Đứng về phía lẽ thật
Kinh Thánh Nghiên Cứu: Đa-ni-ên 7:23-25; Khải Huyền 12:6,14; Giu-đe 3,4; Khải Huyền 2:10; Công vụ các Sứ đồ 5:28-32; Thi Thiên 19:7-11; I Giăng 5:11-13
"Xưa Môi-se treo con rắn lên nơi đồng vắng thể nào, thì Con người cũng phải bị treo lên dường ấy, hầu cho hễ ai tin đến Ngài đều được sự sống đời đời" — Giăng 3:14,15
Sa-bát Đứng Về Phía Lẽ Thật
Câu gốc
“Xưa Môi-se treo con rắn lên nơi đồng vắng thể nào, thì Con người cũng phải bị treo lên dường ấy, hầu cho hễ ai tin đến Ngài đều được sự sống đời đời” (Giăng 3:14,15).
Kinh Thánh nghiên cứu
Đa-ni-ên 7:23-25; Khải Huyền 12:6,14; Giu-đe 3,4; Khải Huyền 2:10; Công vụ các Sứ đồ 5:28-32; Thi Thiên 19:7-11; I Giăng 5:11-13.
Thành phố ven biển Izmir hiện đại của Thổ Nhĩ Kỳ còn được gọi là thành Si-miệc-nơ (Smyrna) được Kinh Thánh nhắc đến trong sách Khải Huyền 2:8. Thành phố cổ có khoảng 100.000 dân này phát triển vượt bậc vào cuối thế kỷ thứ nhất và thứ hai. Đó là một thành phố thịnh vượng và trung thành mãnh liệt với đế chế La Mã.
Mỗi năm một lần, tất cả các công dân của thành Si-miệc-nơ được lệnh phải thắp hương cúng bái các vị thần của La Mã. Điều rõ ràng là vào thế kỷ II, tại Si-miệc-nơ cũng có một cộng đồng Cơ-đốc giáo rất hưng thịnh, và nhiều người trong số họ không tuân theo lệnh truyền đó. Polycarp, một vị lãnh đạo trong Hội Thánh đầu tiên, đã tử vì đạo tại quảng trường công cộng Si-miệc-nơ, bị thiêu sống trên cọc vì đã từ chối việc bội đạo, nhất quyết không chịu đốt hương cho các vị thần La Mã. Khi được hỏi lần cuối cùng về lời đề nghị từ bỏ Đấng Cơ-đốc, ông lão đã trả lời, “Tôi đã hầu việc Ngài tám mươi sáu năm và Ngài chẳng làm điều gì sai trái đối với tôi. Vậy thì tại sao tôi có thể nói lên điều xấu xa đối với Vua của tôi, là Đấng đã cứu tôi?”
Trải qua nhiều thế kỷ, nhiều con cái Chúa đã sẵn sàng chịu tử vì đạo chứ không chịu từ bỏ niềm tin vào Đấng Cơ-đốc. Sự hy sinh đầy can đảm của họ khơi dậy lòng dũng cảm trong mỗi chúng ta ngày hôm nay. Câu chuyện về lòng trung tín của họ với Đấng Cơ-đốc đã khích lệ rất nhiều cho niềm tin của chúng ta. Tuần này chúng ta sẽ xem xét một số nguyên tắc Kinh Thánh đã thúc đẩy người Waldenses (một nhóm người vâng theo sự dạy dỗ của Kinh Thánh) và những nhà cải cách sau này, chẳng hạn như Huss và Jerome, luôn giữ lòng trung tín với Chúa trong mọi hoàn cảnh – ngay cả khi bị đe dọa đến mạng sống từ chính quyền lực đã giết chết Polycarp: La Mã, nhưng bây giờ là giai đoạn thống trị của g.hoàng.
*Nghiên cứu bài học tuần này, dựa trên chương 4-6 trong quyển Thiện Ác Đấu Tranh, để chuẩn bị cho Sa-bát ngày 27 tháng 4.
Thứ Nhất Chiến thắng trước sự đàn áp
Đọc Đa-ni-ên 7:23-25 và Khải Huyền 12:6,14. Những câu Kinh Thánh trên đề cập đến các thời kỳ tiên tri nào?
