Một ngày trong chức vụ của Đức Chúa Giê-su
Kinh Thánh Nghiên Cứu: Mác 1:16–45, Giăng 1:29–42, Mác 5:41, Lu-ca 6:12, Lê-vi Ký 13
"Đức Chúa Giê-su bèn phán cùng họ rằng: Hãy theo ta, và ta sẽ khiến các ngươi trở nên tay đánh lưới người" — Mác 1:17
Sa-bát Một Ngày Trong Chức Vụ Của Đức Chúa Giê-su
Câu gốc
“Đức Chúa Giê-su bèn phán cùng họ rằng: Hãy theo ta, và ta sẽ khiến các ngươi trở nên tay đánh lưới người” (Mác 1:17).
Kinh Thánh nghiên cứu
Mác 1:16–45, Giăng 1:29–42, Mác 5:41, Lu-ca 6:12, Lê-vi Ký 13.
Mỗi sách Phúc Âm đều giới thiệu sự khởi đầu chức vụ của Đức Chúa Giê-su theo cách riêng.
Ma-thi-ơ trình bày Đức Chúa Giê-su kêu gọi các môn đồ và sau đó là Bài giảng Trên núi.
Lu-ca kể câu chuyện về bài giảng của Đức Chúa Giê-su vào ngày Sa-bát trong nhà hội tại Na-xa-rét.
Giăng tường thuật về sự kêu gọi vài sứ đồ đầu tiên và tiệc cưới tại Ca-na, nơi Đức Chúa Giê-su thực hiện phép lạ đầu tiên.
Phúc Âm Mác kể về sự kêu gọi bốn môn đồ và mô tả ngày Sa-bát ở Ca-bê-na-um và những gì diễn ra sau đó.
Ngay phần đầu của sách Mác đã nói: “Ngày Sa-bát với Đức Chúa Giê-su”, cho người đọc cảm nhận Đức Chúa Giê-su là ai. Toàn bộ phần bài học tuần này có rất ít lời của Chúa được ghi lại: Lời kêu gọi các môn đồ cách ngắn gọn, mệnh lệnh đuổi quỷ, kế hoạch thăm viếng những nơi khác và việc chữa lành người phung với lời chỉ dẫn người ấy đi trình diện trước thầy tế lễ là ông đã được sạch. Điều muốn nhấn mạnh chính là hành động, đặc biệt là việc chữa bệnh. Người viết Phúc Âm thích dùng từ “tức thì,” để minh họa về động tác nhanh chóng trong hành động khi Đức Chúa Giê-su thi hành chức vụ.
*Nghiên cứu bài học tuần này để chuẩn bị cho Sa-bát ngày 13 tháng 7.
Thứ Nhất “Hãy Theo Ta”
Đọc Mác 1:16–20. Những người được Đức Chúa Giê-su kêu gọi làm môn đồ là ai và họ phản ứng như thế nào?
Mác đoạn 1 không ghi lại nhiều lời phán của Đức Chúa Giê-su. Tuy nhiên, Mác 1:17 ghi lại lời của Ngài phán với hai người đánh cá, Si-môn, sau này được gọi là “Phi-e-rơ,” và em trai của ông, Anh-rê. Hai người này đang đứng thả lưới trên bờ biển Ga-li-lê.
Không đề cập đến thuyền hay những dụng cụ đánh cá khác, điều này có thể cho thấy hai người này không khá giả về mặt tài chánh. Trong Mác 1:19,20, Gia-cơ và Giăng đang ở trong thuyền với cha của họ và mấy người làm thuê, điều này cho thấy họ khá giả hơn Phi-e-rơ và Anh-rê. Nhưng Lu-ca cho biết Phi-e-rơ có một chiếc thuyền, và thực tế thì, Gia-cơ và Giăng là bạn đồng hành với Phi-e-rơ và Anh-rê (xem Lu-ca 5:1-11). Nhưng trong Phúc Âm của Mác có thể trình bày sự tương phản giữa hai cặp anh em này, để bày tỏ sự khác biệt đó, Đức Chúa Giê-su đã kêu gọi cả hai cặp anh em này làm môn đồ Ngài, dầu họ có ít tài sản hơn hay có nhiều tài sản hơn, Ngài không phân biệt.
