Bài Học 9 · 24 Tháng 2 – 1 Tháng 3

Phước cho Đấng nhân danh Chúa mà đến!

Kinh Thánh Nghiên Cứu: Thi Thiên 23; Giăng 10:11–15; Thi Thiên 22; 89:27–32; Cô-lô-se 1:16; Thi Thiên 2; Hê-bơ-rơ 7:20–28

"Hòn đá mà thợ xây loại ra, Đã trở nên đá đầu góc nhà. Điều ấy là việc của Đức Giê-hô-va, Một sự lạ lùng trước mặt chúng tôi" — Thi Thiên 118:22-23
Sa-bát Phước Cho Đấng Nhân Danh Chúa Mà Đến!

Câu gốc

“Hòn đá mà thợ xây loại ra, Đã trở nên đá đầu góc nhà. Điều ấy là việc của Đức Giê-hô-va, Một sự lạ lùng trước mặt chúng tôi” (Thi Thiên 118:22-23).

Kinh Thánh nghiên cứu

Thi Thiên 23; Giăng 10:11–15; Thi Thiên 22; 89:27–32; Cô-lô-se 1:16; Thi Thiên 2; Hê-bơ-rơ 7:20–28.

Các bài Thi Thiên làm chứng về nhân cách và chức vụ của Đấng Cơ-đốc. Tất cả công việc trong kế hoạch cứu rỗi của Ngài, hầu hết các khía cạnh đều được tìm thấy trong Thi Thiên. Cuộc đời và công việc của Đấng Cơ-đốc đã được mô tả và tiên tri trước, tuy nhiều cách khác nhau, nhưng thật chính xác.

Các chủ đề bày tỏ trong Thi Thiên bao gồm thần tính của Đấng Cơ-đốc, quyền làm con, sự vâng phục, lòng nhiệt thành của Ngài đối với đền thờ của Đức Chúa Trời, danh tính của Ngài là Đấng Chăn chiên hiền lành, những bày tỏ của Ngài, nỗi thống khổ, các xương của Ngài không bị đánh gãy, sự chết, phục sinh, thăng thiên, chức vụ tế lễ của Ngài và cả vương quyền. Tất cả đều được tiên tri từ nhiều thế kỷ trước khi Đức Chúa Giê-su giáng sinh xuống thế làm người.

Không có gì ngạc nhiên khi nói về chức vụ của Ngài, Đức Chúa Giê-su đã nhắc lại Thi Thiên khi phán bảo với các môn đồ trên đường đến làng Em-ma-út (Lu-ca 24:44). Ngài muốn họ tìm thấy trong Thi Thiên bằng chứng về Ngài là ai.

Một số Thi Thiên ứng nghiệm hình bóng trong Đấng Cơ-đốc bao gồm Thi Thiên 24, 45, 72 và 101 (Vua vinh hiển và Đấng xét đoán công bình), 88 và 102 (lời cầu nguyện của những tôi tớ Đức Chúa Trời trong cơn khốn khổ).

Trong tất cả các Thi Thiên, qua những lời than thở, tạ ơn, ca ngợi, nài xin sự xét đoán công bình và sự giải cứu của tác giả Thi Thiên, chúng ta có thể nghe thấy âm vang lời cầu nguyện của Cứu Đức Chúa Giê-su về sự cứu chuộc thế gian.

*Nghiên cứu bài học tuần này để chuẩn bị cho Sa-bát, ngày 02 tháng 3.

Thứ Nhất Đấng Chăn Chiên Thánh Khiết Hy Sinh Vì Chiên

Đọc Thi Thiên 23; Thi Thiên 28:9; 80:1; 78:52,53; 79:13 và Thi Thiên 100:3. Mối quan hệ giữa Chúa và dân sự Ngài được miêu tả trong những đoạn Kinh Thánh này như thế nào?

Hình ảnh Chúa là Người Chăn chiên và dân Chúa là bầy chiên trên đồng cỏ của Ngài nêu bật sự dẫn dắt và chăm sóc đầy yêu thương của Chúa đối với dân sự Ngài, cũng như sự lệ thuộc của dân sự vào Chúa, khi họ kêu cầu Ngài đáp ứng mọi nhu cầu cho mình. Hình ảnh cũng bày tỏ về sự gần gũi giữa Đức Chúa Trời và dân Ngài, bởi vì người chăn chiên luôn sống với bầy chiên và chăm sóc từng con chiên một của mình. Thân phận người chăn cũng nhấn mạnh quyền sở hữu của Chúa đối với bầy chiên của mình, đảm bảo qua hai mối liên kết vững bền: sự sáng tạo (Thi- thiên 95:6,7; 100:3) và giao ước (Thi Thiên 28:9, Hê-bơ-rơ 13:20).

