giả hình vô ích này đáng ghét như thế nào. Ngài tuyên bố rằng tội nhân thì ít tội hơn người xưng mình phục vụ Đức Chúa Trời, nhưng không kết trái cho sự vinh hiển của Ngài”, trích Nguyện Ước Thời Đại, trang 584.

Câu hỏi thảo luận:

Hãy suy gẫm về ý nghĩa của việc Đấng Cơ-đốc tẩy sạch đền thờ. Nguyên tắc đó có thể áp dụng cho Hội Thánh của chúng ta ngày nay như thế nào? Làm thế nào một sự thanh tẩy như vậy diễn ra?

Xuyên suốt các Phúc Âm, hết lần này đến lần khác, Đức Chúa Giê-su đề cập đến Kinh Thánh và cách chúng phải được ứng nghiệm. Điều này cho chúng ta biết chúng là trọng tâm của đời sống đức tin như thế nào? Tại sao chúng ta phải nhiệt thành từ chối bất kỳ nỗ lực nào nhằm hạ thấp thẩm quyền của Kinh Thánh, đặc biệt là ý tưởng rằng Kinh Thánh chỉ là ý tưởng riêng của mọi người về Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời là ai và Ngài hành động như thế nào?

Đâu là ranh giới thích hợp giữa Hội Thánh và nhà nước? Sự dạy dỗ của Đức Chúa Giê-su trong Mác 12:13-17 hướng dẫn cuộc thảo luận này như thế nào?

Tra cứu các câu Kinh Thánh nói về sự phục sinh. Tại sao giáo lý này rất quan trọng đối với đức tin của chúng ta, đặc biệt là khi xem xét tình trạng của người chết?