Bài Học 12 · 14 – 20 Tháng 9

Chịu thương khó và bị đóng đinh

Kinh Thánh Nghiên Cứu: Mác 15, Lu-ca 13:1, Thi Thiên 22:18, Giăng 20:24–29, Giăng1:1–3, Đa-ni-ên 9:24–27

"Đến giờ thứ chín, Đức Chúa Giê-su kêu lớn tiếng rằng: Ê-lô-i, Ê-lô-i, lam-ma-sa-bách-ta-ni? nghĩa là: Đức Chúa Trời tôi ơi, Đức Chúa Trời tôi ơi, sao Ngài lìa bỏ tôi?" — Mác 15:34
Sa-bát Chịu Thương Khó Và Bị Đóng Đinh

Câu gốc

“Đến giờ thứ chín, Đức Chúa Giê-su kêu lớn tiếng rằng: Ê-lô-i, Ê-lô-i, lam-ma-sa-bách-ta-ni? nghĩa là: Đức Chúa Trời tôi ơi, Đức Chúa Trời tôi ơi, sao Ngài lìa bỏ tôi?” (Mác 15:34).

Kinh Thánh nghiên cứu

Mác 15, Lu-ca 13:1, Thi Thiên 22:18, Giăng 20:24–29, Giăng1:1–3, Đa-ni-ên 9:24–27.

Mác 15 là tâm điểm của sự thương khó mà Đấng Cơ-đốc đã trải qua. Nó tường thuật lại việc Đức Chúa Giê-su bị đem ra xét xử, bị những tên lính nhạo báng, bị kết án, bị đóng đinh, và rồi Ngài đã chết và được chôn cất. Trong đoạn này, các sự kiện được trình bày một cách rõ ràng và chi tiết; vì có thể tác giả mong muốn mọi sự thật tự phô bày ra.

Xuyên suốt đoạn Kinh Thánh bày tỏ vai trò quan trọng của sự nhạo báng. Bởi điều này, chúng ta có được một định nghĩa rõ ràng về sự nhạo báng. Sự nhạo báng thường có ba phần: (1) Có hai hàm ý, (2) hai ý này xung đột hay tương phản với nhau và (3) một số người không nhìn thấy sự nhạo báng, sẽ không nhận ra điều gì đang xảy ra và họ không biết rằng họ sẽ là người phải gánh chịu hậu quả.

Từ câu hỏi của Phi- lát: “Ấy chính ngươi là vua dân Giu-đa phải không?”, đến những lời cười nhạo của bọn lính viết lên bảng treo trên thập giá đến những mỉa mai của các thầy tế lễ và các thầy thông giáo: “Hắn đã cứu kẻ khác; mà cứu mình không được!” cho đến sự xuất hiện bất ngờ của Giô- sép người A-ri-ma-thê, đoạn này toàn những điều trớ trêu và đau lòng; nhưng chúng đã tiết lộ lẽ thật đầy quyền năng và ý nghĩa về cái chết của Đức Chúa Giê- su.

*Nghiên cứu bài học tuần này để chuẩn bị cho Sa-bát ngày 21 tháng 9.

Thứ Nhất “Ấy Chính Ngươi Là Vua Dân Giu-đa Phải Không?”

Đọc Mác 15:1–15. Những tình huống trớ trêu nào xảy ra ở đây?

Phi-lát là quan tổng đốc của Giu-đa từ năm 26–36 SCN. Ông không phải là một nhà cầm quyền tốt, vì một số hành động của ông đã gây kinh hoàng cho cư dân trong xứ (so sánh với Lu-ca 13:1). Người Do Thái xét xử Đức Chúa Giê-su án tử hình vì tội phạm thượng; nhưng dưới sự cai trị của La Mã, người Do Thái không được quyền hành quyết người khác trong bất kỳ trường hợp nào, vì vậy họ đã đưa Đức Chúa Giê-su đến Phi-lát để lãnh án.

