Ngợi khen Chúa không thôi
Kinh Thánh Nghiên Cứu: Thi Thiên 134; Ê-sai 42:10–12; Khải Huyền 14:3; Thi Thiên 15; Thi Thiên 101:1–3; Thi Thiên 96; Khải Huyền 14:6–12; Giăng 4:23, 24
"Hễ tôi sống bao lâu, tôi sẽ hát xướng cho Đức Giê-hô-va bấy lâu; Hễ tôi còn chừng nào, tôi sẽ hát ngợi khen Đức Chúa Trời tôi chừng nấy" — Thi Thiên 104:33
Sa-bát Ngợi Khen Chúa Không Thôi
Câu gốc
“Hễ tôi sống bao lâu, tôi sẽ hát xướng cho Đức Giê-hô-va bấy lâu; Hễ tôi còn chừng nào, tôi sẽ hát ngợi khen Đức Chúa Trời tôi chừng nấy” (Thi Thiên 104:33)
Kinh Thánh nghiên cứu
Thi Thiên 134; Ê-sai 42:10–12; Khải Huyền 14:3; Thi Thiên 15; Thi Thiên 101:1–3; Thi Thiên 96; Khải Huyền 14:6–12; Giăng 4:23, 24.
Khi chúng ta kinh nghiệm về ân điển và quyền năng của Chúa ngày càng gia tăng, chúng ta được thúc giục tìm hỏi tác giả Thi Thiên rằng: “Tôi sẽ lấy gì báo đáp Đức Giê-hô-va Về các ơn lành mà Ngài đã làm cho tôi?” (Thi Thiên 116:12). Câu trả lời chắc chắn là hãy trọn đời trung tín với Đức Chúa Trời.
Trong Thi Thiên cho biết dân Y-sơ-ra-ên không chỉ đơn thuần là một quốc gia, nhưng họ là một “hội chúng” (Thi Thiên 22:22,25; Thi Thiên 35:18). Điều này cho thấy dân Y-sơ-ra-ên được biệt riêng để ngợi khen Đức Chúa Trời và làm chứng về Ngài cho các quốc gia khác; vì Đức Chúa Trời muốn cả thế giới cùng tham gia thờ phượng Ngài. Dân của Chúa được khẳng định là những người ngay thẳng, họ thờ phượng Chúa. Họ có sự trông cậy nơi Ngài và tình yêu thương của Ngài.
Ngợi khen Đức Chúa Trời tại hội chúng được xem là sự thờ phượng lý tưởng. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là lời cầu nguyện và khen ngợi của cá nhân bị xem là thứ yếu trong dân Y-sơ-ra-ên. Trái lại, sự thờ phượng Đức Chúa Trời của từng cá nhân sẽ nuôi dưỡng sự thờ phượng cộng đồng bằng những lời ngợi khen tươi mới (Thi Thiên 22:22,25), vì sự thờ phượng cá nhân phát huy tối đa tiềm năng của nó trong mối quan hệ chặt chẽ với cộng đồng. Cả hội chúng thờ phượng được biết như là “đám người ngay thẳng” (Thi Thiên 111:1); đám người ngay thẳng biết Đức Chúa Trời (Thi Thiên 36:10) và Đức Chúa Trời biết đến họ (Thi Thiên 37:18). Kinh nghiệm thờ phượng này thấm sâu vào trong đời sống của họ.
*Nghiên cứu bài học tuần này để chuẩn bị cho Sa-bát ngày 23 tháng 3
Thứ Nhất Hãy Giơ Tay Lên Hướng Về Đền Thánh
Đọc Thi Thiên 134. Cho biết sự ngợi khen được dâng lên ở đâu? Và kết quả của việc thờ phượng Đức Chúa Trời là gì?
Thi Thiên 134 nhắc lại phước lành của thầy tế lễ A-rôn (Dân Số Ký 6:24−26 & Thi Thiên 67:1). Phước lành chính là nền tảng căn bản cho mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời và dân Y-sơ-ra-ên; dân chúng chúc tụng Đức Chúa Trời tại nơi thánh, và Đức Chúa Trời ban phước cho dân Ngài từ núi Si-ôn. Phước lành được ban ra cho sự sống ở khắp mọi nơi, vì Đức Chúa Trời là Đấng dựng nên trời và đất. Si-ôn, nơi nhận các phước lành thiêng liêng, được nhắc đến ở đây chính là giao ước mà Chúa đã lập với dân Ngài. Như vậy, chính trong giao ước ân điển mà dân Y-sơ-ra-ên có đặc ân chúc tụng Đức Chúa Trời và được Ngài ban phước cho.