Bất cứ khi nào dân sự Đức Chúa Trời bày tỏ lòng trung tín với Ngài, thì Sa-tan luôn nổi giận. Tiếp theo đó thường là sự đàn áp. Tiên tri Đa-ni-ên đã mô tả một thời kỳ - sẽ xảy ra trong tương lai rất xa so với thời kỳ của ông – khi giáo hội thời trung cổ “tranh chiến cùng các thánh” và “làm hao mòn” dân sự của Đức Chúa Trời (Đa-ni-ên 7:21,25). Tiên tri Giăng cũng mô tả thời kỳ này là thời kỳ mà Hội Thánh của Đức Chúa Trời buộc phải trốn trong đồng vắng, nơi Hội Thánh sẽ “được nuôi một thì, các thì và nửa thì” (Khải Huyền 12:14). Khải Huyền 12:6 thêm vào, “Còn người đàn bà [Hội Thánh], thì trốn vào đồng vắng, tại đó người đã có một nơi ở mà Đức Chúa Trời đã sửa soạn cho”. Dân sự của Đức Chúa Trời được nuôi dưỡng trong đồng vắng. Lời của Ngài đã củng cố và nâng đỡ họ, khi cuộc đấu tranh khốc liệt nổ ra trong suốt thời kỳ thống trị lâu dài và đen tối của g.hoàng.
Dân sự Đức Chúa Trời đã tìm được “một nơi ở mà Đức Chúa Trời đã sửa soạn cho”. Trong những thử thách cam go nhất của cuộc sống, Đức Chúa Trời luôn chuẩn bị một chỗ cho những con cái trung tín của Ngài. Trong suốt thời gian thử thách khắc nghiệt nhất của họ, dân sự Đức Chúa Trời đã tìm được nơi nương tựa vững chắc trong tình yêu thương và sự chăm sóc của Ngài. (Xem thêm Thi Thiên 46).
Thời gian 1.260 ngày và một thì, các thì và nửa thì được đề cập đến trong Khải Huyền 12:6,14 đều nói về cùng một khoảng thời gian bằng nhau (3,5 thì tức là 3,5 năm x 360 ngày/năm = 1.260 ngày). Lời tiên tri trong Kinh Thánh thường được viết bằng những biểu tượng. Trong phần tiên tri của sách Đa-ni-ên và Khải Huyền, một ngày tiên tri tương đương với một năm theo đúng nghĩa đen. Chúng ta tìm thấy nguyên tắc tính ngày-năm này trong Dân-số Ký 14:34 và Ê-xê-chi-ên 4:6.
Nguyên tắc tính ngày-năm này không chỉ dựa trên hai câu Kinh Thánh trên, mà còn căn cứ trên một nền tảng rộng lớn của Kinh Thánh. Tiến sĩ William Shea, nhà niên đại học và là học giả uyên bác của Cựu Ước, đã đưa ra 23 dòng bằng chứng trong Kinh Thánh xuyên suốt cả Cựu Ước đề cập đến nguyên tắc này. Các nhà giải nghĩa Kinh Thánh đã sử dụng nó xuyên suốt nhiều thế kỷ.
Người Visigoths, Vandals và Ostrogoths là những bộ tộc tin vào các giáo lý hoàn toàn khác với lời dạy chính thức của giáo hội La Mã. Thời gian 1.260 ngày bắt đầu khi bộ tộc lạc hậu cuối cùng trong số đó – người Ostrogoths – bị đuổi ra khỏi Rome vào năm 538 sau Công nguyên. Thời kỳ đen tối về mặt tâm linh này tiếp tục cho đến năm 1798 sau Công nguyên, khi tướng Berthier của Napoleon loại bỏ g.hoàng khỏi Rome. Vô số Cơ-đốc nhân đã tử vì đạo trong suốt thời gian dài này vì đã vâng giữ Lời Đức Chúa Trời. Ngay cả khi phải chết, họ vẫn là người chiến thắng. Trong Đấng Cơ-đốc, họ được giải thoát khỏi tội lỗi và sự thống trị của nó, đã chiến thắng “ bởi huyết Chiên Con”. Chiến thắng của Đấng Cơ-đốc trước Sa-tan trên thập tự giá là chiến thắng của chính họ. Dù đã chết, nhưng sự chết của họ chỉ là sự yên nghỉ, chờ đợi ngày Đấng Cơ-đốc tái lâm.
Lời tiên tri trong Kinh Thánh được ứng nghiệm đã củng cố đức tin của bạn như thế nào?
