Hai người làm chứng
Kinh Thánh Nghiên Cứu: Khải Huyền 11:3–6; Xa-cha-ri 4:14; Khải–huyền 12:5,6,14,15; Đa-ni-ên 7:25; Ê-sai 54:17; Thi Thiên 119:89; Khải Huyền 11:15–18
"Cỏ khô, hoa rụng; nhưng Lời của Đức Chúa Trời chúng ta còn mãi đời đời!" — Ê-sai 40:8
Sa-bát Hai Người Làm Chứng
Câu gốc
“Cỏ khô, hoa rụng; nhưng Lời của Đức Chúa Trời chúng ta còn mãi đời đời!” (Ê-sai 40:8).
Kinh Thánh nghiên cứu
Khải Huyền 11:3–6; Xa-cha-ri 4:14; Khải–huyền 12:5,6,14,15; Đa-ni-ên 7:25; Ê-sai 54:17; Thi Thiên 119:89; Khải Huyền 11:15–18.
Qua nhiều thế kỷ, Lời Chúa cũng đã được mổ xẻ, nghi ngờ và loại bỏ. Nó đã bị giam cầm trong các tu viện, bị đốt ở quảng trường và bị xé thành từng mảnh. Các tín đồ tin theo Kinh Thánh đã bị chế nhạo, bỏ tù và thậm chí tử đạo. Qua tất cả, Lời Chúa đã thắng thế.
Giáo hội thời trung cổ bắt bớ những tín đồ Cơ đốc trung thành, tin vào Kinh Thánh. Tuy nhiên, Lời Đức Chúa Trời đã soi sáng bóng tối. Sự áp bức và bách hại không ngăn cản được việc rao giảng Lời Chúa. Khi dịch giả Kinh Thánh tiếng Anh là William Tyndale bị xét xử vì niềm tin của mình, ông được hỏi ai là người đã hỗ trợ ông nhiều nhất trong việc truyền bá Lời Chúa. Ông cân nhắc câu hỏi rồi trả lời: “Giám mục của Durham”. Các thẩm phán đã bị sốc.
Tyndale giải thích rằng có một lần, vị giám mục đã mua bản dịch Kinh Thánh tiếng Anh của mình và công khai đốt chúng. Điều mà vị giám mục lúc đó không biết là ông càng thêm hỗ trợ lẽ thật. Ông mua Kinh Thánh với giá cao hơn bình thường rất nhiều. Với số tiền mua lớn như vậy, Tyndale có thể in được nhiều cuốn Kinh Thánh hơn số bị đốt. Sự thật bị nghiền nát trong cát bụi đã trỗi dậy hết lần này đến lần khác để tỏa sáng rực rỡ nhất.
Tuần này, chúng ta khám phá một trong những cuộc tấn công tàn ác nhất nhằm vào Kinh Thánh và đức tin Cơ-đốc. Trong Cách mạng Pháp, máu chảy trên đường phố Pháp. Máy chém được dựng lên ở quảng trường ở Paris và hàng ngàn người đã bị tàn sát. Chủ nghĩa vô thần trở thành quốc giáo. Tuy nhiên, lời chứng của Lời Chúa không thể bị im lặng.
*Nghiên cứu bài học tuần này, dựa theo chương 12 – 17 trong sách Thiện Ác Đấu Tranh, để chuẩn bị cho Bài học Sa-bát ngày 11 Tháng 5.
Thứ Nhất Hai người làm chứng
Đọc Khải Huyền 11:3–6. Hãy liệt kê 5 đặc điểm nhận diện của Hai người làm chứng mà bạn khám phá trong đoạn Kinh Thánh này.
