Bài Học 2 · 1 – 7 Tháng 7

Kế hoạch vĩ đại của Đức Chúa Trời đặt Đấng Cơ-đốc làm trung tâm

Kinh Thánh Nghiên Cứu: Ê-phê-sô 1:3–14; Ê-phê-sô 2:6; Ê-phê-sô 3:10; Cô-lô-se 1:13,14; Phục truyền 9:29

"Ngợi khen Đức Chúa Trời, Cha Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc chúng ta, Ngài đã xuống phước cho chúng ta trong Đấng Cơ-đốc đủ mọi thứ phước thiêng liêng ở các nơi trên trời" — Ê-phê-sô 1:3
Sa-bát Kế Hoạch Vĩ Đại Của Đức Chúa Trời Đặt Đấng Cơ-đốc Làm Trung Tâm

Câu gốc

“Ngợi khen Đức Chúa Trời, Cha Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc chúng ta, Ngài đã xuống phước cho chúng ta trong Đấng Cơ-đốc đủ mọi thứ phước thiêng liêng ở các nơi trên trời” (Ê-phê-sô 1:3).

Kinh Thánh nghiên cứu

Ê-phê-sô 1:3–14; Ê-phê-sô 2:6; Ê-phê-sô 3:10; Cô-lô-se 1:13,14; Phục truyền 9:29.

Hai mươi lăm năm sau khi trở thành người đầu tiên đi trên mặt trăng, Neil Armstrong đã viết lời cảm ơn đội ngũ sáng tạo đã thiết kế bộ đồ dành cho phi hành đoàn, Đơn Vị Di Động Ngoài Vũ Trụ (Extravehicular Mobility Unit) [EMU], nhờ bộ đồ đó mà ông đã thực hiện được những bước đi lịch sử. Gọi đó là “tàu vũ trụ được chụp nhiều ảnh nhất trong lịch sử” và lời nói đùa rằng nó đã thành công trong việc che giấu “người chủ xấu xí của nó” khỏi tầm nhìn, Armstrong đã cảm ơn “Nhóm EMU” tại trung tâm vũ trụ Johnson về bộ đồ “bền chắc, đáng tin cậy và hầu như ôm chặt” đã gìn giữ mạng sống của ông, gởi đến họ “lời cảm ơn và ngợi khen có giá trị một phần tư thế kỷ”.

Phao-lô bắt đầu bức thư gởi cho người Ê-phê-sô với lời tạ ơn trang trọng, ngợi khen Đức Chúa Trời vì những ơn phước Ngài đã tuôn đổ, những ơn phước cần thiết cho đời sống của các tín hữu như bộ đồ vũ trụ dành cho những người đi bộ trên mặt trăng. Phao-lô cho rằng, Đức Chúa Trời đã ban những ơn phước cần thiết này từ “trước khi sáng thế” (Ê-phê-sô 4:1) và ngợi khen Đức Chúa Trời vì công việc của Ngài trải qua mọi thời đại vì lợi ích của các tín hữu.

Do Phao-lô mở đầu, thư tín Ê-phê-sô đặc biệt quan trọng trong việc bày tỏ cách thờ phượng và tôn vinh Đức Chúa Trời vì muôn vàn ơn phước mà Ngài đã ban cho.

* Nghiên cứu bài học tuần này để chuẩn bị cho Sa-bát ngày 9 tháng 7.

Thứ Nhất Được Chọn Và Được Chấp Nhận Trong Đấng Cơ-đốc

Lời cảm ơn thường bao gồm sự mô tả về ân tứ hay những ơn phước mà mình đã nhận được. Phao-lô kể ra một danh sách dài ân tứ trong Ê-phê-sô 1:3-14 khi ông tạ ơn Đức Chúa Trời vì phước lành của phúc âm.

Phao-lô ngợi khen Đức Chúa Trời vì Ngài đã “xuống phước cho chúng ta trong Đấng Cơ-đốc đủ mọi thứ phước thiêng liêng” (Ê-phê-sô 1:3). Các phước lành thiêng liêng (tiếng Hy Lạp là Pneumatikos) chứng tỏ rằng các phước ấy đến từ Thánh Linh (Pneuma), cho thấy phần kết trong lời chúc phước của Phao-lô ca ngợi việc làm của Thánh Linh trong đời sống của các tín hữu (Ê-phê-sô 1:13,14).