Thứ Hai Ánh sáng xua tan bóng tối
Đọc Giu-đe 1:3,4. Lời cảnh báo ở đây là gì và nó được áp dụng như thế nào đối với Hội Thánh Cơ-đốc về sau này?
Sách Giu-đe được viết vào khoảng trước năm 65 SCN cho những Cơ-đốc nhân trung tín là những người “đã được kêu gọi, được Đức Chúa Trời, là Cha yêu thương, và được Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc giữ gìn” (Giu-đe 1:1). Những con cái Chúa trung tín này được kêu gọi hãy “vì đạo mà tranh chiến, là đạo đã truyền cho các thánh một lần đủ rồi. Vì có mấy kẻ kia lẻn vào trong vòng chúng ta, … kẻ chẳng tin kính đổi ơn Đức Chúa Trời chúng ta ra việc tà ác” (Giu-đe 1:3,4). Lời khuyên này càng có ý nghĩa hơn đối với những người tin Chúa vào thời trung cổ sau khi những tập tục ngoại giáo tràn ngập trong Hội Thánh và những truyền thống của con người đã làm tổn hại đến Lời Chúa. Trong nhiều thế kỷ, những người như bộ tộc Waldenses đã đứng lên đấu tranh cho những lẽ thật của Kinh Thánh. Họ tin tưởng rằng Đấng Cơ-đốc là Đấng Trung Bảo duy nhất của họ và Kinh Thánh là nguồn quyền lực duy nhất mà họ phải vâng theo. “Trong mọi thời đại đều có những chứng nhân cho Đức Chúa Trời – những người nung nấu niềm tin trong Đấng Cơ-đốc như Đấng Trung Bảo duy nhất giữa Đức Chúa Trời và loài người, những người đã vâng theo Kinh Thánh như nguyên tắc duy nhất của cuộc sống, và tuân giữ ngày Sa-bát thánh đúng theo Kinh Thánh” - Ellen G. White, Thiện Ác Đấu Tranh, trang 61.
Đọc Khải Huyền 2:10. Đức Chúa Trời ban lời hứa gì cho những người một lòng trung tín với Ngài cho dù phải đối diện với cái chết?
Những lời này được viết cho Hội Thánh Si-miệc-nơ. Dionysius là một trong những vị thần hộ mệnh của thành Si-miệc-nơ, đây là vị thần của lễ hội và khả năng sinh sản. Khi các thầy tư tế của đền thờ thần Dionysius qua đời, một chiếc mão được đội trên đầu trong đám tang của họ. Sứ đồ Giăng đã nêu lên hình ảnh tương phản giữa chiếc mão của trần gian dành cho người chết và mão triều thiên sự sống đội trên đầu những người chiến thắng các thế lực của điều ác. Mão triều thiên sự sống được trao cho những ai đã phải chịu đựng những thử thách, khó khăn và chấp nhận cả sự chết vì Đấng Cơ-đốc.
Mão triều thiên sự sống khích lệ những con cái Chúa trung tín này sẵn sàng chịu chết vì Đấng Cơ-đốc. Mão triều thiên sự sống luôn thúc giục con cái Chúa trong những hoàn cảnh khó khăn đầy thử thách. Nó đã khích lệ rất nhiều cho người Waldenses vượt qua bao nỗi đau và và sự ngược đãi. Họ biết rõ rằng một ngày nào đó trong tương lai mình sẽ được gặp Đức Chúa Giê-su và sống với Ngài mãi mãi. Mão triều thiên sự sống cũng nhắn nhủ cùng chúng ta rằng: Hiện tại có thể chúng ta phải trải qua nhiều thử thách, nhưng mão triều thiên sự sống đang chờ đợi chúng ta khi chúng ta luôn vững lòng tin và hướng mắt về Đức Chúa Giê-su.
Điều gì khuyến khích bạn vượt qua những thời điểm thử thách khó khăn nhất? Điều gì khiến bạn sợ hãi? Trong những lúc như vậy, bạn có thể trông cậy vào lời hứa nào?
Thứ Ba Can đảm đứng lên
So sánh Công vụ các Sứ đồ 5:28-32, Ê-phê-sô 6:10-12, và Khải Huyền 3:11. Nguyên tắc chính nào được tìm thấy trong những câu Kinh Thánh này?
