Bài Học 8 · 17 – 23 Tháng 8

Dạy dỗ các môn đồ: phần 2

Kinh Thánh Nghiên Cứu: Mác 10; Sáng-thế Ký 1:27; ‎2:24; Ga-la-ti 4:1,2; Rô-ma 6:1-11; Ê-sai 11:1-16

"Vì Con người đã đến không phải để người ta hầu việc mình, song để hầu việc người ta, và phó sự sống mình làm giá chuộc cho nhiều người." — Mác 10:45
Sa-bát Dạy Dỗ Các Môn Đồ: Phần 2

Câu gốc

“Vì Con người đã đến không phải để người ta hầu việc mình, song để hầu việc người ta, và phó sự sống mình làm giá chuộc cho nhiều người.” (Mác 10:45).

Kinh Thánh nghiên cứu

Mác 10; Sáng-thế Ký 1:27; ‎2:24; Ga-la-ti 4:1,2; Rô-ma 6:1-11; Ê-sai 11:1-16.

Tuần này chúng ta sẽ nhìn trong Mác 10, trong phân đoạn này Đức Chúa Giê-su hoàn thành phần đặc biệt cho các môn đồ Ngài để chuẩn bị cho thập tự giá. Một nữa trong Mác 10 Ngài dạy các môn đồ Ngài, và phần còn lại là các vấn đề quan trọng đôi với vai trò là các môn đồ nhưng được kể qua lăng kính của những người khác tương tác với Đức Chúa Giê-su. Những người Pha-ri-si đến và tranh luận với Ngài về chủ đề ly dị. Cha mẹ mang con cái của họ đến cho Đức Chúa Giê-su để được Ngài ban phước. Một người giàu có hỏi về sự sống đời đời và một người mù cầu xin được sáng mắt.

Chương này của Mác mang những lời dạy quan trọng về ý nghĩa của việc theo Đức Chúa Giê-su, đặc biệt là khi nó liên quan đến cuộc sống ngay tại đây và ngay lúc đó: Hôn nhân, con cái, liên quan đến sự giàu có, phần thưởng và cái giá phải trả khi theo Ngài. Việc Ngài chữa lành cho người mù trong Mác 10:46-52 một cách đặc biệt, so sánh với Mác 8:22-26, trong đó dẫn dắt cho phần kết của Mác trong phân đoạn từ Mác 8:22-10:52) và sự minh họa rõ nét về phần thưởng và cái giá phải trả khi chọn theo Đức Chúa Giê-su.

Những bài học này chuẩn bị cho người theo Đức Chúa Giê-su:

  • Cho dù là các môn đồ cách đây 2.000 năm hay các môn đồ trong thế kỷ 21.
  • Cho những thử thách sẽ đến với các môn đồ Ngài.

*Nghiên cứu bài học tuần này để chuẩn bị cho Sa-bát ngày 24 tháng 8.

Thứ Nhất Kế Hoạch Của Chúa Cho Hôn Nhân

Đọc Mác 10:1-12, cùng với Sáng-thế Ký 1:27 và 2:24. Có cạm bẫy nào đang bị che giấu dưới câu hỏi của người Pha-ri-si về sự để vợ (ly hôn) và bài học nào được tìm thấy qua câu trả lời của Ngài?

Trong đoạn này, Người Pha-ri-si hỏi Đức Chúa Giê-su rằng liệu việc người đàn ông ly dị vợ mình có hợp pháp không. Vì với họ việc ly dị vợ là hợp pháp. Câu hỏi đặt ra là dựa trên cơ sở nào. Bởi theo cách dạy của hai trường Sa-mai (Shammai) và Hi-le (Hillel) (Sa-mai và Hi-le là hai học giả nổi tiếng trong vòng người Do Thái trong thời lúc bấy giờ, hai ngôi trường cũng như vậy được mở ra theo tên của họ). Sự dạy dỗ của Sa-mai thì cho phép sự ly hôn vợ khi người đó không có con, không quan tâm gia đình và cảm xúc của người chồng, hoặc không chung thủy. Sự dạy dỗ của Hi-le thì dễ dãi hơn, cho phép sự ly hôn nếu có nguyên do chính đáng, nhưng qui trình thì khó hơn để giảm tình trạng ly hôn tràn lan.