Ê-phê-sô 1:3-6 chứa đựng ngôn ngữ truyền cảm về cách Đức Chúa Trời quan sát chúng ta qua Đấng Cơ-đốc. Trước khi tạo nên thế gian, Đức Chúa Trời đã chọn chúng ta trong Đấng Cơ-đốc và ý định của Ngài là chúng ta phải “nên thánh không chỗ trách được” trước mặt Ngài (Ê-phê-sô 1:4; so sánh với Ê-phê-sô 5:27), và là những con trai con gái yêu quý bằng phẩm hạnh của cả sự sáng tạo và sự cứu chuộc trong Đấng Cơ-đốc (Ê-phê-sô 1:5). Kể từ khi mặt trời bắt đầu chiếu sáng, mục đích của Ngài là chúng ta phải được “chấp nhận trong Con yêu dấu của Ngài” (Ê-phê-sô 1:6). Tóm lại, ý định của Đức Chúa Trời là muốn chúng ta được cứu. Chúng ta đánh mất sự cứu rỗi chỉ vì những chọn lựa tội lỗi của chính mình.

Cụm từ “các nơi trên trời” có ý nghĩa gì trong Ê-phê-sô (nơi duy nhất sử dụng cụm từ này trong Tân Ước)? Nghiên cứu cách sử dụng của cụm từ. (Xem Ê-phê-sô 1:3,20; Ê-phê-sô 2:6; Ê-phê-sô 3:10; Ê-phê-sô 6:12; so sánh cách sử dụng cụm từ “cả nhà trên trời,” Ê-phê-sô 3:15, Ê-phê-sô 4:10, Ê-phê-sô 6:9).

Trong thư Ê-phê-sô cụm từ “các nơi trên trời”, “cả nhà trên trời” hoặc “trên trời” đều chỉ về thiên đàng là nơi Đức Chúa Trời đang ngự (Ê-phê-sô 1:3, Ê-phê-sô 6:9), nơi của các quyền năng thiêng liêng (Ê-phê-sô 1:10,20,21; Ê-phê-sô 3:10,15; Ê-phê-sô 6:12), nơi sự tôn cao của Đấng Cơ-đốc được ở bên hữu Đức Chúa Cha (Ê-phê-sô 1:20). Hiện tại các tín hữu được đến gần “các nơi trên trời” này như là nơi những ơn phước thiêng liêng được ban cho qua Đấng Cơ-đốc (Ê-phê-sô 1:3; Ê-phê-sô 2:6). Mặc dầu, “các nơi trên trời” đã trở thành nơi ban phước cho những tín hữu, nhưng chúng vẫn là nơi xung đột với các quyền lực gian ác đang tranh giành quyền tể trị của Đấng Cơ-đốc (Ê-phê-sô 3:10, Ê-phê-sô 6:12).

Hãy lưu ý Ê-phê-sô 1:4, câu này nói rằng chúng ta đã được chọn trong Ngài, Đấng Cơ-đốc, “trước khi sáng thế”. Điều đó có nghĩa là gì? Nó bày tỏ như thế nào về tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta và sự mong muốn của Ngài là cứu chúng ta?

Thứ Hai Sự Cứu Chuộc Quá Đắt, Sự Tha Thứ Dồi Dào

Tội lỗi đã từng là một thế lực đen tối, thống trị trên đời sống các thính giả của Phao-lô. Phao-lô mô tả đời sống họ trước kia như là xác chết biết đi - “chết vì lầm lỗi và tội ác mình” (Ê-phê-sô 2:1), nhưng “bước đi” hay sống là bởi Sa-tan đã điều khiển họ (Ê-phê-sô 2:1-3). Làm nô lệ của tội lỗi và Sa-tan, họ không có khả năng tự giải thoát. Họ cần được giải cứu. Bởi lòng nhân từ, Đức Chúa Trời đã thực hiện điều này qua Đấng Cơ-đốc và Phao-lô ca ngợi hai ân phước mới của ân điển Đức Chúa Trời trong đời sống của các tín hữu: sự cứu chuộc và sự tha thứ.