Trong Xa-cha-ri đoạn 4, nhà tiên tri nhìn thấy hai cây ô-liu ở hai bên chân đèn vàng—hình ảnh tương tự chúng ta tìm thấy ở đây trong Khải Huyền đoạn 11. Xa-cha-ri được cho biết rằng điều này tượng trưng cho “Ấy là hai người chịu xức dầu, đứng bên Chúa của cả đất.”(Xa-cha-ri 4:14). Cây ô-liu đổ dầu vào chân đèn để nó tiếp tục phát sáng. Chúng ta được nhắc nhở về điều tác giả Thi Thiên đã viết: “Lời Chúa là ngọn đèn cho chân tôi và ánh sáng cho đường lối tôi” (Thi Thiên 119:105). Dầu tượng trưng cho Đức Thánh Linh (Xa-cha-ri 4:2,6). Khải tượng của Giăng trong Khải Huyền đoạn 11 đang mô tả Lời Chúa được công bố trong quyền năng của Đức Thánh Linh để soi sáng thế giới.
Hai người làm chứng này có thể nói tiên tri và giữ cho mưa không rơi được lâu như họ dự đoán. Họ có thể biến nước thành máu và tấn công trái đất bằng bệnh dịch. Bằng lời của Đức Chúa Trời, Ê-li nói rằng sẽ không có mưa rơi trên Y-sơ-ra-ên, và để đáp lại lời cầu nguyện của ông, không có mưa trong ba năm rưỡi (Gia-cơ 5:17). Sau đó, ông cầu nguyện với Đức Chúa Trời và mưa trở lại sau khi các tiên tri giả của Ba-anh không thể chấm dứt hạn hán (1 Các Vua 17,18). Môi-se, qua Lời Đức Chúa Trời, đã giáng đủ loại tai họa xuống người Ai Cập, kể cả việc biến nước thành máu, vì Pha-ra-ôn từ chối để dân của Đức Chúa Trời được tự do (Xuất Ê-díp-tô Ký đoạn 7).
Những kẻ tìm cách làm hại Kinh Thánh sẽ bị thiêu rụi bởi ngọn lửa phát ra từ miệng họ. Đức Chúa Trời phán: “Vì các ngươi đã nói lời đó, nầy, ta sẽ khiến lời ta nên như lửa trong miệng ngươi, dân nầy sẽ như củi, và lửa ấy sẽ nuốt nó.” (Giê-rê-mi 5:14). Lời Chúa đã tuyên bố phán xét tất cả những ai chối bỏ Kinh Thánh ‘Lời nói của ngươi như lửa trong miệng’.
Trong Giăng 5:39, Đức Chúa Giê-su tuyên bố rằng Kinh Thánh Cựu Ước làm chứng về Ngài. Ngài cũng nói rằng Phúc âm sẽ được giảng “để làm chứng” cho muôn dân (Ma-thi-ơ 24:14), và Tân Ước, cùng với Cựu Ước, là nền tảng của lời chứng đó. Một từ có cùng gốc (martys) như những từ chỉ nhân chứng được sử dụng trong hai câu này xuất hiện trong Khải Huyền 11:3.
Hai người làm chứng này là ai? Dựa trên những điểm Kinh Thánh này và những đặc điểm được đưa ra trong Khải Huyền đoạn 11, chúng ta có thể kết luận (tuy nhiên không phải về mặt giáo điều) rằng Hai người làm chứng là Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước, truyền đạt ánh sáng và Lẽ thật của Chúa cho thế gian.
Nhiều Cơ-đốc nhân ngày nay có xu hướng xem nhẹ Cựu Ước, cho rằng nó không liên quan và không cần thiết vì chúng ta đã có Tân Ước. Suy nghĩ đó sai lầm khủng khiếp thế nào?
Thứ Hai Thời kỳ tiên tri
So sánh Khải Huyền 11:3 và Khải Huyền 12:5,6,14,15 với Đa-ni-ên 7:25. Bạn thấy những điểm tương đồng nào trong những thời kỳ tiên tri này?
