Niềm tin vượt mọi khó khăn
Kinh Thánh Nghiên Cứu: Thi Thiên 119:162; Giăng 16:13–15; 2 Phi-e-rơ 1:20,21; Ê-phê-sô 2:8,9; Rô-ma 3:23,24; Rô-ma 6:15–18
"Tôi đã giấu lời Chúa trong lòng tôi, Để tôi không phạm tội cùng Chúa." — Thi Thiên 119:11
Sa-bát Niềm Tin Vượt Mọi Khó Khăn
Câu gốc
“Tôi đã giấu lời Chúa trong lòng tôi, Để tôi không phạm tội cùng Chúa.” (Thi Thiên 119:11).
Kinh Thánh nghiên cứu
Thi Thiên 119:162; Giăng 16:13–15; 2 Phi-e-rơ 1:20,21; Ê-phê-sô 2:8,9; Rô-ma 3:23,24; Rô-ma 6:15–18.
Tín hữu Tin lành Cải chánh đã có mục đích sống trong bối cảnh thế kỷ 21 đang tiến gần thời của họ. Trong quyển sách The Empty Self [Tạm dịch: Sự Trống Rỗng Trong Tôi], nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ Philip Cushman thảo luận về những người sống một cuộc đời không có mục đích. Họ mờ mịt về niềm tin của mình. Với họ, rất ít điều thực sự có ý nghĩa, và chẳng có gì đáng giá để sống hay chết.
Nhưng đàn ông, phụ nữ và trẻ em theo phong trào Tin Lành Cải Chánh lại rất khác biệt. Họ có mục đích đáng sống. Đối với họ, niềm tin rất quan trọng và họ không sẵn sàng thỏa hiệp sự chính trực của mình. Niềm tin cốt lõi không thể tách rời khỏi đời sống của họ. Phủ nhận những niềm tin này là phủ nhận chính sự nhận diện của bản thân. Khi đối mặt với cái chết, họ có được sự bình an nội tâm.
Trong bài học tuần này, qua những ví dụ từ thời Cải Chánh giáo, chúng ta sẽ khám phá những dạy dỗ làm biến đổi cuộc đời của Kinh Thánh, chúng sẽ cung cấp một nền tảng cho mục đích và ý nghĩa sống thực sự. Hiểu được những chân lý bất diệt này sẽ giúp chúng ta chuẩn bị cho cuộc tranh đấu giữa thiện và ác. Trận chiến mà tín hữu Hội Thánh Cải chánh đã chiến đấu vẫn chưa kết thúc, và chúng ta đã được kêu gọi tiếp tục nó. Chúng ta cũng có thể khám phá ra một Đức Chúa Trời vĩ đại đủ quyền năng cho mọi thử thách chúng ta gặp phải, một Đấng ban cho ta cuộc sống ý nghĩa và một mục đích sống mà không điều gì trần thế này có thể làm được.
*Nghiên cứu bài học tuần này, dựa theo chương 7 – 11 trong quyển Thiện Ác Đấu Tranh, để chuẩn bị cho Sa-bát ngày 4 Tháng 5.
Thứ Nhất Chỉ duy lời ngài
Đọc Thi Thiên 119:103, 104; Thi Thiên 119:147; và Thi Thiên 119:162. Đa-vít có thái độ nào với Lời Đức Chúa Trời? Điều này tác động thế nào đến các tín hữu của phong trào Cải chánh giáo và ảnh hưởng thế nào đến cuộc sống của chúng ta thời nay?
Kinh Thánh là nền tảng đức tin của những người theo chủ nghĩa Cải chánh và nó thiết yếu cho những dạy dỗ. Họ hiểu rằng họ tiếp thu “lời hằng sống và bền vững của Đức Chúa Trời.” (1 Phi-e-rơ 1:23). Họ trân quý từng chữ. Khi đọc từng trang Kinh Thánh và tin vào lời hứa trong đó, họ được củng cố đức tin và gia tăng lòng can đảm. “Như vậy với tất cả những lời hứa. Trong đó, Ngài đang phán trực tiếp với từng người trong chúng ta như thể ta có thể lắng nghe tiếng Ngài. Chính trong những lời hứa này mà Chúa truyền đạt cho chúng ta ân điển và quyền năng của Ngài. Những lá của cây đó ‘dùng để chữa lành cho các dân’ (Khải Huyền 22:2). Được tiếp nhận, đồng hóa, chúng sẽ trở thành sức mạnh trong tính cách, nguồn cảm hứng và nguồn nuôi dưỡng cuộc sống. Không điều gì khác có thể có nguồn sức mạnh chữa lành như vậy. Ngoài ra, không có gì có thể truyền đạt lòng can cảm và niềm tin mang lại năng lượng sống cho toàn bộ cơ thể.”, Ellen G. White, Chức Vụ Chữa Bệnh, trang 122.