Trước mặt Phi-lát, không có lời cáo buộc nào đối với Đức Chúa Giê-su, nhưng câu hỏi ngắn gọn mà Phi-lát đã hỏi Ngài có thể được xem là lời buộc tội: “Ấy chính ngươi là Vua dân Giu-đa phải không?” (Mác 15:2). Trong thời Cựu Ước, dân Y-sơ-ra-ên xức dầu cho các vị vua của mình; vì vậy, có thể hiểu rằng danh “Đấng Mê-si” nghĩa là “Người được xức dầu” đã bị bóp méo thành việc tôn xưng Đức Chúa Giê-su như một vị vua, ngang hàng với hoàng đế La Mã. Vì vậy, lời buộc tội đưa ra trước Tòa Công luận là tội báng bổ, trong khi lời buộc tội đưa ra trước quan tổng đốc là tội xúi giục nổi loạn, dẫn đến án tử.

Lời kết tội báng bổ và xúi giục mà họ đã gán cho Đức Chúa Giê-su là sai; bởi Ngài lẽ ra phải được tôn kính và sùng bái. Tuy vậy, Đức Chúa Giê-su vẫn hành động theo đúng phong cách của một vị vua, Ngài chỉ đáp lời Phi-lát: “Thật như lời” (Mác 15:2), mà không nói thêm điều gì. Ngài đã không khẳng định và cũng không phủ nhận danh hiệu của mình, câu trả lời này của Ngài có hàm ý: Ngài chính thực là một vị vua, nhưng Ngài thuộc vương quốc khác (so sánh với Giăng 18:33–38).

Mác 15:6 nói đến tục lệ tha tù nhân vào dịp Lễ Vượt Qua. Trong Mác 15:9, Phi-lát hỏi đám đông có muốn tha cho “Vua dân Giu-đa” không; tuy rằng, ông chỉ muốn hỏi dò ý của họ, nhưng sự thật đáng buồn thay, nó hoàn toàn đi ngược lại ý muốn của ông.

Mác 15:9,10 thuộc vấn đề nhận biết và không nhận biết. Phi-lát nhận biết các nhà lãnh đạo tôn giáo giao nộp Đức Chúa Giê-su vì lòng ghen ghét, nhưng ông không biết rằng, khi hỏi ý kiến đám đông, là lúc ông cho các nhà lãnh đạo tôn giáo cơ hội. Họ đã kích động đám đông la hét và đòi đóng đinh Đức Chúa Giê-su. Phi-lát phải nhượng bộ! Đóng đinh là một án tử khủng khiếp, đặc biệt đối với một người mà ông cho là vô tội. Thật đau đớn thay khi quan tổng đốc, là một người sắt đá nhưng muốn tha cho Đấng Mê-si, trong khi các nhà lãnh đạo tôn giáo lại muốn đóng đinh Ngài.

Điều gì có thể giúp bạn không theo đám đông, ngay cả khi gặp phải một áp lực lớn lao như trong trường hợp này?

Thứ Hai Kính Lạy Vua Dân Giu-đa!

Đọc Mác 15:15–20. Quân lính đã làm gì với Đức Chúa Giê-su, và việc đó có nghĩa là gì?

Người La Mã dùng hình phạt đánh đòn tàn nhẫn trước khi đem tù nhân ra hành quyết. Nạn nhân bị lột quần áo, trói vào cột và sau đó quân lính dùng roi da có các mảnh xương, thủy tinh, đá, đinh mà quất vào người nạn nhân.

Sau khi Đức Chúa Giê-su bị đánh đòn, bọn lính (được giao nhiệm vụ hành quyết Ngài) đã tiếp tục làm nhục Ngài, chúng mặc cho Ngài một chiếc áo choàng màu điều, đội mão gai trên đầu và tôn xưng, chế nhạo Ngài là vua dân Giu-đa. Quân lính này được gọi là cơ binh, nghĩa là có khoảng từ 200 đến 600 quân.

Người đọc thấy rõ cảnh ngộ trớ trêu này, vì Đức Chúa Giê-su chính thật là Vua và những lời chế giễu của bọn lính chính là sự rao truyền lẽ thật về Ngài. Những tên lính tôn vinh Ngài như thể chúng đang tung hô vị hoàng đế La Mã của mình: “Kính lạy, Sê-sa, Hoàng đế!”. Rõ ràng, hành động của chúng cho biết về tước vị hoàng đế của Đức Chúa Giê-su; bọn lính chế nhạo Đức Chúa Giê-su bằng cách “lấy cây sậy đánh” vào đầu Ngài, “khạc nhổ” trên Ngài và “quỳ xuống” lạy Ngài để tỏ lòng tôn kính. Cả ba hành động này, theo ngôn ngữ Hy Lạp, được diễn đạt bằng thì tiếp diễn; điều này có nghĩa là hành động của bọn lính được lặp đi lặp lại nhiều lần. Bọn chúng không ngừng đánh, khạc nhổ và quỳ lạy trước mặt Ngài. Đức Chúa Giê-su im lặng đón nhận tất cả những hành vi của chúng mà không hề có hành động đáp trả.