Đọc Thi Thiên 18:1; 36:1; 113:1; 134:1,2; và 135:1,2. Dân sự của Đức Chúa Trời được miêu tả như thế nào ở đây?
Các sách Thi Thiên thường miêu tả dân sự Chúa là tôi tớ của Ngài: “Hỡi các tôi tớ Đức Giê-hô-va, là kẻ ban đêm đứng tại nhà Ngài” (Thi Thiên 134:1). Có thể đây là những người Lê-vi giữ đền thờ vào ban đêm (1 Sử ký 9:23-27) hoặc cũng có thể ám chỉ các lời ngợi khen được dâng lên Đức Chúa Trời bởi người Lê-vi cả ngày lẫn đêm (1 Sử ký 9:33).
Dân Y-sơ-ra-ên thờ phượng Đức Chúa Trời là một Đấng vô hình. Không có hình ảnh nào được dùng để mô tả Ngài, và đền thánh là nơi phản ánh sự vinh hiển của Chúa. Đền thánh là một không gian an toàn dành cho con người tội lỗi đến gần Vua thánh của họ; cuộc gặp gỡ này do chính Chúa khởi xướng và được kiểm soát bởi các quy luật và sắc lệnh của Ngài.
“Hãy đến gần Ngài, là hòn đá sống, bị người ta loại ra, song được chọn và quí trước mặt Đức Chúa Trời, và anh em cũng như đá sống, được xây nên nhà thiêng liêng, làm chức tế lễ thánh, đặng dâng của tế lễ thiêng liêng, nhờ Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc mà đẹp ý Đức Chúa Trời” (1 Phi-e-rơ 2:4,5).
Theo như lời của Phi-e-rơ, chúng ta biết được Thánh Kinh Tân Ước diễn đạt cùng một ý tưởng đã được trình bày trong các Thi Thiên, đó là dân sự Chúa trong chức vụ thầy tế lễ thánh, bởi tất cả những điều tốt đẹp mà Ngài đã làm cho họ, họ dâng lời ngợi khen và tạ ơn Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc - là Đấng Tạo Hóa và Đấng Cứu Chuộc của mình.
Là tín đồ trong thời Tân Ước, trong vai trò của thầy tế lễ, chúng ta được kêu gọi truyền bá tin mừng Phúc âm cho thế giới. Đâu là những cách hiệu quả nhất để chúng ta thực hiện điều này?
Thứ Hai Hát Một Bài Ca Mới Cho Đức Giê-hô-va
Đọc Thi Thiên 33:3, 40:3, 96:1, 98:1, 144:9 và 149:1. Chủ đề chung trong các đoạn Kinh Thánh này là gì?
Thi Thiên kêu gọi mọi người hát một “bài ca mới”. “Bài ca mới” ở đây là gì? Lý do của “bài ca mới” là việc nhận biết uy quyền tuyệt đối và tối thượng của Chúa trên thế gian. Bên cạnh đó, đây cũng là cách họ bày tỏ lòng biết ơn về ơn chăm gìn và cứu rỗi của Ngài với tư cách là Đấng Tạo Hóa và Quan án trên đất. Dân Y-sơ-ra-ên được Đức Chúa Trời giải thoát khỏi kẻ thù, khỏi sự chết, được ban cho các ân huệ đặc biệt, và đây chính là những động cơ hơn ai hết họ phải hát “một bài ca mới”cho Ngài.
Tuy rằng, có rất nhiều bài hát ca ngợi lòng nhân từ và những điều diệu kỳ về Chúa, nhưng “bài ca mới” trong Thi Thiên là một bài ca đặc biệt, bởi nó thể hiện một niềm vui được nhen nhóm lại và hứa hẹn cho một thái độ dâng hiến hoàn toàn mới. Kinh nghiệm mới về sự giải cứu thiêng liêng truyền cảm hứng cho mọi người thừa nhận Chúa là Đấng Tạo Hóa và là Vua của họ. Chủ đề phổ biến trong các Thi Thiên là “bài ca mới”, một bài ca bày tỏ lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời, ngợi khen các công việc diệu kỳ và sự giải cứu tuyệt vời của Ngài, cùng các ơn khác nữa.