Hai người làm chứng “mặc áo bao gai đi nói tiên-tri trong một ngàn hai trăm sáu mươi ngày” (Khải Huyền 11:3). Đây cũng là khoảng thời gian bốn mươi hai tháng trong đó “Dân ngoại” (những người chống lại Lẽ thật của Đức Chúa Trời) sẽ giày đạp thành thánh dưới chân (Khải Huyền 11:2). Kẻ thù của Đức Chúa Trời giày đạp Lẽ thật của Đức Chúa Trời trong 1.260 ngày (42 x 30 = 1.260, mỗi ngày tượng trưng cho một năm trong lời tiên tri về ngày tận thế), và Hai người làm chứng của Đức Chúa Trời, Cựu Ước và Tân Ước, cũng tiên tri chống lại họ trong cùng thời gian này.
Như chúng ta đã thấy (xem bài học 4), Đa-ni-ên 7:25 nói rằng quyền lực cái sừng nhỏ xuất hiện sau sự tan rã của Đế quốc La Mã sẽ bắt bớ dân Đức Chúa Trời “‘trong một kỳ, những kỳ [nghĩa đen là “hai kỳ”] và nửa kỳ”. Một “kỳ” là một năm (360 ngày). Vì vậy, ba kỳ rưỡi bằng 1.260 ngày.
Khải Huyền 12:6,13 nói về 1.260 ngày bách hại dân Chúa. Khải Huyền 12:14 nói về một kỳ, những kỳ và nửa kỳ. Khải Huyền 13:5 nói về 42 tháng. Chúng ta tìm thấy cả 42 tháng và 1.260 ngày được đề cập trong Khải Huyền 11:2,3. Tất cả những lời tiên tri này mô tả những khía cạnh khác nhau của cùng một khoảng thời gian lịch sử.
Khi thẩm quyền của Kinh Thánh bị bỏ qua, thay vào đó, các thẩm quyền khác (con người) sẽ xuất hiện. Điều này thường dẫn đến sự đàn áp những người ủng hộ Lời Chúa, xảy ra trong thời kỳ g.hoàng thống trị từ năm 538 sau Công nguyên đến năm 1798 sau Công nguyên, khi Hội Thánh thời Trung cổ chìm sâu vào bóng tối tôn giáo. Những mệnh lệnh của con người thay thế cho những điều răn của Chúa. Truyền thống của con người đã làm lu mờ sự đơn giản của Phúc âm. Hội Thánh La Mã hợp nhất với quyền lực thế gian để mở rộng quyền lực của mình trên toàn châu Âu.
Trong suốt 1.260 năm này, Lời Chúa - Hai người làm chứng của Ngài - mặc áo bao gai. Sự thật của chúng bị che giấu dưới vô số truyền thống và nghi lễ. Hai người làm chứng này vẫn nói tiên tri; Kinh Thánh vẫn nói. Ngay cả giữa bóng tối mù mịt này, Lời Chúa vẫn được bảo tồn. Có những người trân trọng nó và sống theo luật pháp của nó. Nhưng so với số đông ở châu Âu thì họ rất ít. Gia đình Waldenses, John Hus, Jerome, Martin Luther, Ulrich Zwingli, John Calvin, John và Charles Wesley, cùng nhiều nhà Cải chánh khác đều trung thành với Lời Chúa như họ đã đọc hiểu.
Một số lời dạy nào ngày nay được nhiều Cơ-đốc nhân nắm giữ dựa trên truyền thống chứ không dựa trên Lời Chúa?
Thứ Ba Hai người làm chứng bị giết
Đọc Khải Huyền 11:7–9. Hãy nhớ rằng ngôn ngữ mang tính biểu tượng, những câu Kinh Thánh này tiên đoán điều gì sẽ xảy ra với Hai người làm chứng của Đức Chúa Trời là Cựu Ước và Tân Ước?