Cho nên, việc họ hỏi Ngài chung chung về việc ly hôn có dược chấp nhận hay không là điều rất kỳ quặc. Ẩn nấp dưới câu hỏi này là một âm mưu để khiến Ngài gặp rắc rối với Hê-rốt là người cai trị khu vực phía đông sông Giô-đanh, nơi Đức Chúa Giê-su hiện đang ở. Hê-rốt đã ly dị vợ mình và cưới Hê-rô-đi là vợ của anh trai ông. Hê-rô-đi đã chặt đầu Giăng Báp-tít khi ông lên án về mối quan hệ bất hợp pháp này (Ma-thi-ơ 14:1-12).

Đức Chúa Giê-su đáp lại câu hỏi của họ bằng cách hỏi họ, Ngài hỏi những người Pha-ri-si những gì mà Môi-se đã truyền về vấn đề này. Đoạn Kinh Thánh mà người Pha-ri-si tham khảo để trả lời là Phục truyền Luật lệ Ký 24:1-4, mô tả một trường hợp cụ thể của việc tái hôn sau khi ly dị. Dân Y-sơ-ra-ên trong thời Môi-se đã thực hành luật ly dị. Án lệ được mô tả trong Phục truyền Luật lệ Ký 24 nhằm cung cấp sự bảo vệ cho người phụ nữ. Nhưng vào thời Đức Chúa Giê-su, điều này đã bị trường Hi-le bóp méo để làm cho việc ly dị dễ dàng hơn vì hầu hết mọi lý do. Do đó, luật pháp nhằm bảo vệ người phụ nữ đã được dễ dàng đẩy sang một bên.

Thay vì tranh luận về án lệ trong Phục truyền Luật lệ Ký 24, Đức Chúa Giê-su đề cập đến lý tưởng ban đầu của Đức Chúa Trời về hôn nhân, trong Sáng-thế Ký 1 và 2. Ngài nhấn mạnh rằng ban đầu Đức Chúa Trời đã tạo ra một người nam và một người nữ (Sáng thế Ký 1:27), hai cá thể. Sau đó, Ngài kết hợp lẽ thật này với Sáng thế Ký 2:24, rằng một người đàn ông rời bỏ cha mẹ mình và kết hợp với vợ mình, và hai người trở thành một thịt. Khái niệm hiệp nhất này trở thành nền tảng cho sự khẳng định của Đức Chúa Giê-su về mối hôn nhân. Những gì Thiên Chúa đã kết hợp, con người không nên tách rời.

Hội Thánh của chúng ta có thể làm gì để củng cố hôn nhân giữa các cặp vợ chồng? Làm thế nào để chúng ta giúp những người có hôn nhân đã tan vỡ?

Thứ Hai Đức Chúa Giê-su Và Con Trẻ

Đọc Mác 10:13-16. Đức Chúa Giê-su đã làm khi nhiều người mang con trẻ đến gần Ngài?

Trong thế giới cổ đại, con trẻ là điều mà cha mẹ ai cũng mong muốn (đặc biệt là các bé trai trong nền văn hóa thống trị nam giới), việc sinh nở và thời thơ ấu không dễ dàng. Nếu không có sự chăm sóc y tế hiện đại, rủi ro đối với các bà mẹ khi sinh con và trẻ sơ sinh, trẻ em sẽ tăng cao. Nhiều nền văn hóa có các loại thuốc truyền thống và bùa hộ mệnh được sử dụng để bảo vệ những cá nhân dễ bị tổn thương này chống lại các thế lực độc ác.

Cũng trong thời đó, chúng có địa vị xã hội thấp, thuộc dòng nô lệ, thực sự như Ga-la-ti 4:1,2 có nói. Trong thế giới Hy Lạp La Mã, những đứa trẻ bị dị dạng hoặc không mong muốn sẽ bị đưa ra trước công chúng, hoặc thậm chí bị ném xuống sông. Con trai được coi trọng hơn con gái. Đôi khi các bé gái bị bỏ lại để chết giữa các anh em chúng. Đôi khi những đứa trẻ bị bỏ rơi này được “giải cứu”, chỉ để được nuôi dưỡng và bán làm nô lệ.