Hình ảnh Đấng Chăn giữ Y-sơ-ra-ên như Người chăn dắt một bầy chiên (Thi Thiên 80:1) có lẽ cũng ám chỉ đến lời chúc phước của Gia-cốp dành cho các con trai mình, nên việc Đức Chúa Trời là Đấng Chăn giữ Y-sơ-ra-ên, cũng bày tỏ lời hứa và sự chúc phước lớn lao này (Sáng-thế Ký 49:24).

Các vị vua thường được coi là người chăn dắt dân mình (2 Sa-mu-ên 5:2). Tuy nhiên, chỉ có Đức Chúa Trời mới thực sự xứng đáng với danh hiệu này vì hầu hết các vị vua loài người đã không đáp ứng được sự kêu gọi như vậy. Chỉ có Đức Chúa Giê-su mới làm được điều đó, đó là lý do tại sao Ngài được gọi là Đấng Chăn chiên Hiền lành.

Đọc Giăng 10:11–15. Đức Chúa Giê-su nói gì về chính Ngài là Đấng Chăn chiên Hiền Lành?

Mối liên hệ mật thiết giữa Người Chăn thiêng liêng và bầy chiên của Ngài được thể hiện qua việc bầy chiên nhận biết rõ ràng tiếng của Người Chăn (Giăng 10:4,27). Ngày nay cũng vậy, những người chăn chiên ở Trung Đông có thể phân chia bầy chiên đã hòa nhập của mình một cách đơn giản bằng cách gọi những con chiên mà họ chăn dắt, những con chiên này nhận ra tiếng và tuân theo lệnh của người chăn mình.

Đôi khi, bầy chiên của Chúa phải chịu nhiều đau khổ nhiều cách và người ta hiểu đó là dấu hiệu về sự Chúa không vui lòng và bị Ngài bỏ rơi. Tuy nhiên, Đấng Chăn chiên Hiền lành không bao giờ bỏ rơi những con chiên lạc, mà Ngài luôn tìm cách cứu chúng. Đây là hình ảnh mạnh mẽ về mối quan hệ của Đức Chúa Trời với dân sự Ngài. Ngài sẵn sàng chết cho chiên của mình (Giăng 10:11,15) và đau đớn thay khi Chúa lại trở thành chiên con hiến tế thay cho chiên của Ngài (Giăng 1:29). Ngoài ra, Đức Chúa Giê-su cũng xác nhận rằng Ngài sẽ gọi chiên Ngài ở các chuồng khác và hiệp nhất chúng thành một bầy (Giăng 10:16).

Khi Đức Chúa Giê-su là Đấng Chăn chiên Hiền lành của chúng ta, hằng ngày bạn có thể sử dụng những phương cách cụ thể nào để tận dụng những lời hứa mà Đức Chúa Trời ban cho?

Thứ Hai Đấng Mê-Si Khốn Khổ Vì Chiên

Đọc Thi Thiên 22 và Thi Thiên 118:22. Đấng Mê-si bị đối xử ra sao bởi những người mà Ngài đã đến để cứu chuộc họ?

Nhiều Thi Thiên diễn tả những cảm xúc đau đớn tột độ vì bị bỏ rơi của Đấng Mê-si (thí dụ Thi Thiên 42,88,102). Thi Thiên 22 gồm những lời tiên tri trực tiếp về Đấng Mê-si, chúng ta thấy nhiều chi tiết trong Thi Thiên này không hề liên quan về vua Đa- vít trong khía cạnh lịch sử, nhưng hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh báo trước về sự chết của Đấng Cơ-đốc. Đức Chúa Giê-su đã cầu nguyện bằng lời trong Thi Thiên 22:1 trên thập tự giá (Ma-thi- ơ 27:46).