Đến năm 538 SCN, Đế chế La Mã ngoại đạo đã sụp đổ. Justinian, hoàng đế La Mã, đã trao quyền dân sự, chính trị và tôn giáo cho G.hoàng Vigillis. Thời kỳ thống trị lâu dài của Hội Thánh thời trung cổ bắt đầu. Nó tiếp tục cho đến năm 1798. Vi tướng Pháp, Berthier, theo lệnh của Napoléon, hành quân vào Rô-ma vào ngày 10 tháng 2 năm 1798 mà không bị phản đối. G.hoàng Pius VI bị bắt và đưa về Pháp, nơi ông qua đời. Ngày này đánh dấu sự kết thúc được tiên đoán trước về quyền lực thế tục của giáo hội La Mã, 1.260 ngày hoặc năm như được mô tả trong Đa-ni-ên và Khải Huyền (xem bài học ngày hôm qua).
Thật là một sự biểu hiện mạnh mẽ về Lẽ thật của lời tiên tri trong Kinh Thánh! Đa-ni-ên, viết hơn 500 năm trước Chúa, đã tiên đoán chính xác các sự kiện 2.300 năm sau. Thật vậy, chúng ta có thể tin cậy vào những lời tiên tri trong Kinh Thánh.
Trong khi đó, trong suốt thời kỳ này, Lẽ thật của Phúc âm vẫn được duy trì nhờ sự chứng thực của Lời Chúa. Nhưng những thách thức còn lớn hơn nữa đã đe dọa Lẽ thật trong Kinh Thánh. Con thú đi lên từ vực sâu không đáy (Sa-tan) đã gây chiến với Kinh Thánh. Nó đã khởi xướng những cuộc tấn công mới vào thẩm quyền của Kinh Thánh thông qua Cách mạng Pháp bắt đầu vào năm 1789.
Trong Cách mạng Pháp, chính phủ đã chính thức thành lập Giáo phái Lý Lẽ (the Cult of Reason) như một tôn giáo vô thần được nhà nước bảo trợ, nhằm thay thế Cơ-đốc giáo (Họ tôn sùng lý trí, đức hạnh và tự do). Lễ hội Lý Lẽ (Festival of Reason) được tổ chức trên toàn quốc vào ngày 10 tháng 11 năm 1793. Các Hội Thánh trên khắp nước Pháp bị biến thành Đền thờ Lý lẽ (Temples of Reason), và một phụ nữ còn sống được phong làm Nữ thần Lý Lẽ (the Goddess of Reason). Kinh Thánh bị đốt trên đường phố. Chúa được tuyên bố là không tồn tại, và cái chết được coi là một giấc ngủ vô tận. Sa-tan đã dùng những kẻ vô thần để giết Hai người làm chứng của Đức Chúa Trời. “thây hai người sẽ còn lại trên đường cái của thành lớn, gọi bóng là Sô-đôm và Ê-díp-tô, tức là nơi mà hai nhân chứng của Chúa cũng đã bị đóng đinh trên thập-tự-giá.” (Khải Huyền 11:8).
Ai Cập là một nền văn hóa có nhiều thần chối bỏ Đức Chúa Trời thật (xem Xuất Ê-díp-tô ký 5:2). Sô-đôm đại diện cho sự vô đạo đức trắng trợn. Trong cuộc Cách mạng Pháp, Hai người làm chứng của Chúa – Cựu Ước và Tân Ước – đã chết vì chủ nghĩa vô thần và sự vô đạo đức tràn lan khi những hạn chế thông thường bị nới lỏng trong cuộc cách mạng và thảm sát.
Khải Huyền 11:9 nói rằng, thi thể của Hai người làm chứng của Đức Chúa Trời sẽ không được chôn cất trong “ba ngày rưỡi”, tức là “ngày” tiên tri tượng trưng cho ba năm rưỡi theo nghĩa đen. Chủ nghĩa vô thần đạt đến đỉnh cao trong Cách mạng Pháp, ít nhất là trong khoảng ba năm rưỡi. Thời kỳ này kéo dài từ ngày 26 tháng 11 năm 1793, khi một sắc lệnh ban hành ở Paris bãi bỏ tôn giáo, cho đến ngày 17 tháng 6 năm 1797, khi chính phủ Pháp bãi bỏ các luật hạn chế tôn giáo.