Kinh Thánh soi sáng mang niềm hân hoan lên trên nỗi thống khổ của chúng ta, hy vọng trên sự chán nản, ánh sáng trên bóng tối. Kinh Thánh đưa ra phương hướng khi ta bối rối, mang đến sự chắc chắn, sức mạnh trên sự yếu đuối và khôn ngoan khi ta thiếu hiểu biết. Khi chúng ta suy gẫm Lời Chúa và bằng đức tin tin cậy vào những lời hứa đó, quyền năng ban sự sống của Chúa sẽ tiếp sinh lực cho toàn bộ cơ thể chúng ta gồm thể, trí, linh và cảm xúc.
Tín hữu Hội Thánh Cải chánh đã thấm nhuần Kinh Thánh vào tâm trí họ. Họ sống theo Lời Chúa, và nhiều người đã chết vì Lời Chúa. Họ không phải là những Cơ-đốc nhân bình thường, tự mãn, bất cần với đời sống tin đạo hời hợt. Họ biết nếu không có sức mạnh của Lời Chúa, bản thân mình sẽ không thể chống lại các thế lực tà ác đang dàn trận chống lại họ.
Niềm đam mê của John Wycliffe là dịch Kinh Thánh sang tiếng Anh để kể cả người bình dân cũng có thể đọc và hiểu được. Vì điều đó là bất hợp pháp nên ông bị xét xử cho niềm tin đó, bị kết án là dị giáo và nhận án tử hình. Tại phiên tòa xét xử, Wycliffe đã đưa ra lời kháng cáo tha thiết. “Các ông chống nghịch cùng ai? Cùng một lão già sắp xuống mộ phải chăng? Không! Các ông chống lại Lẽ thật, và Lẽ thật mạnh hơn các ông, và cuối cùng sẽ thắng các ông”, Wylie, quyển 2, chương 13, Thiện Ác Đấu Tranh của Ellen G. White, trang 90. Những lời hấp hối của Wycliff đã được ứng nghiệm khi ánh sáng Lẽ thật của Chúa xua tan bóng tối trong Thời Trung Cổ.
Bằng cách nào, Kinh Thánh đã an ủi bạn trong cơn thử thách?
Thứ Hai Truyền đạt lời chúa
Đọc 2 Cô-rinh-tô 4:1–6 và 2 Cô-rinh-tô 2:14. Những đoạn Kinh Thánh này cho chúng ta biết điều gì về sự tự tin mà Phao-lô có được, bất chấp những thử thách phải đối mặt để rao truyền Lẽ thật của Lời Đức Chúa Trời?
Sứ đồ Phao-lô đã phải đối mặt với vô số khó khăn trong sứ mạng truyền bá Phúc âm; tuy nhiên, ông có niềm tin rằng Lời Chúa cuối cùng sẽ chiến thắng, “thuận theo” như ông nói, “Vì chúng tôi chẳng có thể nghịch cùng lẽ thật, nhưng chỉ có thể thuận theo lẽ thật.” (2 Cô-rinh-tô 13:8).
Tín hữu Hội Thánh Cải chánh phải đối mặt với những thử thách tương tự; tuy nhiên, bởi đức tin, họ vẫn trung thành với Lời Chúa. Một ví dụ về lòng can đảm khi đối mặt với những khó khăn lớn là William Tyndale. Mong muốn lớn nhất của Tyndale là nước Anh có một bản dịch Kinh Thánh chính xác và dễ đọc. Ông quyết tâm dịch Kinh Thánh từ nguyên ngữ (Bản gốc) và sửa một số lỗi trong bản dịch của Wycliffe 140 năm trước. Cuối cùng Tyndale cũng bị bắt và bị xét xử. Nhiều bản dịch Kinh Thánh của ông được in ở Worms, Đức, đã bị tịch thu và đốt công khai. Phiên tòa xét xử ông diễn ra ở Bỉ vào năm 1536. Ông bị kết án về tội dị giáo và bị thiêu sống. Những kẻ hành quyết đã bóp cổ ông khi đang bị trói vào cọc và sau đó thiêu xác. Những lời hấp hối của ông được hô to nhiệt quyết và được tường thuật lại: “Lạy Chúa, xin hãy mở mắt Vua nước Anh.” Chúa đã đáp lại lời cầu nguyện của Tyndale một cách kỳ diệu.