Đọc Ê-sai 42:10–12, Khải Huyền 5:9, 14:3. Chúng ta đúc kết được những gì về “bài ca mới” từ các đoạn Kinh Thánh này?
Y-sơ-ra-ên, dân sự của Đức Chúa Trời, được gọi thân mật là “một dân ở gần bên Ngài” (Thi Thiên 148:14), ám chỉ rằng trong các tạo vật, Y-sơ-ra-ên có địa vị đặc biệt hơn hết; họ có nghĩa vụ và đặc ân cao nhất mà ngợi khen Chúa. Kinh Thánh khuyến khích các tín đồ ở mọi thế hệ phải hát bài ca mới ngợi khen Đấng Cứu Chuộc của họ, bài ca là lời chứng độc đáo về sự cứu rỗi trong huyết Chiên Con. “Bài ca mới” có thể là một bài ca hoàn toàn mới chưa từng được nghe trước đây, một bài ca hồi tưởng về một kinh nghiệm sống trong ân điển của Chúa dành cho một đời người.
“Bài ca mới” cũng bày tỏ một niềm hy vọng mà trong đó sự mới chính là một trải nghiệm độc đáo chưa từng có về sự uy nghiêm của Đức Chúa Trời trong tương lai. Sự thờ phượng đích thực không chỉ là sự dâng hiến và của lễ, nhưng nó phải phản ánh mối tương quan luôn tươi mới và năng động của chúng ta với Thiên Chúa. Theo một nghĩa nào đó, có thể nói đơn giản rằng “bài ca mới” là một cách diễn đạt mới mỗi ngày về tình yêu và lòng cảm kích của chúng ta đối với những gì Thiên Chúa đã làm cho chúng ta.
Hãy ngợi khen các phước lành của Chúa trong đời sống của bạn. Nếu chúng ta phải hát một bài ca mới, thì bài ca đó sẽ là gì?
Thứ Ba Hỡi Đức Giê-hô-va, Ai Sẽ Ngụ Trong Đền Tạm Ngài?
Đọc Thi Thiên 15. Ai là người xứng đáng được thờ phượng trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời?
Câu trả lời nằm trong bảng tóm tắt luật pháp và các lời tiên tri của Đức Chúa Trời: Họ là những người làm “sự công bình” và “hết lòng” (Phục-truyền Luật-lệ Ký 6:5, Mi-chê 6:6–8), bản tánh của họ phản ánh bản tánh của Đức Chúa Trời. Đền thánh là nơi thánh, mọi vật trong đó cũng như các thầy tế lễ đều được thánh hóa. Vì vậy, sự thánh khiết là điều kiện bắt buộc để hiện diện trước mặt Đức Chúa Trời. Sự thánh khiết của Y-sơ-ra-ên phải súc tích, là sự kết hợp giữa việc thờ phượng và luân lý, nó được thể hiện từ mọi mặt của cuộc sống. Luật pháp được ban cho dân sự Chúa để họ có thể phát huy hết tiềm năng lớn mạnh nhất của mình, tức là sống như thầy tế lễ nhà Vua. Chức tế lễ nhà Vua là người phải có một đời sống thánh thiện trước mặt Đức Chúa Trời, và phải có nhiệm vụ mang các phước lành đến cho những quốc gia khác.
Đọc Thi Thiên 24:3–6 và 101:1–3. Nên thánh có nghĩa là gì?
“Lòng thanh khiết” là đức tính cao nhất của dân sự trước mặt Đức Chúa Trời. Từ Tamim hay còn gọi là “hoàn hảo” trong tiếng Do Thái truyền tải ý niệm về sự “trọn vẹn” và “nguyên vẹn”. Một cây nho “hoàn hảo” là cây còn nguyên vẹn, khỏe mạnh và không bị hư hại (Ê-xê-chi-ên 15:5). Những con vật được dâng làm của tế lễ phải là hoàn hảo, không tì vết (Lê-vi Ký 22:21–24). Sự “trọn vẹn” có nghĩa là hoàn toàn trung thực (Gióp 36:4). Vì vậy, một “tấm lòng trọn vẹn” là một tấm “lòng thanh khiết” (Thi Thiên 24:4) hay tấm lòng chân thật (Thi Thiên 15:2) luôn tìm kiếm Đức Chúa Trời (Thi Thiên 24:6) và Ngài sẽ tha thứ và chữa lành cho (Thi Thiên 51:2–10).
