Bài Học 3 · 13 – 19 Tháng 7

Những cuộc tranh luận

Kinh Thánh Nghiên Cứu: Mác 2:1 – 3:6; Mi-chê 6:6-8; I Sa-mu-ên 21:1-6; Mác 3:20-35; Lu-ca 12:53; Lu-ca 14:26

"Đoạn, Ngài lại phán: Vì loài người mà lập ngày Sa-bát, chớ chẳng phải vì ngày Sa-bát mà dựng nên loài người. Vậy thì Con người cũng làm chủ ngày Sa-bát" — Mác 2:27,28
Sa-bát Những Cuộc Tranh Luận

Câu gốc

“Đoạn, Ngài lại phán: Vì loài người mà lập ngày Sa-bát, chớ chẳng phải vì ngày Sa-bát mà dựng nên loài người. Vậy thì Con người cũng làm chủ ngày Sa-bát” (Mác 2:27,28).

Kinh Thánh nghiên cứu

Mác 2:1 – 3:6; Mi-chê 6:6-8; I Sa-mu-ên 21:1-6; Mác 3:20-35; Lu-ca 12:53; Lu-ca 14:26.

Mác từ đoạn 2:1 đến đoạn 3:6 chứa năm câu chuyện cho thấy lời dạy của Đức Chúa Giê-su tương phản với sự dạy dỗ của các nhà lãnh đạo tôn giáo thời bấy giờ. Các câu chuyện xen kẽ nhau, diễn tiến theo một khuôn mẫu cụ thể, trong đó câu chuyện sau được liên kết với câu chuyện trước đó thông qua một chủ đề song song. Câu chuyện cuối cùng quay ngược trở lại và kết nối với câu chuyện đầu tiên.

Mỗi câu chuyện trong loạt chuyện này cho mọi người biết Đức Chúa Giê-su là ai và chỉ rõ công việc của Ngài ở thế gian, điều này được ghi nhận trong Mác 2:10,17,20,28. Các bài học trong ngày Thứ Nhất, Thứ Hai và Thứ Ba sẽ đi sâu hơn vào ý nghĩa của những câu chuyện này và các lời phán truyền của Đấng Cơ-đốc được thể hiện trong đó.

Mác 3:20-35 là đề tài nghiên cứu vào ngày Thứ Tư và Thứ Năm.

Những gì chúng ta sẽ thấy cũng là một ví dụ về kỹ thuật mà người viết Phúc Âm sử dụng được gọi là “Những câu chuyện có dạng bánh mì kẹp” (nhiều mẫu chuyện xen kẽ và bổ sung cho nhau). Dạng tường thuật theo kỹ thuật này xuất hiện ít nhất sáu lần trong sách Mác. Trong từng trường hợp, một số nét đặc trưng quan trọng về bản chất của Đức Chúa Giê-su và vai trò của Ngài là Đấng Mê-si, hay bản chất của vai trò môn đồ, là trọng tâm.

Tuần này, chúng ta sẽ đọc một số câu chuyện về Đức Chúa Giê-su và suy gẫm xem chúng ta có thể học hỏi gì từ những câu chuyện đó.

* Nghiên cứu bài học tuần này để chuẩn bị cho Sa-bát ngày 20 tháng 7.

Thứ Nhất Chữa Lành Người Bại

Đọc Mác 2:1-12. Người bại đang tìm kiếm điều gì khi được mang đến cùng Đức Chúa Giê-su, và ông ta đã nhận được gì?

Người đàn ông bị liệt, vậy nên, bốn người bạn của ông ta phải khiêng ông tìm đến cùng Đức Chúa Giê-su. Sau khi dở mái nhà, họ bèn dùng dây thả người bại xuống trước mặt Đức Chúa Giê-su, Mác 2:5 chép rằng Đức Chúa Giê-su thấy đức tin của họ. Làm thế nào để có thể thấy được đức tin? Giống như tình yêu, đức tin có thể thấy được khi thể hiện qua hành động, như sự kiên trì, nỗ lực của những người bạn đã chứng tỏ niềm tin một cách mạnh mẽ.