Trong vòng bốn năm sau khi ông qua đời, bốn bản dịch Kinh Thánh bằng tiếng Anh đã được xuất bản. Năm 1611, Phiên bản Kinh Thánh King James được in và phần lớn dựa trên tác phẩm dịch của Tyndale. 54 học giả thực hiện tác phẩm này đã trích ra rất nhiều từ bản dịch tiếng Anh trước đây của Tyndale. Một ước tính cho thấy rằng Cựu Ước của Kinh Thánh King James (Bản truyền thống) năm 1611 là 76% từ bản dịch của Tyndale và Tân Ước là 83%. Năm 2011, Phiên bản Kinh Thánh King James đã kỷ niệm 400 năm ngày ra mắt với cột mốc vượt một tỷ cuốn Kinh Thánh được in. Nó đã tác động đến hàng chục triệu người trên toàn cầu. Sự hy sinh của William Tyndale rất xứng đáng.
Cho dù hoàn cảnh có vẻ khó khăn hay thử thách đến thế nào, Tyndale và những người đồng đức tin vẫn tin Chúa đang giải quyết mọi việc theo ý muốn của Ngài. Cuộc đời của Tyndale đã tạo nên sự khác biệt vĩnh viễn.
Đọc Đa-ni-ên 12:3 và Khải Huyền 14:13. Làm thế nào những câu Kinh Thánh này áp dụng sâu sắc vào cuộc sống của Tyndale? Giờ thì bạn hãy suy nghĩ về cuộc sống của chính mình và ảnh hưởng của bạn đối với người khác. Những câu Kinh Thánh này đưa ra lời khích lệ nào cho bạn về cơ hội mà có thể bạn sẽ ảnh hưởng đến người khác đời đời?
Thứ Ba Đức Thánh Linh soi dẫn
Một ngày nọ, khi đang học ở thư viện trường Đại học, Martin Luther đã có một bước ngoặt lớn trong cuộc đời mình. Ông đã phát hiện ra một bản sao Kinh Thánh bằng tiếng La-tinh. Trước đây ông chưa bao giờ biết có một cuốn sách như thế này tồn tại. Với niềm hân hoan tột cùng, ông đọc hết chương này đến chương khác, câu này đến câu khác. Ông ngạc nhiên trước sự rõ ràng và quyền năng của Lời Chúa. Khi ông nghiền ngẫm các trang Kinh Thánh, Đức Thánh Linh đã soi sáng tâm trí ông. Ông cảm nhận được sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh khi những sự thật bị truyền thống che khuất dường như nhảy ra khỏi những trang Kinh Thánh này. Mô tả trải nghiệm đầu tiên của mình về Kinh Thánh, ông viết: “Ôi ước gì Chúa ban cho con một quyển sách như vậy!”
Chúng ta có thể rút ra những nguyên tắc nào từ những câu Kinh Thánh sau đây về cách chúng ta nên giải thích Kinh Thánh?
Giăng 14:25,26
Giăng 16:13–15
2 Phi-e-rơ 1:20,21
Sức mạnh trong những câu Kinh Thánh này là sự đảm bảo chính Đức Thánh Linh đã soi dẫn những trước giả Kinh Thánh sẽ hướng dẫn chúng ta khi đọc nó. Ngài là người giải thích về sự thật thiêng liêng. Thật không may, nhiều người tự xưng là Cơ-đốc nhân ngày nay đã hạ thấp yếu tố siêu nhiên trong Kinh Thánh và phóng đại yếu tố con người. Vì Sa-tan không thể cất giấu Kinh Thánh khỏi chúng ta nữa nên nó làm điều tốt nhất kế tiếp có thể là: tước bỏ tính chất siêu nhiên của Kinh Thánh, biến nó thành một tác phẩm văn học hay, thậm chí còn tệ hơn là biến Kinh Thánh thánh một công cụ áp bức của thế lực tôn giáo để kiểm soát quần chúng.