Sự kêu gọi của Đức Chúa Giê-su dành cho những người đàn ông này là sự kêu gọi đơn giản, trực tiếp và mang tính tiên tri. Ngài gọi họ theo Ngài; đó là, trở thành môn đồ của Ngài. Ngài cho thấy rằng, nếu họ đáp lại lời kêu gọi của Ngài, thì Ngài sẽ khiến họ trở nên tay đánh lưới người.
Suy nghĩ tại sao những người này, lập tức rời bỏ mọi thứ và đi theo Đức Chúa Giê-su (Mác 1:16-20).
Phúc Âm Giăng làm cho bức tranh được trọn vẹn hơn (Giăng 1:29-42). Sách Giăng cho thấy rằng những cặp anh em này là môn đồ của Giăng Báp-tít và nghe ông tuyên bố Đức Chúa Giê-su là: “Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi” (Giăng 1:29). Họ đã gặp Đức Chúa Giê-su và dành thời gian với Ngài gần sông Giô-đanh. Vì vậy, việc họ chấp nhận lời kêu gọi của Đức Chúa Giê-su để theo Ngài không phải để cho vui hay vì bốc đồng. Nhưng họ đã suy nghĩ cẩn thận về điều này.
Nhưng tại sao Mác không đưa thêm nhiều chi tiết hơn? Có thể, ông muốn nhấn mạnh về quyền năng của Đức Chúa Giê-su. Sự kêu gọi của Chúa, sự đáp lời của những ngư dân thiện chí, cuộc sống của họ, và thế giới của họ không bao giờ giống nhau.
Bạn được kêu gọi từ bỏ điều gì để theo Đức Chúa Giê-su? (Hãy nghĩ về những sự liên quan trong câu trả lời của bạn, đặc biệt là khi bạn không thể nghĩ về bất cứ điều gì!)
Thứ Hai Buổi Thờ Phượng Khó Quên
Đọc Mác 1:21–28. Kinh nghiệm khó quên nào đã xảy ra tại nhà hội ở Ca-bê-na-um và chúng ta có thể rút ra những lẽ thật thiêng liêng nào từ câu chuyện này?
Hầu hết các Cơ-đốc nhân đều có những khoảnh khắc khó quên trên con đường bước đi với Chúa, quyết định đi theo Đức Chúa Giê-su; ngày báp-têm của họ, một bài giảng đầy quyền năng khiến họ cảm nhận cách sâu sắc về sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Những khoảnh khắc này có thể không chỉ khó quên mà còn thay đổi đời sống của họ.
Vì thế, điều đó có thể xảy ra cho một số người ở Ca-bê-na-um trong ngày Sa-bát được mô tả trong Mác 1. “Chúng đều cảm động về sự dạy dỗ của Ngài, vì Ngài dạy như có quyền phép, chớ chẳng phải như các thầy thông giáo đâu” (Mác 1:22). Khi Đức Chúa Giê-su đang dạy, một người đàn ông bị quỷ ám, chắc chắn được tác động bởi lời dạy dỗ của Chúa, đã la lên: “Hỡi Giê-su, người Na-xa-rét, chúng tôi với Ngài có sự gì chăng? Ngài đến để diệt chúng tôi sao? Tôi biết Ngài là ai: là Đấng Thánh của Đức Chúa Trời” (Mác 1:24) và Đức Chúa Giê-su đã đuổi quỷ ra khỏi người ấy.
Hãy nghĩ đến hàm ý của những lời này từ ma quỷ.
Trước tiên, ma quỷ nhận ra Đức Chúa Giê-su là: “Đấng Thánh của Đức Chúa Trời”. Nó biết Đức Chúa Giê-su là sứ giả thánh của Đức Chúa Trời, tương phản với đạo quân xấu xa, ô uế của Sa-tan. Con người mong muốn những cá nhân thờ phượng những điều thiêng liêng, không phải những điều bất khiết và xấu xa. Do đó, trong câu chuyện này, có sự tương phản rõ ràng giữa quyền lực của điều thiện và điều ác. Tại đây chúng ta có thể thấy được thực tế của cuộc chiến khốc liệt. Có thể người ta không biết Đức Chúa Giê-su là ai, nhưng chắc chắn ma quỷ biết và công khai thừa nhận điều đó.