Đọc Ê-phê-sô 1:7,8. “Cứu chuộc” là một tư tưởng thường xuyên được sử dụng trong Tân Ước. So sánh cách sử dụng tư tưởng này trong Cô-lô-se 1:13,14; Tít 2:13,14; và Hê-bơ-rơ 9:15. Những câu Kinh Thánh này có cùng chủ đề gì với Ê-phê-sô 1:7,8?

Tiếng Hy Lạp dịch “sự cứu chuộc” trong Ê-phê-sô 1:7 là apolutrõsis, nguồn gốc của từ này là dùng cho việc mua sự tự do cho một nô lệ hay trả tiền để giải phóng một tù nhân. Người ta có thể nghe tiếng vang dội của người buôn nô lệ bán đấu giá món hàng của mình và âm thanh lạnh lùng chói tai phát ra từ những xiềng xích của nô-lệ. Khi Tân Ước nói đến sự cứu chuộc là nhấn mạnh đến giá rất đắt phải trả cho sự tự do của các nô lệ.

Sự tự do của chúng ta được trả với cái giá vô cùng đắt. “Ấy là trong Đấng Cơ-đốc, chúng ta được cứu chuộc bởi huyết Ngài” (Ê-phê-sô 1:7). Ý tưởng về sự cứu chuộc cũng ca ngợi lòng nhân từ bao la của Đức Chúa Trời trong việc trả một giá quá đắt cho sự tự do của chúng ta. Đức Chúa Trời ban cho chúng ta sự tự do và phẩm cách. Chúng ta không còn là nô lệ nữa!

“Được cứu chuộc là được đối xử như một con người chứ không phải là một đồ vật. Chúng ta trở thành công dân của thiên đàng, không còn là nô lệ của thế gian” - Alister E. McGrath, Đức Chúa Trời đã làm gì trên thập giá? (Grand Rapids, MI: Zondervan, 1992), trang 78.

Xin cẩn thận lưu ý với tư tưởng rằng Đức Chúa Trời trả giá cứu chuộc cho Sa-tan là ý tưởng thời trung cổ, không phải ý tưởng trong Kinh Thánh. Đức Chúa Trời không thiếu nợ cũng không phải trả cho Sa-tan bất cứ thứ gì.

Những lợi ích nơi Đồi Sọ cũng bao gồm việc “được tha tội” (Ê-phê-sô 1:7). Trên thập tự, Đấng Cơ-đốc đã gánh lấy trên chính mình Ngài cái giá phải trả cho tội lỗi của chúng ta, cả quá khứ và tương lai, “xóa tờ khế lập nghịch cùng chúng ta, các điều khoản trái với chúng ta nữa” (Cô-lô-se 2:14). Khi làm công việc cứu chuộc và tha thứ qua Đấng Cơ-đốc, Đức Chúa Trời đang hành động như Người Cha đầy lòng khoan dung, với “sự dư dật của ân điển Ngài” trở nên “đầy dẫy trên chúng ta” (Ê-phê-sô 1:7,8).

Nhờ sự hy sinh chuộc tội của Đấng Cơ-đốc mà bạn được tha thứ và được cứu chuộc, điều này có ý nghĩa gì với bạn? Nếu bạn cảm thấy rằng mình không xứng đáng về điều đó? (Gợi ý: bạn không xứng đáng, đó là toàn bộ giá trị của thập giá).

Thứ Ba Kế Hoạch Vĩ Đại Của Đức Chúa Trời Đặt Đấng Cơ-đốc Làm Trung Tâm

“Sự định trước đó trong khi kỳ mãn” của Đức Chúa Trời là gì, và phạm vi ảnh hưởng của “sự định trước đó” rộng lớn đến mức nào? Đọc Ê-phê-sô 1:9,10.

Kế hoạch của Đức Chúa Trời được Phao-lô mô tả theo ba cách. Đó là (1) “sự mầu nhiệm của ý muốn Ngài”, (2) “ý định của Ngài”, và (3) “sự định trước đó trong khi kỳ mãn”. Kế hoạch quan trọng cuối cùng của Đức Chúa Trời là gì? Hội hiệp muôn vật ở khắp nơi trong Đức Chúa Giê-su.