Khi mà sự hiệp nhất tuyệt vời của Ngài và Đức Chúa Cha chỉ có thể đo lường bằng mức độ gần gũi, thì nỗi thống khổ khi Đấng Cơ-đốc bị tách khỏi Cha Ngài, do Chúa Cứu Thế phải mang lấy tội lỗi của cả thế gian (Giăng 1:1,2; 10:30). Tuy nhiên, ngay cả những sự đau khổ sâu sắc được cũng không thể phá vỡ sự hiệp nhất giữa Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con. Trong sự tự nguyện hoàn toàn, Cứu Đức Chúa Giê-su phó thác chính mình cho Đức Chúa Cha một cách vô điều kiện, bất chấp nỗi tuyệt vọng tột cùng mà Ngài phải đối mặt.

“Đấng Cơ-đốc là người thay thế và là Đấng bảo đảm cho chúng ta, tội lỗi của tất cả chúng ta đều được chất trên mình Ngài. Chúa đã bị kể là kẻ có tội để có thể cứu chuộc chúng ta khỏi sự đoán phạt của luật pháp. Tội lỗi của dòng dõi A-đam đang đè nặng lên tấm lòng Ngài. Cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời chống lại tội lỗi, sự biểu hiện khủng khiếp của nỗi bất bình của Ngài vì sự gian ác, khiến tâm hồn Con Ngài tràn ngập sự kinh hãi” — Ellen G. White, Nguyện Ước Thời Đại, trang 753.

Sự tàn nhẫn từ những quân lính gian ác, hung dữ của những thầy tế lễ và sự điên loạn của dân chúng làm nổi bật sự tàn ác và thù hận của con người vào Đấng Cứu Thế, Đấng được ví như một Chiên con vô hại và hiền lành, khiến Ngài phải đón nhận những giờ phút cuối cùng của mình. Với độ chính xác khiến con người phải kinh ngạc, Thi Thiên 22 tiên tri những lời nhận xét độc ác của đám đông đã chế giễu Đức Chúa Giê-su bằng chính lời Ngài nói với Đức Chúa Cha (Thi Thiên 22:1,8; Ma-thi-ơ 27:43) và những tên lính chia nhau áo của Đức Chúa Giê-su (Thi Thiên 22:18, Ma- thi-ơ 27:35). Khi đó người ta không hiểu rằng “hòn đá bị bỏ” mà họ tìm cách nghiền nát sẽ trở thành “hòn đá góc nhà” để xây Đền thờ và bảo vệ nền móng của nó (Thi Thiên 118:22).

Tuy nhiên, Đấng Mê-si bị từ chối đã trở thành Nguồn cứu rỗi cho dân Đức Chúa Trời sau khi Ngài sống lại từ cõi chết (Ma- thi-ơ 21:42, Công vụ 4:10–12). Đấng Cơ-đốc bị loài người chối bỏ, nhưng Đức Chúa Cha đã tôn vinh Con Ngài bằng cách đặt Ngài làm “hòn đá góc nhà” sống động trong đền thờ thiêng liêng của Đức Chúa Trời (Ê-phê-sô 2:20-22, 1 Phi-e-rơ 2:4-8). Đối với những người từ chối Hòn đá này, tức là từ chối phương tiện cứu rỗi của Đức Chúa Trời, sẽ bị chính Đá ấy phán xét (Ê-sai 8:14, Ma-thi-ơ 21:44).

Đức Chúa Giê-su trên thập tự giá đã tự mình gánh lấy hình phạt cho mọi tội lỗi mà bạn từng phạm. Việc Ngài chịu đau khổ thay cho bạn sẽ ảnh hưởng thế nào đến lối sống hiện nay của bạn, nói cách khác vì sao bạn lại thấy tội lỗi thật quá ghê tởm?

Thứ Ba Mãi Mãi Trung Thành Với Giao Ước Của Ngài

Đọc Thi Thiên 89:27–32, 38–46 và Thi Thiên 132:10–12. Giao ước của Đa-vít nói lên điều gì? Việc gì dường như gây nguy hiểm?