Kế tiếp, chúng ta có thể hiểu mệnh lệnh đuổi quỷ ra khỏi người đàn ông, nhưng tại sao Chúa ra lệnh: “Hãy nín đi”? Ở đây, Mác bắt đầu một chủ đề đáng chú ý: Đức Chúa Giê-su bảo: “Hãy nín đi,” điều đó cho biết Ngài là ai. Các nhà nghiên cứu gọi đây là “Bí Mật của Đấng Mê-si”.
Việc Đức Chúa Giê-su bảo “Hãy nín đi,” mang ý nghĩa quan trọng, vì trong thời của Ngài, người ta mong chờ một Đấng Mê-si thuộc về chính trị. Điều đó rất nguy hiểm để trở thành một Đấng Mê-si. Tuy nhiên, xen lẫn với lời phán bảo “Hãy nín đi” là sự bày tỏ không thể nhầm lẫn Đức Chúa Giê-su là ai. Theo thời gian, sự việc trở nên rõ ràng, đó là danh tính của Đức Chúa Giê-su không thể bị che giấu, và sự thật Ngài là ai sẽ trở thành trung tâm của sứ điệp Phúc Âm. Mọi người không những cần biết Đức Chúa Giê-su là ai, mà còn phải quyết định cách họ sẽ đáp lại việc Ngài đã đến và điều đó có ý nghĩa gì đối với họ.
Trong việc tìm cách làm chứng cho người khác, khi nào thì phải thận trọng, không trình bày tất cả mọi điều chúng ta tin có liên quan đến “lẽ thật hiện tại”?
Thứ Ba Thêm Mục Vụ Trong Ngày Sa-bát
Đọc Mác 1:29–34. Đức Chúa Giê-su đã giúp cho gia đình Phi-e-rơ như thế nào và chúng ta có thể rút ra những bài học tâm linh nào trong câu chuyện này?
Sau buổi thờ phượng tuyệt vời tại nhà hội, Đức Chúa Giê-su cùng nhóm nhỏ môn đồ (Phi-e-rơ, Anh-rê, Gia-cơ và Giăng) đến nhà Phi-e-rơ, chắc chắn là dành thời gian còn lại của ngày Sa-bát trong tình thân ái và cùng dự một bữa ăn thân mật.
Nhưng một chuyện đáng lo ngại đã xảy ra: Mẹ vợ của Phi-e-rơ bị bệnh và sốt, điều đó có nghĩa là hoặc khỏi bệnh hoặc là chết. Họ thưa với Đức Chúa Giê-su về bệnh tình của bà, Ngài cầm tay bà và nâng bà dậy. Ngay lập tức bà khỏe mạnh và liền phục vụ Chúa cùng mọi người. Những người được Đức Chúa Giê-su cứu và chữa bệnh, cho chúng ta một tấm gương tuyệt vời về nguyên tắc phục vụ người khác ngay khi nhận được ơn phước.
Xuyên suốt sách Mác, chúng ta thường thấy Đức Chúa Giê-su chữa bệnh bằng cách chạm vào người bệnh (Mác 1:41; Mác 5:41), mặc dầu có những lần khác không đề cập đến việc chạm đến người bệnh (Mác 1:1-12, Mác 3:1-6, Mác 5:7-13).
Ngày hôm đó Đức Chúa Giê-su vẫn chưa hoàn thành công việc của mình. Sau khi mặt trời lặn, nhiều người đã đến nhà Phi-e-rơ để được chữa bệnh, chắc chắn là từ khi họ chứng kiến những gì đã xảy ra tại nhà hội trong ngày hôm đó, hoặc được nghe về những điều đó. Việc người viết Phúc Âm không nói với độc giả của mình rằng người ta trì hoãn mãi đến khi mặt trời lặn, vì ngày Sa-bát vẫn còn, điều đó cho thấy ông mong độc giả biết về ngày Sa-bát. Đặc điểm này của Mác chứng tỏ độc giả của ông là những người giữ ngày Sa-bát.
Mác nói cả thành nhóm lại trước cửa chiều hôm đó (Mác 1:33). Đức Chúa Giê-su phải mất nhiều thời gian để chữa cho tất cả mọi người.