Thuật ngữ mà Phao-lô dùng để mô tả kế hoạch cho thấy đó là một kế hoạch sống động, phong phú (tiếng Hy Lạp là anakephalaiõsasthai), là “dẫn đầu” hay “tổng kết” mọi sự trong Đấng Cơ-đốc. Trong sổ sách kế toán thời cổ đại, bạn phải “cộng” cột của các con số và đặt tổng số lên trên đầu. Đức Chúa Giê-su đứng đầu trong kế hoạch cuối cùng của Đức Chúa Trời. Kế hoạch mà Đấng Cơ-đốc là trung tâm này được lập ra “trước khi sáng thế” (Ê-phê-sô 1:4) và nó rộng lớn đến nỗi bao gồm mọi thời đại (“trong khi kỳ mãn”) và khoảng cách (“muôn vật… cả vật trên trời và vật ở dưới đất”). Phao-lô công bố sự hiệp nhất trong Đấng Cơ-đốc là mục tiêu vĩ đại và thiêng liêng cho toàn thể vũ trụ.

Khi nói về “sự định trước đó trong khi kỳ mãn” của Đức Chúa Trời (Ê-phê-sô 1:10), Phao-lô chia sẻ chủ đề mà ông sẽ đan dệt qua bức thư. Đức Chúa Trời bắt đầu kế hoạch của Ngài để hiệp muôn vật lại, bắt nguồn từ sự chết, sự phục sinh, sự thăng thiên và sự tôn cao của Đức Chúa Giê-su (Ê-phê-sô 1:15–2:10), bằng cách thành lập Hội Thánh và hiệp nhất các yếu tố khác nhau của nhân loại, người Giu-đa và người Ngoại, trong Hội Thánh (Ê-phê-sô 2:11-3:13).

Bằng cách này, Hội Thánh ra dấu hiệu cho các thế lực của ma quỉ biết rằng kế hoạch của Đức Chúa Trời đang được thực hiện và sự cai trị gây chia rẽ của chúng sẽ kết thúc (Ê-phê-sô 3:10). Như Kinh Thánh đã nói trong Khải Huyền 12:12: “Vì ma quỉ biết thì giờ mình còn chẳng bao nhiêu, nên giận hoảng mà đến cùng các ngươi”.

Nửa phần sau của bức thư, Phao-lô mở đầu với lời kêu gọi tha thiết về sự hiệp nhất (Ê-phê-sô 4:1-16) và tiếp tục với lời khuyên thật dài để tránh những thói quen làm tổn hại đến sự hiệp nhất và thay vào đó, xây dựng tinh thần đoàn kết trong anh em đồng đức tin (Ê-phê-sô 4:17-6:9). Phao-lô kết luận bằng hình ảnh sống động về Hội Thánh như là một đội quân hiệp nhất, được mang danh Đấng Cơ-đốc, hăng hái tham gia vào cuộc chiến vì hòa bình (Ê-phê-sô 6:10-20).

Làm thế nào bạn có thể chấp nhận và tận hưởng sự thật rằng sự cứu chuộc mà bạn đã trải nghiệm trong Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc là một phần quan trọng trong kế hoạch tuyệt vời và được Đức Chúa Trời cân nhắc kỹ lưỡng để hội hiệp mọi sự trong Đấng Cơ-đốc?

Thứ Tư Sống Ngợi Khen Sự Vinh Hiển Của Ngài

“Ấy cũng là trong Ngài mà chúng ta đã nên kẻ dự phần kế nghiệp, như đã định trước cho chúng ta được điều đó, theo mạng của Đấng làm mọi sự hiệp với ý quyết đoán, hầu cho sự vinh hiển của Ngài nhờ chúng ta là kẻ đã trông cậy trong Đấng Cơ-đốc trước nhất mà được ngợi khen” (Ê-phê-sô 1:11,12).