Thứ Tư Hai người làm chứng sống lại
Đọc Khải Huyền 11:11. Câu Kinh Thánh này đưa ra lời tiên đoán gì về Lời Chúa?
Vào cuối cuộc Cách mạng Pháp, nói theo nghĩa bóng, Lời Đức Chúa Trời sẽ sống lại. Đã có một cuộc hồi sinh mạnh mẽ. Nỗi sợ hãi lớn lao sẽ đổ xuống trên những ai nhìn thấy Lời Chúa một lần nữa trở thành quyền năng sống của Chúa cho sự cứu rỗi. Vào cuối thế kỷ 18, Đức Chúa Trời đã dấy lên những người nam cùng người nữ hứa nguyện mang Phúc âm đến tận cùng trái đất. Mọi người truyền bá sứ điệp Kinh Thánh một cách nhanh chóng, giống như ông William Carey đã đến Ấn Độ và dịch Kinh Thánh sang hàng chục phương ngữ. Được thúc đẩy bởi quyền năng của Kinh Thánh, các nhà truyền giáo đã được gửi đi khắp thế giới.
Không phải ngẫu nhiên mà nỗ lực truyền giáo trên toàn cầu này phát triển sau cuộc Cách mạng Pháp. Lời Chúa là Lời sống, và mặc dù đối với nhiều người, Lời này dường như “đã chết”, nhưng nó vẫn sống trong lòng các tín hữu và sẽ sống lại với sự sống trọn vẹn, như những lời tiên tri trong Khải Huyền đã tiên đoán. “Nhà văn vô tín Voltaire từng khoe rằng: ‘Tôi lấy làm mệt mà nghe nói đi nói lại rằng có 12 người đã sáng lập ra đạo Cơ-đốc. Tôi sẽ chứng minh rằng chỉ cần một người cũng đủ để lật đổ đạo ấy’. Nhiều thế hệ đã qua đi kể từ khi ông chết. Hàng triệu người đã kết hiệp để tranh chiến cùng Kinh Thánh. Nhưng thay vì tiêu hủy, trong thời Voltaire có chừng một trăm phiên bản Kinh Thánh thì ngày nay có mười ngàn, phải, một trăm ngàn phiên bản sách của Đức Chúa Trời. Một nhà Cải chánh thời xưa có nói về Hội Thánh Cơ-đốc, ‘Kinh Thánh là cái đe đã làm mòn nhiều chiếc búa.’”, Ellen G. White, sách Thiện Ác Đấu Tranh, trang 288.
Đọc Thi Thiên 119:89 và Thi Thiên 111:7,8. Những đoạn Kinh Thánh này cho chúng ta biết gì về Kinh Thánh và tại sao chúng ta có thể tin cậy vào Kinh Thánh?
Lời Chúa có thể bị tấn công hoặc đàn áp, nhưng nó sẽ không bao giờ bị xóa bỏ. Ngay cả nhiều người tự xưng là Cơ-đốc nhân cũng làm giảm thẩm quyền của Kinh Thánh bằng nhiều cách khác nhau, đặt câu hỏi về các phần của Kinh Thánh hoặc nhấn mạnh đến các yếu tố con người khiến nó gần như mất đi dấu ấn thiêng liêng và Lẽ thật của Đức Chúa Trời cũng bị làm cho yếu đi.
Bằng bất cứ phương cách nào, chúng ta không bao giờ được để mình bị cám dỗ sa vào những cuộc tấn công chống lại Lời Chúa. Lời Chúa vẫn sống động đến ngày nay, nói với tấm lòng chúng ta, thổi sức sống mới vào những ai sẵn sàng lắng nghe Lời Chúa và làm theo lời dạy của Ngài.