Giao ước Đa-vít chứa đựng lời hứa của Đức Chúa Trời về việc ban phước bền vững đời đời cho dòng dõi vua Đa-vít và sự thịnh vượng cho dân Đức Chúa Trời (1 Sa-mu-ên 7:5–16; Thi- thiên 89:1–4,19–37; 132:12–18). Tính bền vững của giao ước được thiết lập dựa trên lời thề long trọng của Đức Chúa Trời và lòng trung thành của nhà vua đối với Ngài. Tuy nhiên, ngay cả những vị vua tận tụy như Đa-vít không phải lúc nào cũng trung thành với Chúa. Thi Thiên 89 than thở về thực tế khắc nghiệt dường như cho thấy những lời hứa vinh quang trong giao ước của Đa-vít đã bị mất. Có phải Y-sơ-ra-ên bị Đức Chúa Trời bỏ rơi trong vô vọng? Câu trả lời, tất nhiên là không!

Đúng vậy, cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời là sự biểu hiện của sự phán xét (Thi Thiên 38:1;74:1). Tuy nhiên, điều đó không tồn tại mãi mãi vì tình yêu vĩnh cửu của Đức Chúa Trời tha thứ tội lỗi khi con người ăn năn. Tuy nhiên, trong một thời gian dài, sự thất vọng của Đức Chúa Trời đối với dân sự sai lầm thật nghiêm trọng. Dân sự cảm nhận những hậu quả cay đắng của sự bất tuân của họ, cũng như nhận ra mức độ nghiêm trọng của tội lỗi mình (Thi Thiên 89:38–46). Tuy nhiên, họ vẫn hỏi: “Bao lâu?” với mong mỏi cơn thịnh nộ của Chúa mau chóng qua (Thi Thiên 89:46). Niềm hy vọng được đổi mới nảy sinh từ sự bảo đảm tương lai về sự thành tín của Chúa để “nhớ lại” ân điển Ngài (Thi Thiên 89:47,50).

Tóm lại, mặc dù loài người góp phần vào sự thất bại của giao ước, nhưng dân sự có thể yên nghỉ trong lời hứa về mục đích không thay đổi của Đức Chúa Trời thông qua Đấng Mê-si, là hiện thân của sự công bình và cứu rỗi dân Y-sơ-ra-ên và toàn thế giới. Nghĩa là, cuối cùng Đức Chúa Trời sẽ chiến thắng và vương quốc đời đời của Ngài sẽ được thiết lập mãi mãi—nhưng chỉ nhờ Đức Chúa Giê-su chứ không phải vì sự trung tín của dân sự Đức Chúa Trời.

Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc là Con vua Đa-vít và cũng là Đấng Mê-si (Ma-thi-ơ 1:1, Hê-bơ-rơ 1:8). Ngài được gọi là “con đầu lòng trên mọi tạo vật” (Cô-lô-se 1:15, Thi Thiên 89:27), ám chỉ Đa-vít là hình bóng về Đấng Cơ-đốc, là con đầu lòng của Đức Chúa Trời.“Ta cũng sẽ biến người thành con đầu lòng của Ta/Người cao nhất trong các vị vua trên trái đất”.

Rõ ràng danh hiệu “con đầu lòng” không thể hiện địa vị thực tế của Đa-vít, vì Đa-vít là con thứ tám của cha mẹ ông (1 Sa- mu-ên 16:10,11). Ngay cả Đức Chúa Giê-su cũng vậy. Danh hiệu này biểu thị sự vinh dự và thẩm quyền đặc biệt của Ngài (Cô-lô- se 1:16, 20−22). Đức Chúa Trời đã tôn Đức Chúa Giê-su làm Vua tối cao trên toàn thế giới khi Ngài khiến Đức Chúa Giê-su sống lại từ cõi chết (Công vụ 2:30,31).

Đọc Cô-lô-se 1:16, 20–22. Những câu này dạy chúng ta điều gì về Đức Chúa Giê-su và Ngài đã làm gì cho chúng ta? Bạn có thể rút ra lời hứa nào từ điều này cho chính mình?

Thứ Tư Vua Vĩnh Cửu Với Sức Mạnh Vô Song

Đọc Thi Thiên 2; 110:1–3; 89:4,13–17 và Thi Thiên 110:1,2,5,6. Những câu Kinh Thánh này dạy chúng ta điều gì về Đấng Cơ-đốc là Vua?