Các môn đồ dường như không hiểu sự dạy dỗ của Đức Chúa Giê-su trong Mác 9 về việc tiếp nhận vương quốc của Đức Chúa Trời như một đứa trẻ (Mác 9:33-37). Bây giờ họ quở trách những người mang trẻ em đến với Đức Chúa Giê-su để được ban phước, có lẽ họ nghĩ rằng Ngài sẽ không có thời gian cho một nhiệm vụ đơn giản như vậy.

Các môn đồ đã sai. Đức Chúa Giê-su không vui lòng về điều đó. Xuyên suốt sách Mác, Đức Chúa Giê-su có một số phản ứng nổi bật đối với mọi người, và một trong những hành động đáng học hỏi đó là phản ứng mạnh mẽ của Ngài là đối với những người đang giữ trẻ em tránh xa Ngài.

Ngài mạnh mẽ nhấn mạnh rằng các môn đồ không được cản trở trẻ em đến gần Ngài. Tại sao? Bởi vì vương quốc của Đức Chúa Trời thuộc về họ và người ta phải nhận được nó trong thái độ và quan điểm của một đứa trẻ – có lẽ là một tham chiếu đến sự tin cậy đơn giản, ngầm định nơi Đức Chúa Trời.

“Đừng để những tính cách sai lệch làm mất đi hình ảnh của Đấng Cơ-đốc trong cuộc sống của chúng ta. Đừng để những đứa trẻ bị xa cách Ngài vì sự lạnh lùng và hà khắc của chúng ta. Đừng bao giờ tạo ra nguyên do để những đứa trẻ nghỉ rằng thiên đàng là một nơi không tốt đẹp. Đừng nói về tôn giáo như là một điều gì đó mà trẻ em không thể hiểu được, hoặc hành động như thể chúng không thể chấp nhận Đức Chúa Giê-su trong thời thơ ấu của chúng. Đừng để các em có ấn tượng sai lầm về tôn giáo của Đấng Cơ-đốc như là một tôn giáo của sự u ám, khi đến với Ngài các em phải từ bỏ tất cả những gì làm cho các em vui vẻ”, Chức vụ chữa bệnh, Ellen G. White trang 43,44.

Làm thế nào bạn có thể bày tỏ Đức Chúa Giê-su tốt hơn cho bất cứ trẻ em nào xung quanh bạn?

Thứ Ba Sự Đầu Tư Tốt Nhất

Đọc Mác 10:17–31. Những bài học quan trọng nào về đức tin và cái giá để trở thành môn đồ Chúa, đối với bất cứ ai, giàu hay nghèo, được mặc khải ở đây?

Cách tiếp cận của người đàn ông cho thấy sự chân thành và tôn trọng của anh ta đối với Đức Chúa Giê-su. Anh ta chạy lên, quỳ xuống trước mặt Ngài, và đặt câu hỏi trọng tâm cho cuộc hành trình đến Thiên quốc—Làm gì để thừa hưởng được cuộc sống vĩnh cửu? Đức Chúa Giê-su trả lời bằng cách đề cập đến phần thứ hai của luật pháp mười điều răn (Kính Chúa, yêu người). Một lần nữa, người đàn ông thể hiện chủ nghĩa lý tưởng của mình bằng cách nói rằng anh ta đã giữ tất cả những điều này, ngay cả từ khi còn trẻ.

Trong bốn sách Phúc Âm, chỉ có Mác ghi nhận rằng Đức Chúa Giê-su yêu người đàn ông này. Có một cái gì đó hấp dẫn về chủ nghĩa lý tưởng của người đàn ông này. Nhưng Đức Chúa Giê-su thử thách sự chân thành của anh ta bằng cách yêu cầu ông bán mọi thứ và đi theo Ngài. Người đàn ông rời đi vì anh ta có tài sản lớn. Trên thực tế, ông đã không thực sự tuân giữ các mệnh lệnh. Anh ta đã phá vỡ cái đầu tiên, đặt một cái gì đó lên trên Đức Chúa Trời trong cuộc sống của anh ta. Sự giàu có của anh ấy là thần tượng của anh ấy.