“Từ sáng đến chiều tối, họ đến rồi đi; vì họ không biết liệu ngày mai Đấng Chữa bệnh có còn ở đó nữa không. Thành Ca-bê-na-um chưa bao giờ chứng kiến một ngày giống như vậy. Không khí tràn ngập tiếng hò reo chiến thắng và tiếng vui mừng vì được giải thoát. Đấng Cứu Rỗi đã vui mừng trong niềm vui mà Ngài đã khơi dậy. Khi Ngài chứng kiến nỗi đau khổ mà những người đã đến với Ngài, tấm lòng của Ngài đã rung động vì thương cảm, và Ngài đã vui mừng trước quyền năng phục hồi sức khỏe và mang lại hạnh phúc cho họ.
“Ngài không nghỉ khi vẫn còn người bệnh. Mãi đến tận khuya, khi đám đông rời khỏi, và sự tĩnh lặng bao phủ ngôi nhà của Si-môn. Một ngày dài thú vị trôi qua, và Đức Chúa Giê-su nghỉ ngơi. Nhưng khi thành phố vẫn còn chìm trong giấc ngủ, là lúc “trời còn mờ mờ” thì Đấng Cứu Thế “chờ dậy, bước ra, đi vào nơi vắng vẻ và cầu nguyện tại đó.”, Ellen G. White, Nguyện ước thời đại, trang 259.
Thứ Tư Bí Mật Trong Chức Vụ Của Đức Chúa Giê-su
Đọc Mác 1:35–39. Chúng ta có thể rút ra những bài học quan trọng nào từ những gì Đức Chúa Giê-su đã làm ở đây?
Đức Chúa Giê-su thức dậy trước khi mặt trời mọc, lặng lẽ bước ra và đi vào trong đồng vắng để cầu nguyện. Mác 1:35 nhấn mạnh việc cầu nguyện là trọng tâm hoạt động của Đức Chúa Giê-su. Tất cả những động từ khác trong câu đều ở dạng tóm tắt—Ngài chờ dậy, bước ra, đi vào nơi vắng vẻ (tất cả đều ở thì bất định của ngôn ngữ Hy Lạp, biểu thị sự hoàn thành). Nhưng động từ “cầu nguyện” thì ở trong thì chưa hoàn thành, một hình thức được sử dụng đặc biệt ở đây để bày tỏ tiến trình vẫn còn tiếp diễn: Ngài đang cầu nguyện, Ngài vẫn còn tiếp tục cầu nguyện. Câu Kinh Thánh này cũng nhấn mạnh Đức Chúa Giê-su đi ra ngoài trời còn rất sớm, ngụ ý rằng thời gian cầu nguyện cá nhân của Ngài rất lâu.
Xuyên suốt các sách Phúc Âm, chúng ta thường thấy Đức Chúa Giê-su là con người của cầu nguyện (Ma-thi-ơ 14:23, Mác 6:46, Giăng 17). Điều này cho thấy, đây là một trong những bí mật then chốt trong quyền năng của chức vụ của Đức Chúa Giê-su.
Đọc Lu-ca 6:12. Câu Kinh Thánh này dạy gì về đời sống cầu nguyện của Đức Chúa Giê-su?
Nhiều Cơ-đốc nhân đã ấn định thời gian cầu nguyện. Công việc này là tốt và đúng, nhưng việc cầu nguyện như vậy có thể trở thành thói quen, và những lời cầu nguyện có thể trở thành sáo rỗng. Một cách để thoát khỏi khuôn mẫu cố định là thỉnh thoảng thay đổi thời gian cầu nguyện hoặc cầu nguyện lâu hơn bình thường. Vấn đề không phải là bạn cứ phải tuân theo một loại công thức nào đó mà không thể không thay đổi.
Phi-e-rơ và những người bạn đồng hành đã không đi cùng Đức Chúa Giê-su đến nơi cầu nguyện. Có lẽ họ biết địa điểm, vì họ đã tìm gặp Ngài. Câu nói của họ là mọi người đang tìm kiếm Đức Chúa Giê-su, gợi ý rằng, Ngài nên tiếp tục kinh nghiệm tuyệt vời của ngày hôm trước đó là chữa bệnh và dạy dỗ nhiều hơn. Nhưng thật ngạc nhiên, Đức Chúa Giê-su đã từ chối và cho biết một lĩnh vực phục vụ rộng lớn hơn ở những nơi khác. “Ngài phán: Chúng ta hãy đi nơi khác, trong những làng xung quanh đây, để ta cũng giảng đạo ở đó nữa; vì ấy là cốt tại việc đó mà ta đã đến” (Mác 1:38).