Một đời sống không chỗ trách xuất phát từ sự nhận biết ân điển và bản tính công bình của Đức Chúa Trời. Ân điển thiêng liêng truyền cảm hứng và giúp tôi tớ của Đức Chúa Trời sống trong sự kính sợ Ngài, nghĩa là sống trong mối thông công mật thiết và vâng phục Đức Chúa Trời. Một đời sống đạo và tận hiến là không phải tôn vinh chính mình mà phải luôn ngợi khen và tôn vinh Thiên Chúa. Những lời dạy dỗ trong Thi Thiên 15 nghe có vẻ tiêu cực (Thi Thiên 15:3–5), chúng không dạy dân sự làm hài lòng Chúa, nhưng dạy họ tránh không làm những điều khiến họ phải xa cách Chúa.
Làm thế nào chúng ta có những lựa chọn khôn ngoan để tránh những điều đẩy chúng ta xa rời Chúa? Những điều này là gì và làm thế nào chúng ta có thể tránh không vi phạm chúng?
Thứ Tư Rao Truyền Sự Vinh Hiển Của Chúa Giữa Các Dân Tộc
Đọc Thi Thiên 96. Những khía cạnh nào của sự thờ phượng mà Thi Thiên này đề cập đến?
Sự thờ phượng bao gồm hát xướng tôn vinh Chúa (Thi Thiên 96:1,2), chúc tụng danh Ngài (Thi Thiên 96:2), rao truyền lòng nhân từ, sự vĩ đại của Ngài (Thi Thiên 96:3,4), và mang lễ vật đến đền thờ Ngài (Thi Thiên 96:8). Ngoài các việc thờ phượng quen thuộc này, Thi Thiên 96 còn đề cập đến một khía cạnh không mấy quen thuộc, đó là rao truyền vương quốc của Đức Chúa Trời cho các dân tộc khác nữa (Thi Thiên 96:2,3,10).
Hát xướng, ngợi khen, dâng lễ vật và rao giảng Phúc âm không phải là những việc làm đơn lẻ, nhưng chúng là những cách thể hiện sự thờ phượng khác nhau. Việc rao truyền ơn cứu rỗi của Đức Chúa Trời cho mọi dân tộc chính là mang đến tài vật và nội dung để khen ngợi và thờ phượng Chúa. Phải biết rằng lý do thờ phượng trùng khớp với sứ điệp rao giảng cho các dân tộc, đó là: “vì Đức Giê-hô-va rất lớn” (Thi Thiên 96:4), “vì những thần của các dân tộc đều là hình tượng; Còn Đức Giê-hô-va đã dựng nên các từng trời” (Thi Thiên 96:5), “‘Chúa cai trị’" (Thi Thiên 96:10), và “vì Ngài sẽ đến để đoán xét thế gian” (Thi Thiên 96:13). Vì vậy, mục tiêu của việc truyền giáo là hợp nhất các dân tộc khác với dân Chúa, và cuối cùng toàn thể tạo vật cùng hiệp nhất trong sự thờ phượng Đức Chúa Trời (Thi Thiên 96:11–13).
Sự thờ phượng xuất phát từ sự nhận biết Chúa là ai, là Đấng Tạo Hóa, là Vua và Quan Án (Thi Thiên 96:5,10,13). Do đó, sự thờ phượng bao gồm việc tưởng nhớ những việc Đức Chúa Trời đã làm trong quá khứ (sự sáng tạo), tôn vinh những kỳ công hiện tại của Ngài (sự duy trì và tể trị thế giới hiện nay của Ngài) và dự đoán những việc làm trong tương lai của Ngài (sự phán xét trong thời kỳ cuối cùng và một cuộc sống mới trong trời và đất mới).