Một trong những đặc tính nổi bật của người Waldenses - và cả trong những nhà cải cách – là lòng trung thành tuyệt đối của họ đối với Đức Chúa Trời, hết lòng vâng theo quyền năng của Kinh Thánh và đặt niềm tin trọn vẹn vào quyền năng tối cao của Đấng Cơ-đốc, chứ không phải g.hoàng. Tâm trí họ luôn được lấp đầy với những câu chuyện đầy khích lệ trong Tân Ước về lòng can đảm khi thể hiện đức tin của các thánh đồ.
Với Phi-e-rơ cũng như với các sứ đồ, họ có thể mạnh dạn nói rằng, “Thà vâng lời Đức Chúa Trời còn hơn là vâng lời người ta” (Công vụ các Sứ đồ 5:29). Họ nắm bắt và thực hiện được lời khuyên của Phao-lô, “Vả lại, anh em phải làm mạnh dạn trong Chúa, nhờ sức toàn năng của Ngài” (Ê-phê-sô 6:10). Họ vâng theo lời khuyên của Đức Chúa Giê-su một cách nghiêm túc, “Hãy giữ lấy điều ngươi có, hầu cho không ai cất lấy mão triều thiên của ngươi” (Khải Huyền 3:11). Thay vì tuân theo truyền thống sai lạc của giáo hội La Mã, những con cái Chúa có niềm tin kiên định này đã can đảm đứng lên bảo vệ lẽ thật của Lời Đức Chúa Trời.
Người Waldenses là một trong những nhóm người đầu tiên có được quyển Kinh Thánh bằng ngôn ngữ riêng của họ. Một bài tường thuật đầy xúc động về việc họ sao chép Kinh Thánh bằng tay do chính Jean Leger, một nhà sao chép Kinh Thánh người Waldenses viết, chứa đầy đủ những thông tin trực tiếp về công việc sao chép của họ, bao gồm cả các bức vẽ. Người Waldenses đã bí mật sao chép Kinh Thánh trong các cộng đồng miền núi của họ ở miền Bắc nước Ý và miền Nam nước Pháp. Giới trẻ đã được các bậc cha mẹ hướng dẫn học thuộc lòng nhiều phần của Kinh Thánh ngay từ khi còn bé. Những nhóm sao chép Kinh Thánh đã cùng nhau nỗ lực làm việc trong một thời gian dài. Nhiều người trong số những thanh niên Waldenses này đã đi khắp châu Âu dưới dạng những thương gia, âm thầm chia sẻ lẽ thật của Kinh Thánh. Một số trong bọn họ ghi danh vào các trường đại học, và ngay khi có cơ hội, họ liền chia sẻ Kinh Thánh với những bạn học của mình. Được hướng dẫn bởi Đức Thánh Linh, vào đúng thời điểm, khi họ cảm nhận được sự sẵn sàng tìm hiểu từ một số người thật lòng tìm kiếm lẽ thật, một số phần đã được chọn lọc trong các đoạn Kinh Thánh quý giá của họ đã được chuyền tay cho nhau. Nhiều người đã phải trả giá cho lòng trung thành và sự tận tụy của họ bằng mạng sống của chính mình. Cho dù người Waldenses đã không hiểu tường tận mọi sự dạy dỗ trong Kinh Thánh, nhưng họ đã bảo tồn lẽ thật của Lời Đức Chúa Trời qua nhiều thế kỷ bằng cách chia sẻ lẽ thật đó cho nhiều người.
“Nhưng con đường người công bình giống như sự sáng chiếu rạng, càng sáng thêm lên cho đến giữa trưa” (Châm ngôn 4:18). Sa-lô-môn so sánh con đường mà Đức Chúa Trời dẫn dắt con cái Ngài với mặt trời chói lọi ngày càng lên cao hơn. Nếu Đức Chúa Trời chỉ làm một việc đơn giản là bật một công tắc trong vũ trụ và ngay lập tức mặt trời sẽ bừng sáng với toàn bộ công suất của nó thì ánh sáng mặt trời sẽ khiến chúng ta mù ngay tức thì. Sau khi bóng tối bao trùm thế giới trong nhiều thế kỷ, Đức Chúa Trời đã dấy lên những người nam và người nữ, nguyện lòng vâng giữ Lời Ngài, và tiếp tục học hỏi để hiểu biết cặn kẽ hơn về lẽ thật.