Những lời tiên tri nào được nói riêng với bạn và tại sao?
Thứ Năm Lẽ thật đắc thắng
Bất chấp những cuộc tấn công của kẻ thù, công việc của Đức Chúa Trời trên đất sẽ đạt đến đỉnh cao vinh quang. Phúc âm sẽ được rao giảng cho “cho mọi nước, mọi chi phái, mọi tiếng, và mọi dân tộc” (Khải Huyền 14:6). Cuộc tranh đấu lớn giữa Đấng Cơ-đốc và Sa-tan sẽ kết thúc khi Đấng Cơ-đốc hoàn toàn đánh bại quyền lực của địa ngục. Vương quốc của Đức Chúa Trời sẽ chiến thắng sự ác và tội lỗi sẽ bị xóa bỏ vĩnh viễn khỏi vũ trụ. Khải Huyền đoạn 11 bắt đầu với nỗ lực của Sa-tan thông qua Cách mạng Pháp nhằm tiêu diệt đức tin Cơ-đốc giáo và xóa bỏ niềm tin vào Đức Chúa Trời, nhưng chương này kết thúc với sự chiến thắng của vương quốc Đức Chúa Trời trước các thế lực tà ác. Nó mang lại sự khích lệ cho tất cả những ai trải qua những thử thách nảy lửa vì chính nghĩa của Đấng Cơ-đốc và Lẽ thật của Ngài.
Đọc Khải Huyền 11:15–18. Theo những câu Kinh Thánh này, sự kiện nào xảy ra khi tiếng kèn thứ bảy vang lên?
Các vương quốc của thế gian này đã trở thành vương quốc của Chúa chúng ta. Đấng Cơ-đốc chiến thắng. Cái ác bị đánh bại. Đức Chúa Giê-su chiến thắng còn Sa-tan chiến bại. Chính nghĩa chiến thắng. Lẽ thật ngự trị. Chúng ta nên lưu ý đến lời chỉ dẫn sau: “Bất cứ điều gì được xây dựng trên uy quyền của con người sẽ bị lật đổ; nhưng điều gì được xây dựng trên đá là lời bất biến của Chúa sẽ còn mãi đời đời.”, Ellen G. White, Thiện Ác Đấu Tranh, trang 288.
Đọc Khải Huyền 11:19. Giăng đã nhìn thấy điều gì được mở ra trên trời? Và ông đã nhìn thấy gì khi nhìn lên trời?
Đền thờ trên trời được mở ra cho sự hiện thấy của Giăng. Khi nhìn vào Nơi Chí Thánh, ông thấy hòm giao ước. Trong thời Cựu Ước, đền thánh vốn được mô phỏng theo nguyên bản vĩ đại trên thiên đàng, sự hiện diện vinh quang của Đức Chúa Trời giữa hai thiên sứ được tạo hình trên nắp hòm giao ước. Bên trong hòm là luật pháp của Đức Chúa Trời. Dù chúng ta được cứu chỉ nhờ ân điển thông qua đức tin, nhưng việc tuân theo luật pháp của Đức Chúa Trời cho thấy đức tin của chúng ta có thật hay không. Luật pháp của Đức Chúa Trời là nền tảng hay tiêu chuẩn cho sự phán xét “Hãy nói và làm dường như phải chịu luật pháp tự do đoán xét mình” (Gia-cơ 2:12). Sự thật này trở nên đặc biệt quan trọng và hợp lý trong thời kỳ sau rốt (xem Khải Huyền 12:17; Khải Huyền 14:12).
Sự tương phản nổi bật giữa chủ nghĩa vô thần của Cách mạng Pháp và thời kỳ đỉnh cao vinh quang của Kinh Thánh được mô tả trong Khải Huyền đoạn 11 nói với chúng ta ngày nay như thế nào?