Sự phán xét được nói đến trong Thi Thiên là một sự khôi phục hiện trạng bình an, công lý và hạnh phúc trong một thế giới đang chịu nhiều bất công và đau khổ. Vì vậy, cả thế gian vui mừng trông chờ sự phán xét của Đức Chúa Trời (Thi Thiên 96:10–13, 98:4–9). Việc Chúa là một Quan án công bình là động lực thúc đẩy các dân hát ngợi khen Ngài trong sự thánh khiết và “run sợ”, đồng thời cũng nhắc nhở họ không được xem thường sự thờ phượng (Thi Thiên 96:9). Sự thờ phượng bao gồm cả niềm vui và sự mừng rỡ (Thi Thiên 96:1,2,11−13), Chúa là Đấng đáng được khen ngợi và kính sợ hơn hết (Thi Thiên 96:4,9).
Lời kêu gọi thờ phượng Đấng Tạo Hóa và Đấng Đoán Xét công bình trong Thi Thiên 96 được thể hiện qua sứ mạng rao truyền Phúc âm cuối cùng của Đức Chúa Trời cho thế gian, là sứ điệp của ba thiên sứ trong Khải Huyền 14:6–12. Ở nhiều phương diện, Thi Thiên 96 dường như kết nối với sứ điệp về thời kỳ sau rốt: sự sáng tạo, sự cứu rỗi (“Phúc âm đời đời”), sự thờ phượng và sự phán xét. Tất cả đều có ở đây.
So sánh Thi Thiên 96 với sứ điệp của ba thiên sứ (Khải- huyền 14:6–12). Sách này dạy như thế nào về những lẽ thật căn bản như sứ điệp về ngày sau rốt mà chúng ta phải rao truyền cho thế gian?
Thứ Năm Khi Chúa Không Ưa Thích Của Lễ
Đọc Thi Thiên 40:6–8, 50:7–23, 51:16–19. Những câu này đề cập đến vấn đề quan trọng nào? Tại sao Đức Chúa Trời không ưa những của lễ mà chính Ngài đã truyền lệnh dâng hiến (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:24)?
Cũng như các nhà tiên tri, tác giả Thi Thiên lên án những hành vi thờ phượng sai trái. Vấn đề chính ở đây không phải là Chúa có ác cảm với những của lễ dâng và các buổi lễ của dân Y- sơ-ra-ên, lý do Chúa không ưa đó là: sự thờ phượng và đời sống tâm linh sai trái dẫn đến sự chết.
Đức Chúa Trời không quở trách dân sự về của tế lễ và của lễ thiêu, nhưng Ngài quở trách họ vì cớ sự gian ác và sự bất công mà họ đã làm trong đời sống của mình (Thi Thiên 50:8, 17–21). Thi Thiên không rao truyền sứ mạng chống lại của tế lễ và sự thờ phượng nhưng chống lại của tế lễ vô ích và sự thờ phượng trống rỗng, qua đời sống bất chính của các tín đồ.
Khi tính hiệp nhất giữa hình thức thờ phượng và động lực thờ phượng không đồng bộ, thì các nghi lễ thường trở nên quan trọng hơn là mối tương giao gần với Chúa. Nghĩa là, các hình thức thờ phượng cuối cùng chỉ tôn vinh chính nó; đi ngược lại với Đức Chúa Trời là Đấng mà lẽ ra phải được tôn vinh và rao truyền.
Đọc Giăng 4:23,24. Đức Chúa Giê-su đưa ra quan điểm nào ở đây hoàn toàn phù hợp với những gì Thi Thiên đang cảnh báo chúng ta?
Chỉ của tế lễ thôi thì chưa đủ. Của tế lễ có ích gì nếu lòng của người không thật sự ăn năn, không trung tín và không đau buồn về tội lỗi? Chỉ khi có sự ăn năn thật và lòng biết ơn chân thành thì con sinh tế mới được Đức Chúa Trời xem là “của lễ công bình” (Thi Thiên 51:19, Thi Thiên 50:14). Đức Chúa Giê-su trích dẫn sách Ê-sai để dạy dỗ về điều này rằng: “Dân nầy lấy môi miếng thờ kính ta; Nhưng lòng chúng nó xa ta lắm” (Ma-thi-ơ 15:8). Những vấn đề mà tác giả Thi Thiên nhìn thấy cũng chính là những vấn đề mà Đức Chúa Giê-su gặp phải với một số người, đặc biệt là các nhà lãnh đạo tôn giáo, khi Ngài còn ở trên đất.
Với tư cách là tín đồ Cơ-đốc Phục Lâm (là người có sự sáng và đầy đủ kiến thức về Lẽ thật), làm thế nào chúng ta biết chắc mình sẽ không rơi vào bẫy cám dỗ của ma quỷ khi cho rằng chỉ cần biết Lẽ thật và thực hiện các nghi lễ là đủ cả?