Nhu cầu rõ ràng của người bị bại là về mặt thể chất. Tuy nhiên, khi ông ta được đưa đến trước mặt Đức Chúa Giê-su, những lời đầu tiên Chúa phán lại có ý liên quan đến sự tha tội. Từ đầu đến cuối, người bại không nói lời nào, thay vào đó các nhà lãnh đạo tôn giáo lại phản đối (trong tâm trí của họ) về những gì Đức Chúa Giê-su phán ra. Họ cho rằng những lời của Ngài là xúc phạm, báng bổ Đức Chúa Trời và mạo nhận những đặc quyền chỉ thuộc về Đức Chúa Trời mà thôi.

Đức Chúa Giê-su đối đầu với những người chống đối Ngài trên chính nền tảng tư tưởng của họ, qua cách sử dụng một phong cách lập luận điển hình của các giáo sĩ Do Thái được gọi là “lập luận từ nhỏ đến lớn”. Tuyên bố rằng tội lỗi của một người được tha thứ là một chuyện đơn giản, ai cũng có thể nói được; nhưng thực sự khiến một người bị bại đi lại được lại là một chuyện khác. Nếu Đức Chúa Giê-su có thể làm cho người bại đi lại được nhờ quyền năng của Đức Chúa Trời, thì lời tuyên bố tha tội của Ngài đã được khẳng định rõ ràng, không phải là lời nói suông.

Đọc Mi-chê 6:6-8. Câu Kinh Thánh này giải thích như thế nào về những gì xảy ra giữa Đức Chúa Giê-su và các nhà lãnh đạo tôn giáo?

Các nhà lãnh đạo tôn giáo này đã đánh mất những điều hết sức hệ trọng: công lý, lòng thương xót và bước đi cách khiêm nhường trước mặt Đức Chúa Trời. Bị ám ảnh bởi sự cố chấp qua việc bảo vệ quan điểm của mình trong sự hiểu biết về Đức Chúa Trời, họ đã bị mù quáng khi không nhận biết được công việc của Đức Chúa Trời diễn ra ngay trước mắt mình. Không có bất cứ một biểu hiện nào chứng tỏ những người này đã thay đổi suy nghĩ của mình về Đức Chúa Giê-su, cho dù Ngài đã đưa ra quá đủ bằng chứng để họ có thể nhận biết rằng Đức Chúa Giê-su là Đấng đến từ Đức Chúa Trời: Không chỉ bằng cách chứng tỏ cho họ thấy rằng Ngài có thể đọc được tư tưởng của họ (đây là một kỳ tích không hề đơn giản), mà còn bằng cách chữa lành người bị bại liệt lâu năm ngay trước sự chứng kiến tận mắt của họ, một điều mà họ không thể nào phủ nhận.

Làm thế nào để chúng ta có thể cẩn thận tránh xa cái bẫy tương tự mà những người này đã vướng vào: Bị ám ảnh, bị ru ngủ bởi các hình thức tôn giáo đến nỗi đánh mất sự nhận biết những điều hết sức quan trọng trong niềm tin chân chính? (xem thêm Gia-cơ 1:27).

Thứ Hai Kêu Gọi Lê-vi Và Việc Kiêng Ăn

Đọc Mác 2:13-22. Lê-vi, con trai của A-phê là ai? Và tại sao lại có sự phản đối trong việc ông trở thành môn đồ của Đức Chúa Giê-su?

Vào thời Đức Chúa Giê-su, những người thu thuế đều là công chức dưới sự quản lý của chính quyền địa phương hoặc đế chế La Mã. Họ không được lòng người Do Thái ở xứ Giu-đê, bởi vì họ thường thu thuế cao hơn định mức và sớm trở nên giàu có với mức thu nhập của mình. Một bài nghị luận trong luật tôn giáo của người Do Thái có câu viết rằng: “Nếu những người thu thuế bước chân vào một ngôi nhà nào, thì tất cả những gì bên trong ngôi nhà đó đều trở nên ô uế…”.

Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi các thầy thông giáo bắt bẻ một cách gay gắt: “Người cùng ăn với một kẻ thâu thuế và một kẻ có tội sao?”.

Đức Chúa Giê-su trả lời câu hỏi của họ như thế nào? Ngài không hề bối rối và tránh né câu hỏi. Thay vào đó, Ngài lật ngược tình thế bằng một lập luận hết sức tinh tế khi tuyên bố rằng, chính những bệnh nhân mới cần đến thầy thuốc chứ không phải những người khỏe mạnh. Nhân tiện, Ngài xác nhận mình là vị thầy thuốc tâm linh, là Đấng có thể cứu chữa cho những linh hồn đang chìm ngập trong tội lỗi. Thế thì, tại sao người thầy thuốc lại không nên đến cùng những bệnh nhân?