Tín hữu Hội Thánh Cải chánh đã thấy rõ rằng, Đức Thánh Linh - chứ không phải các linh mục, giám mục và g.hoàng - mới là người giải thích Kinh Thánh không thể sai sót. Có một cuộc trao đổi thú vị được ghi lại giữa John Knox, nhà Cải chánh người Scotland và Mary, Nữ hoàng xứ Scotland. “Mary nói: ‘Ông giải nghĩa Kinh Thánh cách này, và công giáo giải nghĩa cách khác; vậy ta phải tin ai, và ai sẽ là thẩm phán?’. ‘Phải tin Đức Chúa Trời, là Đấng phán cuối cùng’, nhà Cải chánh trả lời. “Và ngoài những điều đã chép trong Kinh Thánh, không nên tin người này hay người khác. Lời của Đức Chúa Trời là rõ ràng; và nếu có đoạn nào khó hiểu thì Đức Thánh Linh là Đấng không bao giờ mâu thuẫn, sẽ giải nghĩa cho chúng ta trong đoạn khác. Như thế đó, chỉ có những người cố tâm muốn ở trong sự ngu dốt mới nghi ngờ lời Ngài.” — David Laing, Các tác phẩm được sưu tầm của Giăng Knox, tập 2, trang 281, 284, trích dẫn trong sách Thiện Ác Đấu Tranh của Ellen G. White, trang 251.
Thứ Tư Chỉ duy ngài, chỉ duy ân điển ngài!
Đọc Ê-phê-sô 2:8,9; Rô-ma 3:23,24; Rô-ma 6:23; và Rô-ma 5:8–10. Những câu Kinh Thánh này dạy chúng ta biết gì về chương trình cứu rỗi?
Đức Chúa Trời đã ban sự cứu rỗi như một đặc ân. Đức Thánh Linh của Ngài dẫn dắt chúng ta chấp nhận những gì Đấng Cơ-đốc đã chu cấp cách miễn phí thông qua sự chết Ngài trên thập tự giá ở Đồi Gô-gô-tha. Đức Chúa Giê-su, Con thiêng liêng của Đức Chúa Trời, đã hi sinh mạng sống hoàn hảo của Ngài để chuộc tội cho chúng ta.
Công lý thiêng liêng đòi hỏi sự vâng phục hoàn hảo. Cuộc sống toàn hảo của Đấng Cơ-đốc thay cho cuộc sống bất toàn của chúng ta. Luật pháp thiêng liêng mà chúng ta đã vi phạm kết án chúng ta phải chết đời đời. Kinh Thánh rất rõ ràng. Qua những lựa chọn tội lỗi của mình, chúng ta đã “phá vỡ” kế hoạch Chúa dành cho cuộc đời mình. Chúng ta đã phạm tội. Nếu chỉ dựa vào bản thân mình, chúng ta không thể đáp ứng được những yêu cầu chính đáng của Đức Chúa Trời thánh khiết. Kết quả là chúng ta đáng phải chết đời đời. Nhưng có một tin tốt lành. Sứ đồ Phao-lô bảo đảm với chúng ta: “Vì tiền công của tội lỗi là sự chết; nhưng sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đức Chúa Jêsus Cơ-đốc, Chúa chúng ta.” (Rô-ma 6:23). Đó là một món quà, chúng ta không xứng có được; nếu là nhờ việc làm thì chúng ta sẽ không có được nó, và nếu có một Lẽ thật nào khác ngoài Phúc âm thì chúng ta không thể có được sự cứu rỗi.
Martin Luther và những nhà Cải chánh giáo đã khám phá ra Đấng Cơ-đốc và duy chỉ Đấng Cơ-đốc là nguồn cứu rỗi của họ. Đó là lúc Luther bắt đầu rao giảng sứ điệp về ân điển cứu rỗi của Chúa. Đám đông đổ xô đến để nghe những sứ điệp chân tình, làm thay đổi cuộc đời họ. Lời dạy của ông như một gáo nước mát tạt vào sa mạc khô cằn của cuộc đời họ. Người dân bị xiềng xích bởi những truyền thống của Hội Thánh thời trung cổ và bị trói buộc bởi những nghi lễ hàng thế kỷ không mang lại đời sống tinh thần cho họ. Những sứ điệp trong Kinh Thánh của Luther đã chạm đến tấm lòng và nhiều cuộc sống đã được thay đổi.
Khi Luther đọc Tân Ước, ông tràn ngập trong sự nhân lành của Chúa. Ông ngạc nhiên trước ước muốn cứu rỗi toàn nhân loại của Ngài. Quan điểm phổ biến được các nhà lãnh đạo Hội Thánh lúc đó giảng dạy là sự cứu rỗi mà một người có được một phần là tự việc làm của họ và một phần là công việc của Đức Chúa Trời. Luther khám phá ra rằng cái chết của Đấng Cơ-đốc trên thập tự giá là đã đủ cho toàn thể nhân loại.