Làm thế nào để chúng ta có thể phản chiếu ánh sáng của Đấng Cơ-đốc, tỏa sáng trong cộng đồng của chính mình? Chúng ta có làm được không?
Thứ Tư Ngôi sao mai của phong trào cải cách
Đọc Thi Thiên 19:7-11; Thi Thiên 119:140; Thi Thiên 119:162 và Giê-rê-mi 15:16. Đa-vít và Giê-rê-mi có thái độ tương đồng như thế nào đối với Lời Đức Chúa Trời, mà đó thực sự là nền tảng của Phong trào Cải cách?
Mỗi nhà cải cách đều “vui mừng” trong Lời Đức Chúa Trời. Họ “vui mừng” làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời. Họ “yêu mến” luật pháp của Ngài. Một trong những lẽ thật quan trọng nhất tạo nên nền tảng của Phong trào Cải cách là niềm vui mừng mà việc nghiên cứu Kinh Thánh mang lại. Kinh Thánh nghiên cứu không phải là một công việc khó nhọc, cũng không phải là một nhiệm vụ phải thực hiện trong khuôn khổ nghiêm ngặt của hội nhóm. Học Kinh Thánh đối với họ không phải là một đòi hỏi có tính gượng ép mà là một niềm vui thích.
Khi miệt mài nghiên cứu Kinh Thánh, họ đã được biến đổi bởi quyền năng của Đức Thánh Linh. “Bản tính của Wycliffe là một minh chứng cụ thể cho quyền năng dạy dỗ, biến đổi của Kinh Thánh. Chính Kinh Thánh đã tạo nên một con người như ông từng thể hiện. Mọi nỗ lực để nắm bắt chân lý vĩ đại được mặc khải từ Đức Chúa Trời mang lại sự tươi mới và nguồn sinh lực cho tất cả các khả năng tiềm ẩn trong mỗi con người. Nó mở mang tâm trí, mài giũa mọi nhận thức và nâng cao khả năng phán đoán. Việc nghiên cứu Kinh Thánh khiến cho mọi suy nghĩ, cảm xúc và khát vọng của con người trở nên cao quý mà không có bất cứ một nghiên cứu nào khác có thể làm được. Nó mang lại tính kiên định trong mục đích sống, sự kiên nhẫn, lòng can đảm đầy dũng khí; nó rèn luyện nhân cách và thánh hóa linh hồn. Việc nghiên cứu Kinh Thánh một cách nghiêm túc và tôn kính sẽ đưa tâm trí hữu hạn của người học Kinh Thánh tiếp xúc trực tiếp với trí tuệ vô hạn, mang đến cho thế giới những con người với trí tuệ mạnh mẽ và tích cực hơn, cũng như những nguyên tắc cao quý hơn cả những kết quả mà sự rèn luyện nỗ lực nhất từ các học thuyết của con người có được” – Thiện Ác Đấu Tranh, trang 94.
Đọc II Ti-mô-thê 2:1-3. Sứ đồ Phao-lô đã đưa ra lời khuyên nào cho Ti-mô-thê trong việc chia sẻ Lời Đức Chúa Trời?
Lẽ thật của Lời Đức Chúa Trời và niềm vui khôn xiết trong sự cứu rỗi của Đấng Cơ-đốc dâng tràn trong tâm hồn của những người cải cách đến nỗi họ không thể giữ trong lòng, nhất định phải chia sẻ điều đó. John Wycliffe đã dành cả đời mình để dịch Lời Đức Chúa Trời sang tiếng Anh chỉ vì hai lý do: Đấng Cơ-đốc hằng sống đã thay đổi ông qua Lời của Ngài, và tình yêu thương của Đấng Cơ-đốc thúc giục ông chia sẻ những gì ông đã học được cho người khác.
Trước thời của Wycliffe, có rất ít Kinh Thánh bản tiếng Anh. Mặc dù ông đã chết trước khi giáo hội La Mã tìm đến với ông, nhưng không buông tha, g.hoàng cho đào hài cốt của ông lên, đốt thành tro và đem ném xuống sông. Nhưng, giống như tro cốt hòa trong nước chảy đi khắp nơi, Lời Đức Chúa Trời – nước sự sống – cũng lan tỏa khắp nơi như một kết quả hiển nhiên nhờ quyền năng của Ngài. Như vậy, Đức Chúa Trời đã sử dụng ông như là – “Ngôi Sao Mai của Phong trào Cải cách”.