Theo luật hành hình của người La Mã, người bị kết án tử phải mình trần vác thập tự giá đến nơi hành quyết. Hình thức này, một lần nữa, nhằm lăng nhục và làm xấu hổ kẻ tử tù trước công chúng. Người Giu-đa lấy làm ghê tởm về việc khỏa thân trước công chúng. Mác 15:20 cho biết, khi ấy bọn lính đã cởi bỏ chiếc áo choàng màu điều và mặc lại cho Ngài quần áo của Ngài. Điều này cho thấy, dường như người La Mã, tại thời điểm và địa điểm đó, đã nhượng bộ người Giu-đa.

Hãy suy nghĩ về những điều trớ trêu ở đây: Họ cúi đầu và “tỏ lòng tôn kính” đối với Đức Chúa Giê-su như một vị Vua, tất cả hành động của họ đều mang tính nhạo báng mặc dù Đức Chúa Giê-su chính thật là Vua, không chỉ là Vua của dân Giu-đa mà Ngài còn là Vua của họ.

Những người lính này không biết họ đang làm gì. Tuy nhiên, tại sao sự thiếu hiểu biết của họ sẽ không được tha trong ngày Phán Xét?

Thứ Ba Sự Đóng Đinh

Đọc Mác 15:21–38. Sự trớ trêu, đau đớn và khủng khiếp nào xuất hiện trong đoạn này?

Trong câu chuyện Thương Khó của Đức Chúa Giê-su, tại thời điểm này Ngài là một nạn nhân câm nín, Ngài bị kiểm soát bởi những kẻ đang đợi xử tử Ngài. Từ đầu Phúc Âm cho đến khi bị bắt, Đức Chúa Giê-su làm chủ trong mọi hành động của mình, nhưng tại thời điểm này Ngài đang bị kẻ khác kiểm soát. Mặc dù Ngài là một nhà truyền giáo khỏe mạnh, đi khắp mọi nơi, nhưng khi bị đánh đập, thiếu ăn và thiếu ngủ đã khiến Ngài kiệt sức đến mức một người xa lạ phải vác thập tự giá thế cho Ngài.

Tại thập tự giá, quần áo của Ngài bị lột bỏ và trở thành tài sản của quân lính, họ bắt thăm xem sẽ thuộc về ai (so sánh với Thi Thiên 22:18). Đóng đinh là một cách hành quyết ít đổ máu. Những chiếc đinh dùng để đóng một người vào thập tự giá (so sánh với Giăng 20:24–29) có thể được đóng xuyên qua cổ tay phía dưới lòng bàn tay, nơi không có mạch máu lớn chạy qua. Trong tiếng Do Thái và tiếng Hy Lạp, từ “bàn tay” có nghĩa là cả bàn tay và cổ tay. Lòng bàn tay không có các cấu trúc cần thiết để gánh trọng lượng của cơ thể khi bị đóng đinh. Dây thần kinh giữa chạy qua cổ tay sẽ bị đinh đè nát, gây đau đớn dữ dội cho cánh tay. Hơi thở thật khó khăn; để có được hơi thở dễ chịu, các nạn nhân bị đóng đinh phải chống đỡ bằng bàn chân bị đóng đinh và họ lại phải chịu những cơn đau đớn tột cùng. Ngạt thở do kiệt sức là một trong những nguyên nhân gây tử vong.

Trong khi bị treo trên cây thập tự, Đức Chúa Giê-su đã bị nhạo báng và sỉ nhục kinh khiếp. Phúc Âm Mác cho biết Đức Chúa Giê-su thường phán bảo các môn đồ phải giữ bí mật không được tiết lộ Ngài là ai. Do đó, những danh xưng thần học Cơ-đốc như “Đức Chúa Trời”, “Con Đức Chúa Trời” hoặc “Đấng Cơ-đốc” không xuất hiện thường xuyên trong các câu chuyện kể. Tuy nhiên, điều này đã thay đổi nơi thập tự giá, danh Ngài không thể bị che giấu. Đáng mỉa mai thay, chính các nhà lãnh đạo tôn giáo lại sử dụng các danh xưng của Ngài để chế nhạo Ngài. Chúng thật sự đang tự kết án chính mình!