Mác 2:18-22 đề cập đến một chủ đề mới. Đây là câu chuyện trọng tâm trong năm câu chuyện liên quan đến cuộc tranh luận. Phần trước đó nói về bữa ăn tại nhà của Lê-vi, câu chuyện kế tiếp xoay quanh vấn đề về sự kiêng ăn. Nó xoay quanh một cuộc chất vấn về việc tại sao các môn đồ của Đức Chúa Giê-su không kiêng ăn, trong khi môn đồ của Giăng Báp-tít và của người Pha-ri-si thì lại kiêng ăn. Đức Chúa Giê-su đáp lại bằng cách thuật lại một dụ ngôn để minh họa cho câu trả lời của Ngài. Qua đó, Ngài so sánh sự hiện diện của Ngài giống như chàng rể trong một tiệc cưới. Sẽ là một tiệc cưới hết sức kỳ quặc, nếu tất cả khách mời đều kiêng ăn. Nhưng Đức Chúa Giê-su cũng báo trước một ngày sẽ đến, khi chàng rể bị đưa đi khỏi họ - ý muốn nói đến thập tự giá – lúc đó họ sẽ dành nhiều thời gian để kiêng ăn.

Đức Chúa Giê-su lại tiếp tục với hai hình ảnh minh họa làm nổi bật sự tương phản trong lời dạy của Ngài và sự dạy dỗ của các nhà lãnh đạo tôn giáo: Không ai vá miếng vải mới vào chiếc áo cũ bị rách, cũng không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ. Một phương cách hết sức thú vị để đối chiếu sự tương phản trong lời giảng dạy của Đấng Cơ-đốc và của các nhà lãnh đạo tôn giáo. Điều này cho thấy cách dạy dỗ của các thầy thông giáo đã trở nên sai lạc đến mức nào! Với cách dạy như vậy, ngay cả một tôn giáo chân chính cũng có thể bị bóp méo thành nơi cai trị của sự tối tăm, nếu như mọi người không hết sức cẩn thận đề phòng.

Ngày nay, ai là những người có thể bị xem như kẻ thu thuế thời Đức Chúa Giê-su? Làm thế nào để chúng ta điều chỉnh suy nghĩ của mình về những người này?

Thứ Ba Chúa Của Ngày Sa-bát

Trong Mác 2:23,24, những người Pha-ri-si buộc tội các môn đồ của Đức Chúa Giê-su vi phạm ngày Sa-bát. Theo truyền thống của người Do Thái, có 39 hình thức lao động bị cấm làm trong ngày Sa-bát, điều mà theo như suy nghĩ của người Pha-ri-si, bao gồm cả hành động các môn đồ Ngài đã làm.

Đọc Mác 2:23-28. Đức Chúa Giê-su phản bác lời buộc tội của người Pha-ri-si như thế nào?

Đức Chúa Giê-su đáp lại bằng câu chuyện Đa-vít cùng các cộng sự của mình ăn bánh thánh (I Sa-mu-ên 21:1-6). Bánh trần thiết được mang ra khỏi nơi thánh để thay bánh mới vào ngày Sa-bát; vì vậy, có thể Đa-vít đang trong hành trình trốn chạy cấp bách ngay trong ngày Sa-bát và đang bị đói. Đức Chúa Giê-su lập luận rằng, nếu Đa-vít và người của ông ta được coi là chính đáng khi ăn bánh trần thiết, thì các môn đồ của Ngài cũng được quyền bứt bông lúa mì để ăn.

Đức Chúa Giê-su còn phân tích rộng ra rằng ngày Sa-bát được lập nên vì lợi ích của loài người chứ không phải ngược lại, và cơ sở cho lời tuyên bố đó là: vì chính Ngài là Chúa của ngày Sa-bát.

Đọc Mác 3:1-6. Câu chuyện này minh họa như thế nào về quan điểm của Đức Chúa Giê-su rằng ngày Sa-bát được lập nên vì loài người?