Thứ Năm Được khích lệ bởi niềm hy vọng
Đọc Hê-bơ-rơ 2:14,15. Những con cái Chúa thời Trung Cổ đã trải nghiệm thực tế của cuộc đấu tranh khốc liệt này như thế nào?
Điều gì đã khích lệ những người Waldenses trung tín trong suốt những cuộc bắt bớ tàn bạo mà họ phải đối mặt? Sức mạnh nào đã giúp Huss, Jerome,Tyndale, Latimer và các thánh đồ tử vì đạo trong thời Trung Cổ can đảm đương đầu với ngọn lửa hừng và thanh kiếm sắc bén? Niềm tin mãnh liệt vào lời hứa của Đức Chúa Trời. Họ tin tưởng hoàn toàn vào lời hứa của Đấng Cơ-đốc, “Vì ta sống thì các ngươi cũng sẽ sống” (Giăng 14:19). Họ nhận biết sức mạnh của Ngài giúp họ một cách hiệu nghiệm trong việc đương đầu với những thử thách khắc nghiệt nhất của đời này. Thậm chí họ còn tìm được niềm vui qua sự thông công với Đấng Cơ-đốc trong những đau khổ của Ngài khi xưa. Và lòng trung tín của họ là một lời chứng hùng hồn giữa thế gian đen tối này.
Họ nhìn xa hơn những gì đã xảy ra và sẽ xảy ra. Họ biết rằng, qua sự phục sinh của Đấng Cơ-đốc, sự chết đã bị khuất phục hoàn toàn. Đối với những con cái Chúa đầy lòng dũng cảm này, xiềng xích của sự chết đã bị phá bỏ. Họ bám chặt vào những lời hứa trong Lời Đức Chúa Trời và giành lấy chiến thắng một cách hiên ngang.
Đọc Giăng 5:24; Giăng 11:25,26 và I Giăng 5:11-13. Những lời hứa này mang lại cho cá nhân bạn sự đảm bảo gì? Những lời hứa này giúp chúng ta như thế nào trước những thử thách trong cuộc sống?
John Huss không chùn bước trước cảnh tù đày, bất công và ngay cả sự chết. Ông ta mòn mỏi trong tù nhiều tháng liền. Điều kiện lạnh lẽo, ẩm ướt trong ngục thất đã gây ra một cơn sốt gần như cướp đi mạng sống mong manh của ông. Tuy nhiên, “Ân điển của Đức Chúa Trời đã nâng đỡ ông. Trong những tuần lễ đau đớn trôi qua trước khi thọ án tử hình, sự bình an của thiên đàng tràn ngập trong lòng của ông ta. Ông tâm sự với một người bạn, ‘Tôi viết bức thư này trong phòng giam của tôi, với bàn tay bị xiềng xích, trong khi chờ đợi bản án tử hình dành cho tôi vào ngày mai… Với sự giúp đỡ của Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc, chúng ta sẽ gặp lại nhau trong sự bình yên nhẹ nhàng của cuộc sống mai sau, bạn sẽ nhận biết được Đức Chúa Trời đã tỏ lòng thương xót đối với tôi như thế nào, bạn sẽ thấy Ngài đã hỗ trợ tôi một cách hiệu quả như thế nào giữa những thử thách và cám dỗ trong cuộc sống’, Bonnechose, tập 2, trang 67. Trong bóng tối của ngục thất, ông đã thấy trước vinh quang chiến thắng của một đức tin chân chính”, Ellen G. White, Thiện Ác Đấu Tranh, trang 107, 108.
Lời khuyên của sứ đồ Phao-lô dành cho chúng ta ngày càng có giá trị hơn, “Hãy cầm giữ sự làm chứng về điều trông cậy của chúng ta chẳng chuyển lay, vì Đấng đã hứa cùng chúng ta là thành tín” (Hê-bơ-rơ 10:23). Khi những lời hứa của Đức Chúa Trời đã nâng đỡ dân sự của Ngài trong quá khứ, thì cũng giúp sức cho hết thảy chúng ta trong ngày hôm nay.
Mất tất cả vì Đấng Cơ-đốc có ý nghĩa gì? Rốt cuộc thì chúng ta thực sự mất điều gì? (Xem Mác 8:36). Chúng ta học được những bài học nào từ người Waldenses và những nhà cải cách hầu có thể giúp chúng ta trụ vững trong cuộc xung đột cuối cùng trên thế gian này?