Thứ Sáu Nghiên Cứu Bổ Túc
NGHIÊN CỨU BỔ TÚC
Đọc Ellen G. White, “Cách Cầu Nguyện,” trang 39–42, trong A Call to Stand Apart.
Trọng tâm của sự thờ phượng là phải ăn năn, một sự ăn năn thật: “Sự ăn năn thật là sự đau buồn về tội lỗi và từ bỏ nó. Chúng ta sẽ không từ bỏ việc làm tội lỗi trừ khi chúng ta nhìn biết nó là tội lỗi; sẽ không có sự thay đổi thật sự nào xảy ra, nếu lòng chúng ta không quay lưng lại với tội lỗi”. Có nhiều người không hiểu được bản chất thật sự của sự ăn năn. Họ đau buồn vì đã phạm tội và cố gắng cải thiện mọi thứ vì sợ lãnh hậu quả cho những sai phạm của chính mình. Nhưng đây không phải là sự ăn năn theo sự dạy dỗ của Kinh Thánh, bởi họ than thở về sự đau khổ hơn là ăn năn tội. Đó là nỗi đau buồn của Ê-sau khi ông biết quyền trưởng nam đã bị mất khỏi tay mình mãi mãi; là Balaam khiếp sợ trước thiên sứ cầm kiếm đứng chắn đường mình, ông đã thừa nhận tội lỗi của mình vì sợ phải mất mạng, nhưng ông không có sự ăn năn thật sự về tội lỗi, không từ bỏ mục đích, và không ghê tởm điều ác. Và Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, sau khi phản bội Chúa mình, đã kêu lên: ‘Tôi đã phạm tội vì nộp huyết vô tội!’ Ma-thi-ơ 27:4.”—Ellen G. White, Con Đường Bình An, trang 22, 23.
“Mặc dù Đức Chúa Trời không ngự trong đền thờ do tay người dựng nên, nhưng Ngài luôn hiện diện và tôn trọng sự nhóm lại của dân Ngài. Ngài đã hứa khi họ đến với nhau để tìm kiếm Ngài, ăn năn tội lỗi của mình và cầu nguyện cho nhau, thì Ngài sẽ gặp họ qua Đức Thánh Linh của Ngài. Nhưng những ai nhóm lại để thờ phượng Chúa phải từ bỏ mọi điều ác. Nếu họ không thờ phượng Ngài bằng tâm thần, lẽ thật và vẻ đẹp thánh thiện, thì việc họ đến với nhau sẽ vô ích. Chúa đã phán: “Dân này lấy môi miếng mà thờ kính Ta; nhưng lòng chúng lại xa Ta lắm” (Ma-thi-ơ 15:8, 9). Những ai thờ phượng Đức Chúa Trời phải thờ phượng Ngài “bằng tâm thần và lẽ thật: vì ấy là những kẻ thờ phượng mà Cha ưa thích.” (Giăng 4:23)”—Ellen G. White, Tiên Tri Và Các Vua, tr. 50.
Câu hỏi thảo luận:
Của dâng lớn nhất mà chúng ta có thể dâng lên cho Đức Chúa Trời là gì (Thi Thiên 40:6–10; Rô-ma 12:1,2)?
Việc thờ phượng cá nhân và thờ phượng tại hội chúng có liên quan với nhau như thế nào? Tại sao chúng ta thật sự cần cả hai? Làm thế nào cả hai việc thờ phượng có thể cũng cố cho nhau?
Nhiều người hiểu sự thờ phượng chỉ liên quan đến việc cầu nguyện, hát Thánh ca, nghiên cứu Kinh Thánh và trau dồi tâm linh. Tuy rằng các hoạt động này là cần thiết cho việc thờ phượng, nhưng sự thờ phượng có bị giới hạn chỉ ở các hoạt động này không? Hãy cho biết một số hình thức thờ phượng khác.
Bà Ellen G. White đã viết: “Không nên xem sự dâng hiến của anh em như một việc làm bị ép uổng và khổ sở. Được thờ phượng Chúa và tham gia vào công việc của Ngài phải là một niềm vui”. Làm thế nào để việc thờ phượng Chúa có thể trở thành một niềm vui? — Con Đường Bình An, trang 10.