Sau đó, Đức Chúa Giê-su giải thích sự giàu có nó quyến rũ như thế nào và một con vật lớn như lạc đà dễ dàng chui qua lỗ kim nhỏ còn dễ hơn là một người giàu có vào thiên đàng.

Các môn đồ kinh ngạc trước những lời của Đức Chúa Giê-su và tự hỏi ai có thể được cứu. Cao trào Đức Chúa Giê-su đã phán trong Mác 10:27. “Đức Chúa Giê-su ngó môn đồ mà rằng: Sự đó loài người không thể làm được, nhưng Đức Chúa Trời thì chẳng thế; vì Đức Chúa Trời làm mọi sự được cả.”

Mác 10:27 dường như là điểm kết thúc của câu chuyện: chúng ta không thể tự mình lên thiên đàng, chúng ta cần ân điển của Đức Chúa Trời để được cứu.

Nhưng sau đó Phi-e-rơ buột miệng nói rằng ông và bạn bè của ông đã bỏ lại mọi thứ để theo Đức Chúa Giê-su. Đức Chúa Giê-su trả lời rằng những gì ông đã hi sinh để theo Ngài chẳng có thể so bì với những gì ông sẽ nhận được trong đời này và trong “đời sau”.

Đây là vấn đề: chính sự chết của Đấng Cơ-đốc giải quyết tội lỗi của con người, và sau đó ân điển của Đấng Cơ-đốc, và sự sống lại của Ngài, thêm sức cho những ai vâng theo mạng lệnh của Ngài.

Đọc Rô-ma 6:1–11. Làm thế nào để những câu này tiết lộ thực tế về ân điển của Đức Chúa Trời trong cuộc sống của chúng ta, cả trong việc xưng công chính cho chúng ta và làm cho chúng ta trở thành người mới trong Ngài?

Thứ Tư Ngươi Uống Được Chén Ta Chăng?

Đọc Mác 10:32–45. Làm thế nào để những câu này tiết lộ sự thiếu hiểu biết liên tục của các môn đồ không chỉ về sứ mệnh của Đức Chúa Giê-su mà còn ý nghĩa của việc theo Ngài?

Đức Chúa Giê-su đang di chuyển ngày càng gần Giê-ru-sa-lem hơn trong các chuyến đi của Ngài, và khi Ngài đi, Ngài mở ra cho các môn đồ của Ngài những gì sẽ xảy ra ở đó. Đó không phải là một kịch bản mà họ tin tưởng hoặc muốn nghe. Tính đặc thù của sự phác thảo về sự chết và sự sống lại của Ngài thật đáng chú ý. Nhưng khi nó không phải là những gì bạn muốn nghe, tất cả đều quá dễ dàng để loại bỏ.

Đây rõ ràng là những gì mà Gia-cơ và Giăng đã làm khi họ đến với Đức Chúa Giê-su với một yêu cầu riêng. Theo một cách đúng đắn, Ngài yêu cầu họ giải thích chi tiết hơn, và họ trả lời rằng họ muốn ngồi bên phải và bên trái trong ngày vinh quang của Ngài. Thật dễ dàng để chỉ trích yêu cầu của họ là chủ nghĩa cấp tiến. Nhưng hai người này đã dâng mình cho chức vụ của Đức Chúa Giê-su, và những ham muốn của họ có lẽ không hoàn toàn ích kỷ theo lẽ tự nhiên.

Đức Chúa Giê-su tìm cách đào sâu sự hiểu biết của họ về những gì họ đang yêu cầu. Ngài hỏi liệu họ có thể uống chén của Ngài hoặc chịu phép báp têm bằng phép báp têm của Ngài không. Chén của Ngài sẽ là chén đau khổ trong Vườn Ghết-sê-ma-nê và trên thập tự giá (so sánh với Mác 14:36), và phép báp têm của Ngài sẽ là sự chết và chôn cất của Ngài (Mác 15:33–47), nơi các sự kiện ở đó song song với phép báp-têm của Ngài được ghi lại trong Mác 1.