Một trong những lời chế giễu nổi bật của chúng là trong Mác 15:31, chúng nhạo cười Ngài rằng: “Hắn đã cứu kẻ khác; mà cứu mình không được”. Chúng chỉ ra sự bất lực của Ngài trên thập tự giá, và chế giễu rằng Ngài đã cứu kẻ khác mà không thể tự cứu chính mình (tiếng Hy Lạp có nghĩa là “cứu”, “chữa lành”, “cứu hộ”). Thật mỉa mai thay, chúng đã thừa nhận Ngài là Đấng Cứu Thế; hơn thế nữa, bởi lý do mà Ngài không thể hoặc sẽ không tự cứu mình là vì tại nơi thập tự giá, Ngài đang hoàn thành nhiệm vụ cứu nhân loại.

Đọc Giăng 1:1–3, và suy nghĩ về đoạn này cho chúng ta biết gì về Đức Chúa Giê-su, cũng chính là Đấng đã bị đóng đinh được nói đến trong Mác? Chúng ta có thể hiểu sự hi sinh của Đấng Cơ-đốc có ý nghĩa thế nào đối với chúng ta?

Thứ Tư Bị Đức Chúa Trời Bỏ Rơi

Đọc Mác 15:33–41. Những lời duy nhất nào của Đức Chúa Giê-su trên thập tự giá? Sự chết của Đấng Cơ-đốc cuối cùng có ý nghĩa gì đối với tất cả chúng ta?

Phúc Âm Mác miêu tả thập giá như một nơi rất tối tăm, cả về thể chất lẫn tinh thần. Một bóng tối siêu nhiên bao trùm trên đồi Sọ từ khoảng trưa ngày thứ Sáu hôm đó cho đến khoảng 3 giờ chiều: “Đến giờ thứ sáu, khắp đất đều tối tăm mù mịt cho tới giờ thứ chín” (Mác 15:33).

Lời của Đức Chúa Giê-su trên thập giá được gọi là “Khóc than vì bị bỏ rơi”, khi Ngài cầu nguyện, kêu cầu Đức Chúa Trời, hỏi tại sao Cha lại lìa bỏ mình; Đức Chúa Giê-su đã trích dẫn lởi trong Thi Thiên 22:1. Những câu Kinh Thánh khác trong Thi Thiên cũng được nhắc đến trong Mác 15:24 và 29, điều này cho thấy qua sự chết của Đức Chúa Giê-su, lời Kinh Thánh đã được ứng nghiệm. Ngay cả trong những âm mưu xấu xa của con người, ý muốn của Đức Chúa Trời vẫn được thực hiện.

Những lời của Đức Chúa Giê-su trên thập tự giá được thuật lại bằng tiếng Aramaic cùng với bản dịch. Những cụm từ “Đức Chúa Trời tôi ơi, Đức Chúa Trời tôi ơi” chính là Ê-lô-i, Ê-lô-i trong câu phiên âm của tiếng Aramaic là “elahi”. Mọi người có thể lầm tưởng Đức Chúa Giê-su đang gọi Ê-li, nhưng sự thật trong tiếng Aramaic “eliyyah” có nghĩa là “Đức Chúa Trời của tôi – là Đức Giê-hô-va”. Một số người đứng gần đó nghe tiếng của Ngài và hiểu sai.

Điều nổi bật trong đoạn Kinh Thánh này là nó có sự tương đồng hành với phép báp-têm của Đức Chúa Giê-su, trong Mác 1:9–11.