Một lần nữa, Đức Chúa Giê-su lại đối diện với cuộc tranh luận cùng các nhà lãnh đạo tôn giáo về vấn đề ngày Sa-bát, (tuy nhiên, hãy lưu ý rằng các cuộc tranh luận này không bao giờ kết thúc). Các nhà lãnh đạo tôn giáo thời ấy luôn muốn kết tội Đức Chúa Giê-su, mỗi khi Ngài chữa lành bệnh trong ngày Sa-bát. Đức Chúa Giê-su không bao giờ né tránh việc đối đầu với họ. Ngài đặt ra sự tương phản rõ ràng giữa việc làm điều lành và làm điều ác, nhấn mạnh đến việc cứu người hay giết người. Câu đáp trả dành cho lời chất vấn đối với Ngài là rất rõ ràng: Làm điều lành và cứu người luôn chính đáng hơn nhiều so với các hoạt động thông thường khác trong ngày Sa-bát.

Đức Chúa Giê-su tiến hành việc chữa trị cho người bệnh, điều này khiến những kẻ chống đối Ngài tức giận và họ lập tức lên kế hoạch để trừ khử Ngài. Điều trớ trêu của câu chuyện là chính những kẻ tìm cách bắt Đức Chúa Giê-su khi cáo buộc Ngài vi phạm ngày Sa-bát, lại trắng trợn vi phạm ngày Sa-bát khi âm mưu giết hại Ngài ngay trong ngày đó.

Từ những câu chuyện trên, bạn có thể rút ra những nguyên tắc nào trong việc giữ ngày Sa-bát và những thách thức mà chúng ta gặp phải trong việc giữ ngày Sa-bát vào thời buổi hiện tại?

Thứ Tư Câu Chuyện Dạng Bánh Mì Kẹp: Phần 1

Đọc Mác 3:20-35. Bạn nhận thấy mối liên hệ nào giữa hai câu chuyện đan xen nhau trong phân đoạn Kinh Thánh này?

Phân đoạn Kinh Thánh này là “câu chuyện dạng bánh mì kẹp” đầu tiên trong sách Mác, được viết theo phong cách câu chuyện đầu tiên được tường thuật, rồi bị gián đoạn bởi một câu chuyện khác, sau đó quay lại câu chuyện đầu tiên và đi đến hồi kết.

Câu chuyện khơi mào ở vòng ngoài, thuật lại việc những người thân thiết của Đức Chúa Giê-su tìm đến chăm sóc Ngài vì họ cho rằng Ngài đã mất trí (Mác 3:21). Vào vòng trong là một câu chuyện xem ra nghiêm trọng hơn khi thuật lại việc các thầy thông giáo ở Giê-ru-sa-lem buộc tội Đức Chúa Giê-su cấu kết với ma quỷ. (Bài học hôm nay tập trung vào câu chuyện vòng trong, được ghi lại trong Mác 3:22-30).

Trong Mác 3:22, các thầy thông giáo cáo buộc rằng quyền năng chữa lành của Đức Chúa Giê-su đến từ ma quỷ. Trước tiên Đức Chúa Giê-su đáp lại bằng một câu hỏi đề cập trực tiếp vào vấn đề: “Sao quỷ Sa-tan đuổi được quỷ Sa-tan?”. Thật vô lý hết sức khi cho rằng quỷ Sa-tan tự chống lại chính mình. Đức Chúa Giê-su tiếp tục bàn luận đến sự chia rẽ trong một vương quốc, trong một gia đình và trong chính nội bộ của Sa-tan. Chúa Giê- su nhấn mạnh đến hậu quả tai hại của sự chia rẽ và thật vô lý khi nó có thể mang lại sự thành công. Đột nhiên Đức Chúa Giê-su lật ngược tình thế khi nói về việc xâm nhập vào nhà một kẻ có sức mạnh, khống chế và cướp lấy những gì hắn có. Trong ví dụ cuối cùng này, Đức Chúa Giê-su ví mình như tên trộm xông vào nhà của Sa-tan, trói buộc chúa tể của bóng tối để giải cứu những người bị hắn giam cầm.

Đọc Mác 3:28-30. Tội chẳng hề được tha thứ là tội gì, và điều đó có nghĩa là gì?

Tội không thể tha thứ được, là tội chống lại Đức Thánh Linh, cho rằng công việc của Đức Thánh Linh là công việc của ma quỷ. Hãy chú ý đến lý do tại sao Đức Chúa Giê-su lại tuyên bố những lời lẽ nghiêm khắc trong Mác 3:28,29, chính vì các thầy thông giáo nói rằng “Người bị tà ma ám” (Mác 3:30), trong khi trên thực tế, Đức Chúa Giê-su tràn đầy Đức Thánh Linh. Nếu bạn gọi công việc của Đức Thánh Linh là công việc của ma quỷ thì bạn sẽ không bao giờ lắng nghe Đức Thánh Linh, bởi vì không một ai có tâm trí đúng đắn lại muốn nghe theo lời hướng dẫn của ma quỷ.