Thứ Sáu Nghiên cứu bổ túc
NGHIÊN CỨU BỔ TÚC
“Đức Chúa Trời cho phép ánh sáng diệu kỳ soi rọi trong tâm trí những người được chọn này, cho họ nhận biết nhiều sai lầm của giáo hội La Mã; nhưng họ đã không nhận được cùng một lúc tất cả ánh sáng lẽ ra phải được ban cho thế gian này. Qua những tôi tớ trung tín của Ngài, Đức Chúa Trời đang dẫn dắt dân sự của Ngài ra khỏi bóng tối của chủ nghĩa La Mã; nhưng vẫn có rất nhiều trở ngại to lớn mà họ phải đối mặt, và từng bước, từng bước một, Ngài dẫn dắt họ dần dần tùy theo khả năng chịu đựng của mỗi người. Họ đã không được chuẩn bị để nhận lãnh tất cả mọi sự soi sáng trong cùng một lúc. Cũng giống như ánh sáng chói chang của mặt trời giữa ban trưa đối với những người sống trong bóng tối lâu ngày, nếu đột ngột xuất hiện, nó sẽ khiến họ nhắm mắt quay đi chỗ khác. Do đó, Ngài tiết lộ điều đó cho những người lãnh đạo từng chút một và dân sự của Ngài có thể tiếp nhận một cách dễ dàng. Từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, những người hầu việc Chúa trung tín khác đã noi theo những tấm gương trước đó, dẫn dắt dân sự của Chúa tiến xa hơn nữa trên con đường cải cách”, Ellen G. White, Thiện Ác Đấu Tranh, trang 103.
“Trong một bức thư khác, được gởi cho một linh mục đã trở thành môn đồ của Phúc âm, Huss thổ lộ với sự khiêm nhường sâu sắc về những lỗi lầm của chính mình, tự buộc tội chính mình vì đã ‘cảm thấy thích thú, hài lòng khi khoác lên người những bộ quần áo sang trọng đắt tiền và đã lãng phí nhiều thời gian vào những công việc phù phiếm’. Sau đó, ông ta thêm vào bằng những lời khuyên đầy cảm động: ‘Cầu mong sự vinh hiển của Đức Chúa Trời và sự cứu rỗi các linh hồn chiếm giữ tâm trí bạn, chứ không phải việc sở hữu các của cải và tài sản của thế gian này. Hãy thận trọng trong việc chỉ chú tâm trang hoàng ngôi nhà hơn là tu tĩnh tâm hồn của bạn, và trên hết, hãy quan tâm đến đời sống tâm linh của bạn. Hãy sống một đời sống đạo đức và khiêm tốn với người nghèo, đừng tiêu xài hoang phí vào những tiệc tùng vô bổ. Nếu bạn không sửa đổi đời sống của bạn và kiềm chế những nhu cầu không cần thiết, tôi e rằng bạn sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc, như chính tôi vậy”, Ellen G. White, Thiện Ác Đấu Tranh, trang 105, 106.
Câu hỏi thảo luận:
“Sự soi sáng lũy tiến” là gì? Tại sao Đức Chúa Trời phải tiết lộ lẽ thật một cách từ tốn? Những nguyên tắc này được áp dụng như thế nào trên Hội Thánh Đức Chúa Trời hôm nay?
Những khám phá mới về lẽ thật có liên quan như thế nào đến những lẽ thật trước đây con cái Chúa đã từng hiểu? Tại sao sự soi sáng mới không bao giờ mâu thuẫn với sự soi sáng trước đây?
Bất kể bạn sống ở đâu, nền văn hóa của bạn sẽ quảng bá những giá trị, tư tưởng và đạo lý mà trên phương diện nào đó, có nhiều xung đột với những gì Kinh Thánh dạy. Sau khi xác định được những lĩnh vực xung đột này, thì chính bản thân bạn, và cả Hội Thánh phải giải quyết những thách thức này như thế nào? Làm thế nào để chúng ta vẫn là những công dân tốt, đồng thời không khuất phục trước bất cứ điều sai trái nào mà nền văn hóa của chúng ta công bố và phải tuân theo?
Bức thư của John Huss tác động đến suy nghĩ của bạn như thế nào trong thời buổi hiện tại? Ấn tượng của bạn về bức thư này là gì?