Phép Báp-têm: Mác 1:9–11Thập Tự Giá: Mác 15:34–39
Giăng làm phép báp-têm cho Đức Chúa Giê-suPhép báp-têm của Đức Chúa Giê-su (so sánh với Mác 10:38)
Giăng (hình dáng Ê-li; xem Mác 9:11–13)Tiếng kêu lớn Ê-lô-i
Các từng trời mở raMàn trong đền thờ xé ra làm đôi
Đức Thánh Linh (pneuma)Đức Chúa Giê-su trút linh hồn (expneō)
Đức Chúa Trời phán: “Ngươi là Con yêu dấu của ta”Lời của Thầy đội: “Người này quả thật là Con Đức Chúa Trời”

Những điểm tương đồng này cho biết phép báp-têm của Đức Chúa Giê-su trong Mác 1 là sự khởi đầu chức vụ của Ngài, như đã được tiên tri trong Đa-ni-ên 9:24–27; và những gì xảy ra trong Mác 15 tại thập tự giá là đỉnh điểm, hay mục tiêu của chức vụ của Ngài: Ngài đã hi sinh làm giá chuộc cho nhiều người (Mác 10:45). Sự hi sinh của Đức Chúa Giê-su trên thập tự giá cũng ứng nghiệm một phần lời tiên tri trong Đa-ni-ên 9:24–27. Bức màn bị xé làm đôi trong đền thờ (Mác 15:38) cho thấy hệ thống tế lễ được hoàn tất, khi hình và bóng gặp nhau, và thời kỳ mới của lịch sử cứu rỗi được bắt đầu.

Bất chấp âm mưu xấu xa của con người, mục đích của Đức Chúa Trời vẫn được thực hiện. Tại sao điều này giúp chúng ta học được rằng, bất kể điều gì đang xảy ra xung quanh chúng ta, chúng ta vẫn có thể tin cậy Chúa và biết rằng lòng nhân từ của Ngài cuối cùng sẽ chiến thắng?

Thứ Năm Được Nghỉ Ngơi

Đọc Mác 15:42–47. Sự xuất hiện của Giô-sép người A-ri-ma-thê có ý nghĩa gì, đặc biệt là khi bên cạnh Đức Chúa Giê-su không nhìn thấy bất kỳ ai trong số các môn đồ của Ngài?

Sau tất cả các màn kịch đó, thì những điều “trần tục” lại diễn ra; đầu tiên, người chết luôn phải được chôn cất. Tuy vậy, có một số việc xảy ra sau đó gây cảm động về mặt tinh thần, và những việc khác mang tính chất lịch sử cực kỳ quan trọng.

Trong đoạn này, Giô-sép người A-ri-ma-thê xuất hiện lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng trong Phúc Âm Mác. Ông là một thành viên cao trọng của Tòa Công luận và là một trong những “người có danh vọng” trong thành. Là một người giàu có và được kính trọng, ông có địa vị trong giới cầm quyền, điều này cho biết tại sao ông đã dám đến gặp Phi-lát và xin xác Đức Chúa Giê-su. Thật là một chi tiết cảm động khi một thành viên trong hội đồng đứng ra lo việc chôn cất Đức Chúa Giê-su. Thử hỏi, trong khi những điều này xảy ra, các môn đồ thân tín của Đức Chúa Giê-su đang ở đâu?

Một chi tiết lịch sử cực kỳ quan trọng ở đây là việc xác minh cái chết của Đức Chúa Giê-su. Mác 15:43 cho biết khi Giô-sép đến xin xác Đức Chúa Giê-su, Phi-lát lấy làm lạ khi biết Đức Chúa Giê-su đã chết (Mác 15:44). Thế nên, ông đã gọi thầy đội phụ trách việc đóng đinh đến và hỏi xem Đức Chúa Giê-su đã chết chưa. Viên sĩ quan xác nhận là Ngài đã chết.

Lý do quan trọng, bởi vì sau này có một số người khẳng định rằng Đức Chúa Giê-su không chết trên thập tự giá mà chỉ ngất đi. Lời chứng của thầy đội với tổng đốc La Mã trực tiếp phản bác lời cáo buộc của bọn người này. Nhìn chung, người La Mã rất biết cách xử tử phạm nhân.

Giô-sép lấy tấm vải liệm để bọc xác Đức Chúa Giê-su và đặt thi thể Ngài trong một ngôi mộ đẽo từ đá. Ngôi mộ này đủ rộng để đi vào bên trong (Mác 16:5). Cùng với Giô-sép, tác giả Phúc Âm ghi nhận hai người phụ nữ đã nhìn thấy nơi đó - Mary Ma-đơ-len, và Mary, mẹ của Gia-cơ. Hai người này, cùng với Sa-lô-mê, theo dõi vụ đóng đinh từ xa; Họ nghĩ rằng cả ba người sẽ đến mộ vào sáng Chủ nhật để hoàn thành công việc ướp xác Đức Chúa Giê-su (Mác 16:1).