“Đấng Cơ-đốc đã đối xử như chúng ta đáng được, để chúng ta có thể được đối xử như Ngài đáng được. Ngài đã bị kết án vì tội lỗi của chúng ta, điều mà Ngài không hề dự phần, để chúng ta có thể được xưng công bình bởi sự công bình của Ngài, điều mà chúng ta không dự phần. Ngài đã chịu cái chết của chúng ta, để chúng ta có thể nhận được sự sống của Ngài.”, Ellen G. White, Nguyện Ước Thời Đại, trang 25.
Thật là một bản tóm tắt Phúc âm đầy quyền năng và tuyệt vời, rằng chúng ta có thể được xưng công bình bởi sự công bình “mà chúng ta không dự phần”. Thật là một lời hứa tuyệt vời!
Nếu sự cứu rỗi là công việc của Đức Chúa Trời qua Đấng Cơ-đốc, thì những việc lành của chúng ta đóng vai trò gì trong đời sống Cơ-đốc nhân? Làm sao chúng ta có thể khẳng định tầm quan trọng của việc lành cho trải nghiệm của mình nhưng không biến những việc đó thành nền tảng cho niềm hy vọng của chúng ta?
Thứ Năm Sự vâng phục: Trái của đức tin
Đọc Rô-ma 3:27–31; Rô-ma 6:15–18 và Rô-ma 8:1,2. Những câu Kinh Thánh này dạy chúng ta điều gì về sự cứu rỗi thông qua sự công bình của Đấng Cơ-đốc?
Một làn gió mới trong Hội Thánh Cơ-đốc vào thời Luther. Hàng chục ngàn người đã được dạy phải tránh xa bản thân tội lỗi và thay vào đó hãy học theo Đức Chúa Giê-su. Chắc chắn những người này, khi nhìn vào bản thân và xem họ giống ai, chỉ thấy những điều khiến họ nản lòng. Điều gì mà các tín đồ ngày nay không có cùng trải nghiệm? Đó là lý do tại sao chúng ta cần nhìn vào Đức Chúa Giê-su.
Ân điển của Chúa thay đổi chúng ta. Một ngày nọ, John Wesley tham dự một cuộc họp của người Mo-ra-vi-an ở London. Wesley ngồi ngạc nhiên khi nghe Luther đọc lời giới thiệu sách Rô-ma. Lần đầu tiên trong đời, ông bắt đầu hiểu được Phúc âm. Có điều gì đó khuấy động bên trong, và ông cảm thấy bị thu hút một cách kỳ lạ bởi Đấng Cơ-đốc đã phó mạng sống mình vì ông. Ông thốt lên: “Tôi cảm thấy mình thật sự tin cậy Đấng Cơ-đốc, duy chỉ Đấng Cơ-đốc để được cứu: và tôi được hứa rằng Ngài đã cất đi tội lỗi của tôi, và cứu tôi khỏi luật lệ của tội lỗi và sự chết.” — John Whitehead, sách Cuộc đời của Giăng Wesley, M.A. (London: Stephen Couchman, 1793), trang 331.
Đọc 1 Phi-e-rơ 2:2, 2 Phi-e-rơ 3:18, Cô-lô-se 1:10 và Ê-phê-sô 4:18–24. Những Lẽ thật quan trọng nào tiết lộ về đời sống Cơ-đốc nhân?
Tín hữu Hội Thánh Cải chánh đã nghiên cứu Lời Chúa một cách có hệ thống để khám phá thêm về Lẽ thật. Không bằng lòng với hiện trạng, cũng không bằng lòng với kinh nghiệm tôn giáo cứng nhắc có ít hoặc không trưởng thành, họ không ngừng khao khát được biết Đấng Cơ-đốc nhiều hơn. Nhiều Cơ-đốc nhân tin vào Kinh Thánh trong thời Trung Cổ đã phải trả giá rất đắt cho sự cam kết này. Họ bị tra tấn, bỏ tù, lưu đày và hành quyết. Tài sản của họ bị tịch thu, nhà cửa bị đốt cháy, đất đai của họ bị tàn phá và gia đình họ bị bức hại. Khi bị đuổi ra khỏi nhà, họ đi tìm một “thành có nền vững chắc, mà Đức Chúa Trời đã xây cất và sáng lập” (Hê-bơ-rơ 11:10). Khi bị tra tấn, họ chúc phước cho những kẻ hành hạ mình, và khi mòn mỏi trong ngục tối tối tăm, ẩm ướt, họ tuyên bố những lời hứa của Chúa về một ngày mai tươi sáng hơn. Mặc dù thân xác bị giam cầm, nhưng họ được tự do trong Đấng Cơ-đốc, tự do trong Lẽ thật của Lời Ngài, tự do với hy vọng Ngài sẽ sớm trở lại.