Thứ Sáu Nghiên cứu bổ túc
NGHIÊN CỨU BỔ TÚC
“Khi Kinh Thánh bị chính tôn giáo và vô thần cấm đoán; khi lời chứng bị xuyên tạc, và mọi nỗ lực mà con người và ma quỷ có thể làm ra để khiến tâm trí của người ta quay lưng lại với Kinh Thánh; khi những người dám tuyên truyền Lẽ thật thiêng liêng của Kinh Thánh bị truy bắt, phản bội, tra tấn, cầm tù, nhiều người tử vì đạo, hoặc bị buộc phải chạy trốn đến các núi cao và hang động dưới đất, thì các nhân chứng trung thành sẽ mặc bao gai nói tiên tri. Tuy nhiên, họ vẫn tiếp tục làm chứng trong suốt thời gian 1.260 năm. Trong thời kỳ đen tối nhất có những người trung thành yêu mến lời Chúa và ghen tị vì danh dự của Ngài. Những tôi tớ trung thành này đã được ban cho sự khôn ngoan, quyền năng và thẩm quyền để tuyên bố Lẽ thật của Ngài trong suốt thời kỳ này.”, Ellen G. White, Thiện Ác Đấu Tranh, trang 267, 268.
“Khi nước Pháp công khai chối bỏ Chúa và gạt Kinh Thánh sang một bên, những kẻ ác và ma quỷ bóng tối đã vui mừng biết bao khi chúng đạt được mục tiêu bấy lâu nay — một vương quốc thoát khỏi sự ràng buộc của luật pháp Đức Chúa Trời… Thần của Đức Chúa Trời với chức năng áp chế, kiểm soát quyền lực tàn ác của Sa-tan, đã bị loại bỏ ở diện rộng, và kẻ mà có niềm hân hoan duy nhất là sự khốn khổ của con người được phép thực hiện ý muốn của chúng. Những kẻ đã chọn phục vụ cho cuộc nổi loạn sẽ bị bỏ lại để gánh chịu hậu quả của chúng nó cho đến khi vùng đất đó tràn ngập cái ác khủng khiếp đến mức bút viết không thể viết thêm nữa. Từ những tỉnh bị tàn phá và những thành phố đổ nát, một tiếng kêu khủng khiếp, thống khổ cay đắng nhất đã vang lên. Nước Pháp rung chuyển như có trận động đất. Tôn giáo, luật pháp, trật tự xã hội, gia đình, nhà nước và Hội Thánh — tất cả đều bị đánh gục bởi bàn tay vô đạo chống lại luật pháp của Đức Chúa Trời.”, Thiện Ác Đấu Tranh, trang 286.
“Trừ khi Hội Thánh tuân theo sự quan phòng mở đầu [của Đức Chúa Trời], chấp nhận mọi tia sáng, thực hiện mọi nghĩa vụ được tiết lộ, tôn giáo chắc chắn sẽ thoái hóa thành việc tuân theo hình thức và tinh thần tin kính đầy sức sống sẽ biến mất.”, Thiện Ác Đấu Tranh, trang 316.
Câu hỏi thảo luận:
Nguyên tắc của Thiện Ác Đấu Tranh được bộc lộ như thế nào qua cuộc Cách mạng Pháp?
Khi tranh luận rằng không có Chúa, một người đã viết “chúng ta có thể tự do thiết lập các mục tiêu của riêng mình và mạo hiểm vượt qua mọi ranh giới trí tuệ mà không cần tìm kiếm các dấu hiệu cảnh báo”. Tại sao cụm từ “không cần tìm kiếm các dấu hiệu cảnh báo” lại có tính hướng dẫn nhiều đến động cơ mà nhiều người khước từ Đức Chúa Trời? Làm thế nào những ý tưởng như vậy có thể giúp giải thích một số điều đã xảy ra trong cuộc Cách mạng Pháp?
Dấu hiệu gì là quan trọng trong khải tượng của Giăng về đền thánh vì nó liên quan đến các sự kiện trong thời kỳ cuối cùng?