Tại sao lại nhắc đến ba người phụ nữ này? Bởi họ sẽ là chứng nhân về ngôi mộ trống trong Mác 16, và cũng là những nhân chứng quan trọng về sự phục sinh của Đức Chúa Giê-su.

Trớ trêu thay, các môn đồ của Đức Chúa Giê-su đã “biến mất” trong khi một thành viên của Tòa Công Luận, là nơi đã lên án Đức Chúa Giê-su, lại trở thành “người hùng” ở đây. Làm sao chúng ta có thể chắc chắn rằng, trong những thời khắc quan trọng, chúng ta sẽ không biến mất?

Thứ Sáu Nghiên Cứu Bổ Túc

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC

Đọc Ellen G. White, “Tại Phòng Xử Án của Phi-lát”, “Đồi Sọ” và “Mọi Chuyện Đã Xong” trong Nguyện Ước Thời Đại, trang 723–764.

“Phi-lát mong muốn giải thoát Đức Chúa Giê-su, nhưng ông biết rằng ông không thể giữ được địa vị và danh dự của mình khi ra tay giải cứu Ngài. Thay vì mất đi quyền lực của thế gian, ông chọn hy sinh một mạng sống vô tội. Có bao nhiêu người, để không phải mất mát hay không phải đau khổ, mà chọn cách hy sinh người vô tội như thế. Lương tâm và trách nhiệm ở bên này, nhưng vì tư lợi mà quyết định bước sang bên kia. Quyết định sai lầm lạc lối, sẽ khiến kẻ thỏa hiệp với tội ác bị cuốn vào bóng tối dày đặc của tội lỗi.” — Ellen G. White, Nguyện Ước Thời Đại, trang 738.

“Đấng Cơ-đốc đã gánh thế tội lỗi và là người bảo chứng cho tất cả chúng ta; tội lỗi của tất cả chúng ta đều đặt trên Ngài. Ngài bị kể là kẻ có tội để có thể cứu chuộc chúng ta khỏi sự đoán phạt của luật pháp. Tội lỗi của dòng dõi A-đam đang đè nặng lên tấm lòng của Ngài. Cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi, và thái độ bất bình của Đức Chúa Cha đối với điều ác, khiến tâm hồn Con Ngài tràn ngập nỗi kinh hoàng. Suốt cuộc đời mình, Đức Chúa Giê-su đã rao truyền cho thế gian sa ngã tin mừng về lòng thương xót và sự tha thứ của Đức Chúa Cha. Sự cứu rỗi dành cho kẻ cầm đầu trong đám tội nhân là chủ đề của Ngài; nhưng giờ đây Ngài đang mang lấy gánh nặng khủng khiếp của tội lỗi, Ngài không thể nhìn thấy mặt Đức Chúa Cha. Sự khích lệ từ nơi cao trên thiên đàng lìa khỏi Đấng Cứu Rỗi trong giờ phút đau khổ cùng cực này đã làm tan nát cõi lòng của Ngài; nỗi đau này con người không thể nào hiểu được. Nỗi thống khổ này quá lớn đến nỗi Ngài không thể cảm nhận được cái đau về phần xác mà mình đang chịu.” — Ellen G. White, “Nguyện Ước Thời Đại”, trang 753.

Câu hỏi thảo luận:

Theo Kinh Thánh và theo tiên tri Ellen G. White (xem Ê-sai 53), thần học về sự gánh thế tội quan trọng thế nào? Tại sao bất kỳ nền tảng thần học nào xem nhẹ vai trò quan trọng của việc gánh thế tội và sự chết thế của Đấng Cơ-đốc (vì tội lỗi của chúng ta mà Ngài chịu chết) là một thần học sai lầm?

Hiện nay trên thế giới, ai hoặc điều gì là đại diện cho “Baraba”, kẻ được đám đông xin tha mạng thay vì là Đức Chúa Giê-su?

Câu chuyện về Giô-sép người A-ri-ma-thê cho chúng ta biết điều gì về việc không nên xét đoán vẻ bề ngoài?

Ôn lại Đa-ni-ên 9:24–27. Bằng cách nào chúng ta có thể hướng dẫn người khác học đoạn Kinh Thánh này khi họ yêu cầu? Chúng ta có thể làm được không?