Tại sao khi mang nỗi sợ hãi rằng bạn có thể đã phạm phải “tội chẳng hề được tha”, lại chứng tỏ rằng bạn chưa phạm tội đó? Tại sao chính nỗi sợ hãi, lại là bằng chứng cho thấy bạn chưa hề phạm phải?

Thứ Năm Câu Chuyện Dạng Bánh Mì Kẹp: Phần 2

Đọc Mác 3:20,21. Trải nghiệm nào đã khiến gia đình của Đức Chúa Giê-su cho rằng Ngài mất trí?

Mang phải bệnh lý tâm thần bất ổn là một vấn đề khá nghiêm trọng. Thông thường thì điều này xuất phát từ những trải nghiệm khi một người trở thành mối đe dọa cho sự an toàn của chính họ và người khác. Gia đình của Đức Chúa Giê-su có cảm nhận như vậy về Ngài, bởi vì Ngài quá bận rộn đến nỗi không chịu dừng công việc để dành thời gian cho việc ăn uống. Họ bắt đầu nghĩ rằng mình phải có trách nhiệm về những việc làm của Ngài, và đó chính là lúc phần ngoài của câu chuyện dạng bánh mì kẹp bị gián đoạn, nó bị ngắt ngang bởi mẫu chuyện bên trong, nói về việc các thầy thông giáo cáo buộc Đức Chúa Giê-su cấu kết với ma quỷ.

Có một mối tương quan kỳ lạ giữa mẫu chuyện phần ngoài và mẫu chuyện phần trong của câu chuyện dạng bánh mì kẹp này. Dường như chính gia đình của Đức Chúa Giê-su cũng có nhận định về Ngài tương tự như các thầy thông giáo. Những người thân của Ngài nói rằng Ngài bị điên, trong khi các thầy thông giáo cho rằng Ngài bị quỷ ám và liên kết với ma quỷ.

Đọc Mác 3:31-35. Gia đình Đức Chúa Giê-su mong muốn điều gì và Ngài đáp ứng lại như thế nào?

Cảnh tượng này có vẻ kỳ lạ. Nếu mẹ bạn hoặc một người thân nào đó trong gia đình đến thăm bạn, bạn có tránh né họ không? Vấn đề ở đây là lúc bấy giờ, gia đình Đức Chúa Giê-su không hòa hợp với ý muốn của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Giê-su đã nhận ra sự thật đó và trong phân đoạn Kinh Thánh này, một lần nữa, Ngài xác định ý nghĩa sâu rộng của gia đình. Tất cả những ai làm theo ý muốn Đức Chúa Trời đều là anh em, chị em và là mẹ của Ngài. Ngài là Con Đức Chúa Trời, và hết thảy những ai vâng theo ý muốn Đức Chúa Trời sẽ trở thành gia đình Ngài.

Hai mẫu chuyện này, trong câu chuyện theo dạng bánh mì kẹp của Mác, cùng chứa đựng một sự mỉa mai thật sâu sắc. Ở mẫu chuyện phần trong, Đức Chúa Giê-su nói rằng nếu một gia đình tự chia rẽ thì không thể nào đứng vững được. Thoạt nhìn, có vẻ như ở mẫu chuyện phần ngoài, chính gia đình của Đức Chúa Giê-su đang có sự chia rẽ trầm trọng! Nhưng Đức Chúa Giê-su đã giải quyết bài toán khó này bằng cách xác định lại ý nghĩa sâu rộng của từ gia đình. Gia đình thực sự của Ngài chính là những ai cùng Ngài làm theo ý muốn Đức Chúa Trời (xem thêm Lu-ca 12:53; Lu-ca 14:26).

Trong suốt chiều dài lịch sử của Cơ-đốc giáo, nhiều lần con cái Chúa nhận thấy mình bị xa lánh, ghẻ lạnh bởi chính những người thân của mình. Đó là một trải nghiệm thật đau lòng và hết sức khó khăn. Phân đoạn của Mác, bày tỏ tình cảnh của Đức Chúa Giê-su khi nếm trải những rắc rối tương tự như vậy. Ngài thấu hiểu cảm giác đó như thế nào để có thể chia sẻ sự đồng cảm và an ủi những ai thường xuyên đối diện với sự cô lập đau lòng này.