Nhưng Gia-cơ và Giăng không nhìn thấy nó. Họ vui vẻ trả lời rằng họ có thể. Sau đó, Đức Chúa Giê-su tiên tri rằng thực sự họ sẽ uống chén của Ngài và chịu phép báp têm bằng phép báp têm của Ngài. Gia-cơ là sứ đồ đầu tiên chết vì đạo (Công vụ 12:2). Giăng là sứ đồ sống lâu nhất và bị lưu đày đến đảo Bat-mô (Khải Huyền 1:9). Đức Chúa Giê-su chỉ ra rằng những nơi trong ngày vinh quang được thiết lập bởi Đức Chúa Trời.

Các môn đồ khác đã phản ứng thế nào với câu trả lời của Đức Chúa Giê-su? Không quá tốt. Cùng một từ Hy Lạp, aganakteō nghĩa là “tức giận, phẫn nộ”, được sử dụng trong Mác 10:41 như trong Mác 10:14, liên quan đến sự tức giận của Đức Chúa Giê-su về việc giữ trẻ em tránh xa Ngài.

Sau đó, Đức Chúa Giê-su kêu gọi họ nhóm lại với nhau để đưa ra một trong những lời dạy sâu sắc nhất của Ngài. Ngài chỉ ra rằng những người cai trị dân Ngoại sử dụng quyền lực cho lợi ích cá nhân. Nhưng trong vương quốc của Ngài, quyền năng phải luôn luôn được sử dụng để nâng đỡ và ban phước cho những người khác. Đức Chúa Giê-su dẫn đường với tư cách là Vua của vương quốc Chúa. Bằng cách nào? Bằng cách phó mạng sống của Ngài làm giá chuộc—không hoàn toàn là điều mà các môn đồ của Ngài mong đợi được nghe.

Là một Cơ-đốc nhân, làm "đầy tớ" cho người khác có nghĩa là gì? Đó là, làm thế nào để bạn thể hiện nguyên tắc này trong tương tác hàng ngày của bạn với mọi người?

Thứ Năm Ngài Muốn Tôi Làm Gì Cho Ngài?

Đọc Mác 10:46–52. Ba-ti-mê đã phản ứng thế nào khi thấy Đức Chúa Giê-su đi ngang qua?

Cho đến phân đoạn này của Phúc Âm Mác với một số ngoại lệ, Đức Chúa Giê-su đã nói với mọi người giữ im lặng về các phép lạ của Ngài và về Ngài là ai. Trong trình thuật này, khi Ngài rời Giê-ri-cô, một người mù ăn xin bên đường, khi nghe tin đó là Đức Chúa Giê-su thành Na-za-rét, bắt đầu hét lên, “Đức Chúa Giê-su, Con Đa-vít, xin thương xót con!” (Mác 10:47). Theo như cách viết của sách Mác, đám đông đảm nhận vai trò của những người kêu gọi im lặng khi họ cố gắng làm cho người mù phải im lặng nhưng không thành công.

Nhưng Ba-ti-mê không hề nao núng và thậm chí còn hét to hơn, “Con trai của Đa-vít, xin thương xót tôi!” (Mác 10:48). Lời của ông vừa là lời tuyên xưng đức tin vào Đức Chúa Giê-su là Đấng Mê-si vừa là sự tin tưởng rằng Ngài có thể chữa lành cho ông. Danh hiệu “Con trai của Đa-vít” trong thời Đức Chúa Giê-su có hai khái niệm liên quan đến nó – sự phục hồi ngai vàng của Y-sơ-ra-ên (so sánh với Ê-sai 11; Giê-rê-mi 23:5,6; 33:15; Ê-xê-chi-ên 34:23,24; 37:24; Mi-chên 5:2-4, Xa-cha-ri 3:8; 6:12), và người đó sẽ là người chữa lành và đuổi quỉ.

Đức Chúa Giê-su dừng lại và bảo họ gọi người mù. Đáng chú ý ở đây, người mù đã cởi bỏ áo choàng của mình khi đến với Đức Chúa Giê-su. Những người mù trong thời Đức Chúa Giê-su là những người sống ở dưới đáy xã hội, cùng với những góa phụ và trẻ mồ côi. Đây là những người nghèo đói và thiếu thốn. Chiếc áo choàng là sự chê chở duy nhất mà ông ta có. Vứt bỏ cái áo choàng phía sau có nghĩa là ông ta có đức tin mạnh mẽ rằng Đức Chúa Giê-su sẽ chữa lành cho ông ấy.