Nếu chính Đức Chúa Giê-su cần phải dành nhiều thời gian để cầu nguyện, vậy còn chúng ta thì sao, chúng ta nên dành bao nhiêu thời gian để cầu nguyện? Tấm gương của Đức Chúa Giê-su nói gì với chúng ta?
Thứ Năm “Đừng Tỏ Cùng Ai!”
Đọc Mác 1:40–45. Câu chuyện này dạy chúng ta điều gì về Đức Chúa Giê-su và cách Ngài đã giao tiếp với những người bị gạt ra khỏi vòng xã hội?
Bệnh phung được mô tả trong phân đoạn Kinh Thánh này, cũng như xuyên suốt Cựu Ước, không chỉ nói đến căn bệnh mà ngày nay chúng ta gọi là bệnh phong cùi (Hansen). Từ dùng trong Kinh Thánh nên được dịch sát nghĩa hơn là “bệnh da đáng sợ” và cũng có thể bao gồm cả những bệnh biểu bì khác. Bệnh phong cùi có thể đã xuất hiện ở vùng Cận Đông cổ đại vào thế kỷ thứ ba TCN (xem David P. Wright và Richard N. Jones, “Leprosy,” The Anchor Bible Dictionary, tập 4 [New York: Doubleday, 1992], trang 277–282). Do đó, người phung được đề cập trong câu chuyện này có thể là mắc bệnh Hansen, mặc dầu chúng ta không biết chính xác người đàn ông này mắc bệnh phung như thế nào, chỉ biết rằng nó rất nặng.
Người phung tin rằng, Đức Chúa Giê-su sẽ chữa lành bệnh của ông. Theo Lê-vi Ký 13, người phung bị cho là ô uế và phải tránh xa người khác (xem Lê-vi Ký 13:45,46).
Tuy nhiên, Đức Chúa Giê-su đã thương xót người đàn ông này và chạm tay vào ông ta. “Đức Chúa Giê-su động lòng thương xót, giơ tay rờ người, mà phán rằng: Ta khứng, hãy sạch đi” (Mác 1:41). Hành động này lẽ ra sẽ làm Đức Chúa Giê-su bị ô uế đến chiều tối, và Ngài cần phải tắm để trở nên tinh sạch theo nghi lễ (so sánh Lê-vi Ký 13 – 15). Nhưng Mác nói rõ rằng, hành động chạm vào người bệnh của Đức Chúa Giê-su, khiến ông được sạch bệnh phung. Vì vậy, Đức Chúa Giê-su không bị ô uế khi chạm vào người này.
Đức Chúa Giê-su bảo người bệnh đi gặp thầy tế lễ, và hãy dâng của lễ theo như Môi-se đã phán dạy như trong các trường hợp trong Lê-vi Ký 14. Xuyên suốt Phúc Âm Mác, Đức Chúa Giê-su như người bảo vệ và ủng hộ những gì Môi-se đã dạy (xem Mác 7:10; Mác 10:3,4; Mác 12:26,29–31). Quan điểm này hoàn toàn trái ngược với các nhà lãnh đạo tôn giáo, những người trong Mác 7, 10, và 12 đang phá vỡ mục đích ban đầu của những lời dạy dỗ được truyền qua Môi-se. Những chi tiết này giải thích tại sao Đức Chúa Giê-su bảo người phung đừng nói điều đó cùng ai, trong Mác 1:44. Nếu ông ấy kể việc mình được Đức Chúa Giê-su chữa bệnh, có thể sẽ có những quyết định thiên vị của thầy tế lễ vì những thành kiến đối với Chúa.
Nhưng người phung đã được sạch dường như không hiểu điều này, và không vâng theo mệnh lệnh của Đức Chúa Giê-su, ông rao truyền tin này khắp nơi, khiến Đức Chúa Giê-su khó có thể đi vào thành một cách công khai để thi hành chức vụ của Ngài.
Chúng ta phải cẩn thận như thế nào, để không làm những điều có thể cản trở công việc truyền bá Phúc Âm, cho dầu ý định của chúng ta tốt đến đâu?