Khi bạn nhìn vào chính mình, bạn có hy vọng cứu rỗi nào?
Thứ Sáu Nghiên cứu bổ túc
NGHIÊN CỨU BỔ TÚC
“Các tôi tớ trung thành của Đức Chúa Trời không làm việc cực nhọc một mình. Trong khi các thế lực, nhà cầm quyền và tà linh ở các cấp cao liên minh chống lại họ, Chúa đã không bỏ rơi dân Ngài. Giá như mắt họ được mở ra, họ sẽ coi đó là bằng chứng rõ ràng về sự hiện diện và trợ giúp thiêng liêng như đã được ban cho các nhà tiên tri thời xưa. Khi đầy tớ của Ê-li-sê chỉ cho chủ mình quân thù địch đang vây quanh họ và cắt đứt mọi cơ hội trốn thoát, nhà tiên tri đã cầu nguyện: ‘Đức Giê-hô-va ôi, xin mở mắt kẻ tôi-tớ tôi, để nó thấy được.’ (2 Các Vua 6:17). Và núi đầy những ngựa và xe bằng lửa ở xung-quanh để bảo vệ người của Đức Chúa Trời. Vì vậy, các thiên sứ đã bảo vệ những người theo phong trào Cải chánh tin lành.”, Ellen G. White, Thiện Ác Đấu Tranh, trang 208.
“Khi những kẻ thù hùng mạnh đang hiệp lại để lật đổ đức tin được cải chánh, và hàng ngàn thanh kiếm dường như sắp tuốt vỏ chống lại chúng nó, Luther đã viết: ‘Sa-tan đang nổi cơn thịnh nộ; các g.hoàng vô đạo đang âm mưu; và chúng ta đang bị đe dọa bởi chiến tranh. Hãy khuyến khích mọi người chiến đấu dũng cảm trước ngai của Chúa, bằng đức tin và lời cầu nguyện, để kẻ thù của chúng ta, bị đánh bại bởi Thánh Linh của Đức Chúa Trời, có thể bị ép buộc phải giữ hòa bình. Mong muốn chính của chúng ta, công việc chính của chúng ta là cầu nguyện; hãy để mọi người biết rằng giờ đây họ đang phải đối mặt với lưỡi gươm và cơn thịnh nộ của Sa-tan, và hãy để họ cầu nguyện.”, D’Aubigné, quyển 10, chương 14, trích dẫn trong Thiện Ác Đấu Tranh của Ellen G. White, trang 209.
Sự xưng công bình bởi đức tin, Lẽ thật vĩ đại mà Luther đã khám phá ra một lần nữa, là nền tảng của Phúc âm, Lẽ thật mà hy vọng cứu rỗi của chúng ta dựa trên ó. Bài thánh ca của ông, “Đồn Lũy Kiên Cố” trình bày rõ ràng Phúc âm: “Nếu cứ dám cậy nơi sức riêng mình, Ắt không thắng hơn lúc so tài, Lúc yếu đuối dựa nơi cứu tinh mình, Ấy Đấng Cha ban xuống từ Ngài. Kìa ta biết danh ngài chưa? Là Giê-su luôn đắc thắng, Danh trổi vang muôn đời, Sáng chói như ánh mặt trời, chính Giê-su không chóng đổi dời.” - Thánh ca Cơ-đốc Phục Lâm (Hagerstown, MD: Review and Herald Publishing Association, 1985), Số 506.
Câu hỏi thảo luận:
Chúng ta có thể giải thích thế nào về sự cân bằng giữa ân điển và luật pháp, giữa đức tin và việc lành?
Bạn nghĩ tại sao chúng ta dễ dàng để tâm trí mình sa vào chủ nghĩa tuân theo luật pháp? Bạn định nghĩa chủ nghĩa luật pháp này như thế nào? Tại sao nó lại gây bất lợi cho niềm tin Cơ-đốc của chúng ta?
Có nguy hiểm không nếu khái niệm “sự cứu rỗi nhờ ân điển” không được hiểu đúng? Sự hiểu lầm đó có thể dẫn tới đâu?
Một số người có ý gì khi dùng từ “ân điển rẻ tiền”? Ân điển có bao giờ rẻ tiền không?