Đức Chúa Giê-su không làm chúng ta thất vọng. Thật vậy, bất cứ ai đến với Ngài để được giúp đỡ luôn luôn nhận được ở trong sach Phúc Âm. Đức Chúa Giê-su hỏi cùng một câu hỏi mà Ngài đã hỏi Gia-cơ và Giăng trong Mác 10:36, “Các ngươi muốn Ta làm gì cho các ngươi?” (Mác 10:51). Không do dự, người mù cầu xin được sáng mắt, Đức Chúa Giê-su ngay lập tức khiến ông được nhìn thấy. Người mù liền đi theo Ngài.

Câu chuyện này là phần kết thúc của phần môn đồ hóa trong Mác. Hai câu chuyện minh họa vai trò môn đồ là nhìn thế giới bằng đôi mắt mới, đôi khi chúng ta có thể không nhìn thấy rõ ràng lúc đầu nhưng chúng ta sẽ nhìn thấy rõ ràng khi luôn đi theo sự dẫn dắt của Đức Chúa Giê-su.

Bằng những cách nào đôi khi bạn đã kêu lên, "Đức Chúa Giê-su, Con của Đa-vít, xin thương xót tôi!"? Điều gì đã xảy ra và bạn đã học được gì từ kinh nghiệm này?

Thứ Sáu Nghiên Cứu Bổ Túc

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC

Đọc chương “Phước hạnh của con trẻ” và “Thứ chúng ta còn thiếu” trong tác phẩm Nguyện Ước Thời Đại của bà Ellen G. White, trang 511-523.

“Đức Chúa Giê-su yêu thương trẻ thơ. Ngài đón nhận sự trắc ẩn và tình yêu hồn nhiên và đơn sơ của trẻ nhỏ. Lời khen ngợi từ đôi môi thánh khiết của các em là âm nhạc trong tai Ngài và làm mới lại tình thần của Ngài khi phải tiếp xúc với những con người xảo quyệt và đạo đức giả. Bất cứ nơi nào Ngài đi đến thì khuôn mặt hiền lành và cách cư xử dịu dàng, tử tế của Ngài dành được tình yêu thương và sự tin tưởng của trẻ nhỏ.”, Nguyện Ước Thời Đại, Ellen G. White, trang 511.

Đối với những ai, giống như người trai trẻ giàu có, đang ở vị trí cao của sự tin cậy và có tài sản lớn, có vẻ như đó là một sự hy sinh quá lớn để từ bỏ tất cả để theo Đức Chúa Giê-su. Nhưng đây là quy tắc ứng xử cho tất cả những ai sẽ trở thành môn đồ của Ngài. Không có khác ngoại trừ sự vâng lời có thể được chấp nhận. Sự đầu phục là bản chất của những lời dạy của Đấng Cơ-đốc. Thường thì nó được trình bày và kèm theo trong ngôn ngữ có thẩm quyền, bởi vì không có cách nào khác để cứu con người hơn là cắt bỏ những thứ mà nếu được sẽ làm hư mất tinh thần và toàn bộ con người.”, Nguyện Ước Thời Đại, trang 153.

Câu hỏi thảo luận:

Bạn có những cách gì để có thể giúp trẻ em và thanh niên kết nối với Đức Chúa Giê-su và Hội Thánh? Tại sao điều đó rất quan trọng để chúng ta làm việc này?

Đôi khi chúng ta nghe mọi người nói rằng họ không quan tâm đến tiền. Điều đó không đúng. Mọi người đều quan tâm đến tiền bạc, và không có gì sai với điều đó. Vậy thì, vấn đề tiền bạc có thể là gì, và tại sao các Cơ-đốc nhân trung thành, giàu hay nghèo, phải cẩn thận trong cách họ liên quan đến tiền bạc?

Nếu Đức Chúa Giê-su hỏi bạn, "Con muốn Ta làm gì cho con?", bạn sẽ đáp lại như thế nào?

Hãy tập trung nhiều hơn vào những lời của Đức Chúa Giê-su trong Mác 10:43–45. Sống như thế này có nghĩa là gì? Làm thế nào để chúng ta học cách phục vụ thay vì được phục vụ? Điều này có ý nghĩa gì liên quan đến cách chúng ta sống và tương tác với người khác?