Thứ Sáu Nghiên Cứu Bổ Túc
NGHIÊN CỨU BỔ TÚC
Đọc Ellen G. White, tại “Ca-bê-na-um” và “Ngài Có Thể Khiến Tôi Được Sạch”, quyển Nguyện Ước Thời Đại, trang 252-266.
Mác trình bày hình ảnh nào về Đức Chúa Giê-su? Đức Chúa Giê-su có quyền kêu gọi các môn đồ, và họ đã đáp lại. Ngài là thánh khiết ngược lại với những tà linh ô uế dưới quyền của Sa-tan. Một cuộc chiến lớn đang diễn ra giữa thiện và ác, Đức Chúa Giê-su có quyền năng nhiều hơn cả ma quỷ. Đức Chúa Giê-su đã thương xót những người bệnh và đã giúp họ, chạm đến họ là điều mà có lẽ không ai khác có thể làm.
“Đức Chúa Giê-su trong nhà hội nói về vương quốc mà Ngài đã đến để thiết lập và về sứ mạng của Ngài để giải thoát những kẻ bị giam cầm của Sa-tan. Một tiếng la hét kinh hoàng đã làm Chúa bị gián đoạn. Một người điên từ giữa đám đông lao vào la lên: “Hãy để chúng tôi yên; Hỡi Giê-su, người Na-xa-rét, chúng tôi với Ngài có sự gì chăng? Có phải Ngài đến để hủy diệt chúng tôi không? Tôi biết Ngài là ai, là Đấng Thánh của Đức Chúa Trời.
“Mọi việc trở nên lộn xộn và náo động. Mọi người không còn tập trung và Đấng Cơ-đốc, và không để ý đến lời của Ngài nữa. Đây là chủ ý của Sa-tan đưa nạn nhân của hắn đến nhà hội. Nhưng Đức Chúa Giê-su đã khiển trách ma quỷ, Ngài phán: ‘Hãy nín đi, ra khỏi người này! Tà ma bèn vật mạnh người ấy, nó ra khỏi anh ta, nhưng không làm hại anh ta’… Ngài là Đấng đã chiến thắng Sa-tan khi bị cám dỗ trong đồng vắng, một lần nữa đã phải đối mặt với kẻ thù của Ngài. Tà ma tận dụng hết sức mạnh của mình để giữ quyền kiểm soát nạn nhân. Một khi đánh mất vị trí của mình ở đây, có nghĩa là ma quỷ trao cho Đức Chúa Giê-su quyền chiến thắng… Nhưng Đấng Cứu Thế đã tuyên phán với đầy thẩm quyền, và giải thoát cho kẻ bị giam cầm.”, Ellen G. White, Nguyện Ước Thời Đại, trang 255, 256.
Trong khi Chúa của chúng ta bận rộn với chức vụ, đi từ nơi này đến nơi kia, hầu như thường xuyên tiếp xúc với nhiều người. Làm thế nào Ngài giữ được bình tĩnh trong việc tiếp cận với mọi người và kiên định trong chức vụ? Chắc chắn là qua kinh nghiệm cầu nguyện mỗi ngày của Ngài.
Hãy nghĩ về thời gian biểu khả thi cho bạn để có thể dành thời gian cầu nguyện và học Kinh Thánh. Hãy tìm những gì phù hợp với bạn và chọn thời gian để phát triển tâm linh dưới sự dẫn dắt của Thánh Linh và Lời của Đức Chúa Trời.
Câu hỏi thảo luận:
Thảo luận trong lớp về vấn đề cầu nguyện và tại sao cầu nguyện rất quan trọng trong đời sống Cơ-đốc nhân. Một số câu hỏi nào mà mọi người thường đưa ra về mục đích và hiệu quả của việc cầu nguyện?
Trong lớp, thảo luận về những trường hợp nào có thể là tốt nhất, tại thời điểm nào đó, đừng nói quá nhiều về đức tin của chúng ta. Khi nào, thì điều đó có thể là điều khôn ngoan cần làm, tuy nhiên, chúng ta làm như thế nào để không ảnh hưởng đến việc làm chứng của chúng ta?
Ngày nay, trong nền văn hóa của bạn, ai là “người phung”? Làm thế nào Hội Thánh của bạn có thể tiếp cận và “chạm” đến những cá nhân này, để đem Phúc Âm đến với họ?