Thứ Sáu Nghiên Cứu Bổ Túc

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC

Đọc Ellen G. White, “Lê-vi – Ma-thi-ơ” trang 272 – 280; và “Ngày Sa-bát” trang 281 – 289, trong ấn phẩm Nguyện Ước Thời Đại.

“Khi được hỏi rằng: ‘Trong ngày Sa-bát có phép chữa kẻ bịnh hay không?’, Đức Chúa Giê-su đã trả lời: ‘Ai trong vòng các ngươi có một con chiên, nếu đương ngày Sa-bát, bị té xuống hầm, thì há không kéo nó lên sao? Huống chi người ta trọng hơn con chiên là dường nào! Vậy, trong ngày Sa-bát có phép làm việc lành’ (Ma-thi-ơ 12:10-12).

“Những kẻ theo dõi nhằm kiếm cớ bắt bẻ Đức Chúa Giê-su, không dám trả lời Ngài trước mặt đoàn dân đông vì lo sợ chính họ sẽ vướng vào rắc rối. Họ biết chắc rằng Ngài đã nói lên sự thật. Thay vì vi phạm những truyền thống của mình, họ thà để một người chịu đau đớn, trong khi sẵn sàng cứu giúp một con vật để không bị thất thoát tài sản của mình. Như vậy, người ta dành sự quan tâm cho một con vật hơn hẳn cho một con người, là kẻ đã được dựng nên theo hình tượng Đức Chúa Trời. Điều này tự nó nói lên việc làm của các tôn giáo giả hình. Chúng bắt nguồn từ khao khát của loài người muốn tôn mình lên cao hơn Đức Chúa Trời, nhưng ngược lại, chúng lại khiến con người bị hạ thấp xuống dưới cả thú vật. Mọi tôn giáo gây chiến chống lại quyền năng tối thượng của Đức Chúa Trời, đều tước đoạt vinh quang vốn có của con người khi họ được Chúa tạo dựng, và vinh quang này sẽ được phục hồi cho họ trong Đấng Cơ-đốc. Mọi tôn giáo giả tạo đều dạy dỗ các tín đồ của mình không cần phải quan tâm đến những nhu cầu, nỗi bất hạnh và quyền lợi của người khác. Phúc Âm đánh giá rất cao giá trị của con người, khi cứu chuộc nhân loại bằng huyết báu của Đấng Cơ-đốc và dạy về sự quan tâm, mở lòng đối với những nhu cầu thiết yếu và nỗi thống khổ của người khác. Đức Giê-hô-va phán rằng: ‘Ta sẽ làm cho loài người hiếm có hơn vàng quí, thật ta sẽ làm cho loài người hiếm có hơn vàng ròng xứ Ô-phia’ (Ê-sai 13:12)”, Ellen G. White, Nguyện Ước Thời Đại, trang 286, 287.

Câu hỏi thảo luận:

Những kế hoạch hay hoạt động thực tiễn nào giúp bạn và Hội Thánh của mình nhạy bén trong việc cảm nhận được nỗi thống khổ âm thầm của người khác, như trường hợp người bại trong Mác 2?

Các nhà lãnh đạo tôn giáo – những người đã chối bỏ Đức Chúa Giê-su – ôm ấp hận thù, bảo thủ với truyền thống lầm lạc, cố chấp với giáo điều và tôn giáo giả hình. Họ mù quáng đến nỗi ngay cả khi chứng kiến những phép lạ đầy quyền năng của Đức Chúa Giê-su, tâm trí của họ vẫn không được khai mở. Hãy suy gẫm và phân tích về sự mù quáng của họ. Là một con cái Chúa, làm thế nào để điều tương tự không xảy ra với chính chúng ta?

Làm thế nào để Hội Thánh của bạn có thể trở thành một “gia đình” cho những người đã bị chính gia đình trực hệ của họ chối bỏ chỉ vì đức tin của mình?

Hãy tập trung nhiều hơn vào vấn đề “tội chẳng hề được tha”. Trong lớp học, hãy thảo luận về ý nghĩa của nó và làm thế nào để chúng ta có thể chắc chắn rằng mình không phạm phải tội ấy.