Hình ảnh Đức Chúa Trời như là Cha của Đấng Mê-si ám chỉ lễ đăng quang của nhà vua khi vị vua được nhận vào giao ước của Đức Chúa Trời (Thi Thiên 2:7; 89:26–28). Thi Thiên 2:7 báo trước sự phục sinh và tôn cao của Đấng Cơ-đốc như là buổi bình minh của giao ước mới vĩnh cửu và chức Thầy Tế lễ Thượng Phẩm của Ngài (Công vụ 13:33–39, Hê-bơ-rơ 1:5; 5:5). Đấng Mê-si ngồi bên hữu Đức Chúa Trời với tư cách là người có sự vinh hiển và quyền hành chưa từng có (Thi Thiên 110:1; Công vụ 7:55,56). “Hơn nữa, sự tương tác giữa Chúa và “Người được xức dầu” (Đấng Mê-si) thậm chí còn nói lên sự hiệp nhất giữa Đấng Mê-si dòng dõi Đa-vít với chính Đức Chúa Trời… Nếu người ngồi bên hữu là Chúa, thì Đấng ấy phải là Đấng Mê-si, sau cùng Đức Chúa Con được nhìn thấy ở bên hữu Đức Chúa Trời [xem Thi Thiên 110:1,5]” — Jacques Doukhan, Trên đường đến làng Em-ma-út trang 26,27.

Cuối cùng, Đấng Cơ-đốc chiến thắng tuyệt đối trước kẻ thù của Ngài. Khiến kẻ thù để dưới “bệ để chân” là hình ảnh phản ánh phong tục của các vị vua Cận Đông cổ đại khi đặt chân lên cổ kẻ thù bại trận, thể hiện sự thống trị hoàn toàn đối với chúng. Tuy nhiên, cây gậy của Đấng Cơ-đốc ở đây không phải là công cụ khủng bố (Thi Thiên 2:9, 110:2).

Cây gậy (“cây ba toong”) ban đầu được các thủ lĩnh chi phái cầm làm biểu tượng của chi phái (Dân số Ký 17:2−10). Cây gậy của Đấng Cơ-đốc đến từ Si-ôn vì Ngài đại diện cho dân Si- ôn. Cây gậy của Ngài là biểu tượng của sự phán xét thiêng liêng, chấm dứt sự cai trị của điều ác và mô tả triều đại vô song của Đấng Cơ-đốc (Khải Huyền 2:27; 12:5). Ngay cả những vị vua gian ác cũng có cơ hội ăn năn và phục tùng Đấng Mê-si (Thi Thiên 2:10– 12).

Sự mô tả sinh động về chiến thắng cuối cùng của Đấng Cơ-đốc được tìm thấy trong lời tiên báo trước về sự đến của Chúa trong Đa-ni-ên 7, cho thấy sau cảnh phán xét đưa ra việc “ủng hộ các thánh của Đấng Rất Cao” (Đa-ni-ên 7:22), Vương quốc của Ngài được thành lập và “Vương quốc của Ngài là vương quốc đời đời” (Đa-ni-ên 7:27). Nhờ thập giá mà lời hứa về vương quốc này được đảm bảo.

Phước lành được hứa cho tất cả những ai tin cậy nơi Vua muôn vua, và mọi người vui mừng trong sự trị vì công bình và tối cao của Đấng Mê-si (Thi Thiên 2:12, 89:15-17).

Thật tuyệt biết bao khi chúng ta biết rằng, cuối cùng điều thiện sẽ chiến thắng điều ác, công lý sẽ được thực thi và nỗi đau đớn, thống khổ sẽ mãi mãi bị xóa bỏ. Nhưng cuộc sống con người ngay lúc này đây, lẽ thật này đã an ủi chúng ta như thế nào khi điều ác dường như đang thịnh vượng?

Thứ Năm Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm Theo Dòng Mên-Chi-Xê-đéc

Đọc Thi Thiên 110:4–7. Chức Thầy Tế lễ Thượng phẩm của Đức Chúa Giê-su độc đáo như thế nào và chúng ta có thể tìm thấy niềm hy vọng lớn lao nào nơi chức tế lễ trên trời của Cứu Đức Chúa Giê-su?

Đức Chúa Trời ban cho Đấng Mê-si một vương quyền đời đời (Thi Thiên 110:1–3) và chức tế lễ ở ban cao hơn, ban Mên-chi- xê-đéc (Thi Thiên 110:4–7). Chúa niêm phong lời Ngài bằng một lời hứa long trọng (Hê-bơ-rơ 6:18). Lời thề của Đức Chúa Trời không chùn bước khi ban cho chúng ta một Thầy Tế lễ hoàn hảo là dấu hiệu ân điển của Ngài. Tội lỗi của con người và những cuộc nổi loạn công khai liên tục khiêu khích Đức Chúa Trời bỏ rơi dân Ngài, nhưng lời thề của Đức Chúa Trời không thể thay đổi, Đức Chúa Trời luôn bảo đảm ân điển của Ngài trong việc thu hồi sự phán xét đối với những người ăn năn (Xuất Ê-díp-tô ký 32:14, Thi- thiên 106:45).

Lời thề thiêng liêng bày tỏ một yếu tố mới trong giao ước Đa-vít bằng cách tuyên bố Vua Mên-chi-xê-đéc cũng là Thầy Tế lễ (Thi Thiên 110:4). Các vị vua của Y-sơ-ra-ên không bao giờ có thể hoạt động như những thầy tế lễ Lê-vi (Dân số Ký 8:19, 2 Sử ký 26:16−21). Khi Kinh Thánh đề cập đến các vị vua hoặc những người dâng của lễ, điều đó hàm ý rằng họ mang của lễ đến cho các thầy tế lễ, những người thực sự sẽ dâng lễ vật. Thi Thiên 110 khiến Vua Mên-chi-xê-đéc khác biệt với các vị vua và thầy tế lễ khác của dân Y-sơ-ra-ên. Và chức tế lễ vĩnh cửu của Đấng Cơ-đốc bắt nguồn từ Mên-chi-xê-đéc, ông vừa là vua của Sa-lem (Y-sơ-ra- ên) vừa là thầy tế lễ của “Đức Chúa Trời tối cao” (Sáng-thế Ký 14:18−20). Cựu Ước không bao giờ nói đến việc vua Đa-vít hay bất kỳ vị vua nào khác của Y-sơ-ra-ên sở hữu chức tế lễ theo ban Mên-chi-xê-đéc, ngoại trừ Thi Thiên 110. Rõ ràng, Thi Thiên này nói về một vị Vua - một Thầy tế lễ đặc biệt trong lịch sử Y-sơ-ra- ên.

Đọc Hê-bơ-rơ 7:20–28. Cho thấy hàm ý nào về chức tế lễ cao cả của Đấng Cơ-đốc?

Vừa là Vua trên các vua, vừa là Thầy Tế lễ đời đời, Đấng Cơ-đốc có quyền ưu việt chưa từng có trước đây của các thầy tế lễ và vua loài người; vì vậy, chúng ta có thể hy vọng. Đấng Cơ-đốc duy trì một giao ước cao cả dựa trên lời thề của Đức Chúa Trời chứ không phải lời hứa của con người. Ngài phục vụ trong đền thánh ở trên trời. Chức Tế lễ của Ngài không bị ảnh hưởng bởi tội lỗi hay cái chết, giống như chức tế lễ của con người và do đó, Ngài có thể cầu thay và cứu rỗi dân sự Ngài mãi mãi. Công việc giảng hòa của Đấng Cơ-đốc với tư cách là Thầy Tế lễ hoàn hảo và đầy lòng thương xót mang lại cho dân Ngài một sự bảo đảm lâu dài trong chính sự hiện diện của Đức Chúa Trời (Hê-bơ- rơ 6:19,20). Chức Thầy Tế lễ Thượng Phẩm của Cứu Chúa Giê- su sẽ xóa bỏ sự cai trị của cái ác, không chỉ trong lòng con người mà còn cả trên thế giới. Ngài sẽ giữ lời hứa trong Thi Thiên 2 rằng mọi quốc gia và người cai trị sẽ phải chịu sự phán xét thiên thượng của Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc (Thi Thiên 2:6–9; Thi Thiên 110:1,2,5,6). Chức Thầy Tế lễ Thượng Phẩm tuyệt vời của Đức Chúa Giê-su khẳng định sự vâng phục và tin tưởng tuyệt đối của chúng ta.

Thứ Sáu Nghiên Cứu Bổ Túc

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC

Đọc Ellen G. White, chương “Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta”, trang 19–26, trong Nguyện Ước Thời Đại.

Đấng Cơ-đốc vừa là Chúa ban sự Cứu rỗi, Ngài vừa là Người cầu nguyện cho chúng ta nhận được sự cứu rỗi, Thi Thiên còn cho thấy một sự mặc khải độc đáo khác về bản tánh và chức vụ cứu chuộc của Đấng Cơ-đốc trong tư cách là “Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta” (Ma-thi-ơ 1:23). Đức Chúa Giê-su là “Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta” trong những lời cầu nguyện chống chọi với sự bị bỏ rơi và đau khổ. Ngài là “Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta” trong tiếng kêu cầu công lý và sự giải thoát. Đức Chúa Giê-su là “Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta” trong việc không bỏ rơi chúng ta trong sự lạc lối và tuyệt vọng, nhưng chỉ cho chúng ta con đường đức tin chiến thắng. Đối với chúng ta, Người đã trở thành Thầy Tế Lễ Thượng phẩm và Vua đời đời để cứu chúng ta khỏi hình phạt đời đời của tội lỗi. Trong Đấng Cơ-đốc, dòng dõi Vua Đa-vít hoàn hảo, mọi lời hứa cứu rỗi long trọng của Đức Chúa Trời đều được ứng nghiệm (2 Cô-rinh-tô 1:20).

Bà Ellen G. White mô tả một cách sâu sắc sự hiệp nhất của Đấng Cơ-đốc với nhân loại: “Qua nhân tính của Ngài, Đấng Cơ-đốc đã chạm đến nhân loại; bởi thần tính của Chúa, Ngài nắm giữ ngai của Đức Chúa Trời. Là Con Người, Ngài nêu gương cho chúng ta về sự vâng phục; với tư cách là Con Đức Chúa Trời, Ngài ban cho chúng ta sức mạnh để vâng phục. Chính Đấng Cơ-đốc từ trong bụi gai trên núi Hô-rếp đã phán với Môi-se rằng: “TA LÀ ĐẤNG TỰ HỮU HẰNG HỮU (TA LÀ ĐẤNG TA LÀ)”;… Ngươi sẽ nói với con cái Y-sơ-ra-ên như vậy rằng: “ĐẤNG TỰ HỮU đã sai ta đến cùng các ngươi” (Xuất Ê-díp-tô Ký 3:14). Đây là lời cam kết giải cứu dân Y-sơ-ra-ên. Vì vậy, khi Ngài đến “như con người”, Ngài đã tuyên bố chính Ngài là TA LÀ Đấng Tự Hữu. Hài Nhi nơi Bết-lê-hem, Đấng Cứu Rỗi nhu mì và khiêm nhường, là Đức Chúa Trời “thành người” (1 Ti-mô-thê 3:16). Và đối với chúng ta, Ngài phán: “TA LÀ Đấng Chăn chiên Hiền lành”. “TA LÀ Bánh Hằng Sống”. “TA LÀ Đường đi, Lẽ Thật và Sự Sống”. “Mọi quyền năng trên trời và dưới đất được trao cho Ta” (Giăng 10:11; 6:51; 14:6; Ma-thi-ơ 28:18). Lời phán TA LÀ cũng chính là sự đảm bảo cho mọi lời hứa. “Đừng sợ hãi, TA thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế” — Nguyện Ước Thời Đại, trang 24 và 25.

Câu hỏi thảo luận:

Bất chấp sự bất trung của dân sự, Đức Chúa Trời đã chứng tỏ thế nào về sự thành tín không lay chuyển của Ngài trong giao ước của Ngài? Điều đó mang đến sự đảm bảo nào cho các con cái của Chúa đang gặp sự khó khăn hiện nay?

Chức Tế lễ độc nhất và cao cả của Cứu Đức Chúa Giê-su theo ban Mên-chi-xê-đéc củng cố sự chắc chắn về ơn cứu rỗi ban cho dân sự Chúa như thế nào?

Các sách Tin lành cho thấy nhiều lời hứa về Đấng Mê-si trong các Thi Thiên đã được ứng nghiệm qua Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc. Điều này chứng tỏ tính xác thực của Lời Đức Chúa Trời như thế nào? Tại sao chúng ta phải chống lại mọi cảm xúc có xu hướng làm suy yếu lòng tin cậy của chúng ta nơi Lời Chúa?

Chúng ta có thể nhận được niềm an ủi lớn lao nào từ lời của Đấng Cơ-đốc: “Hết cả quyền phép ở trên trời và dưới đất đã giao cho Ta” (Ma-thi-ơ 28:18)? Làm thế nào chúng ta áp dụng lời hứa này vào kinh nghiệm từng trải của chính mình?