Những tín hữu ở Ê-phê-sô dường như không còn nhận thức rõ ràng họ là những Cơ-đốc nhân, họ đã “ngã lòng” (xem Ê-phê-sô 3:13). Phù hợp với những gì ông đã khẳng định trước đó (Ê-phê-sô 1:3-5), một lần nữa, Phao-lô mong ước nâng cao danh tính của họ như là những Cơ-đốc nhân. Các tín hữu không phải là nạn nhân của những quyết định tùy tiện, bừa bãi của các vị thần khác nhau hay của các thế lực siêu nhiên. Họ là con cái của Đức Chúa Trời (Ê-phê-sô 1:5), bởi Đấng Cơ-đốc và theo những lời khuyên sâu sắc, cùng những quyết định không bao giờ thay đổi của Đức Chúa Trời mà họ được hưởng nhiều ơn phước. Đó là mục đích, lời khuyên và ý muốn của Đức Chúa Trời (Ê-phê-sô 1:11) đang được thực hiện trong đời sống của họ, hầu phù hợp với kế hoạch vĩ đại của Ngài để hiệp hội muôn vật trong Đấng Cơ-đốc (Ê-phê-sô 1:10). Họ sẽ có niềm tin vững vàng trước mặt Đức Chúa Trời và trong sự ảnh hưởng sâu sắc về những phước lành mà Ngài đã ban cho họ. Đời sống của họ phải là sứ điệp được ban ra như trong Ê-phê-sô 1:3-14: “Ngợi khen Đức Chúa Trời, Cha Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc chúng ta!”.

So sánh việc sử dụng ý tưởng “cơ nghiệp” trong Ê-phê-sô 1:11,14,18. Bạn nghĩ tại sao ý tưởng này quan trọng đối với Phao-lô?

Có bao giờ bạn được thừa hưởng cơ nghiệp từ một người quá cố nào chưa? Có thể một người bà con để lại cho bạn một kho báu quý giá hay một số tiền đáng kể. Theo quan điểm của Phao-lô, nhờ vào sự chết của Đức Chúa Giê-su mà Cơ-đốc nhân mới nhận được cơ nghiệp từ Đức Chúa Trời (Ê-phê-sô 1:14) và trở thành “cơ nghiệp” của Đức Chúa Trời (Ê-phê-sô 1:18).

Trong thời Cựu Ước, đôi khi dân sự Đức Chúa Trời được xem như là “cơ nghiệp” hoặc sản nghiệp của Ngài (Phục truyền 9:29, Phục truyền 32:9; Xa-cha-ri 2:12). Cảm giác của việc trở thành hay trở nên cơ nghiệp của Đức Chúa Trời rất rõ ràng trong Ê-phê-sô 1:18 và cũng có thể là ý nghĩa của thuật ngữ trong Ê-phê-sô 1:11 (sau này được dịch là: “Ấy cũng là trong Ngài mà chúng ta đã nên kẻ dự phần kế nghiệp”). Là yếu tố chính trong bản sắc Cơ-đốc nhân của họ, Phao-lô mong ước các tín hữu biết giá trị của họ đối với Đức Chúa Trời. Họ không những sở hữu cơ nghiệp từ Đức Chúa Trời (Ê-phê-sô 1:14, Ê-phê-sô 3:6, so sánh với Ê-phê-sô 5:5), mà họ còn là cơ nghiệp của Ngài.

Thay vì được thừa hưởng một điều gì đó, chúng ta phải làm việc cật lực để được nó. Giữa hai sự việc đó chúng ta thấy có sự khác biệt nào? Ý tưởng này giúp chúng ta hiểu như thế nào về những gì mà chúng ta được ban cho trong Đức Chúa Giê-su?

Thứ Năm Đức Thánh Linh: Ấn Chứng Và Của Cầm

Trong Ê-phê-sô 1:13,14, Phao-lô kể vắn tắt câu chuyện cải đạo cho các độc giả của ông. Những bước trong câu chuyện đó là gì?

Khi khám phá tầm quan trọng của Đức Thánh Linh trong đời sống của các tín hữu, Phao-lô sử dụng hai hình ảnh hay hai ẩn dụ chỉ về Đức Thánh Linh. Hình ảnh trước tiên mà ông nói về Đức Thánh Linh là “ấn chứng”, xác nhận sự hiện diện của Đức Thánh Linh, nhưng không thể thấy được, khi một người tin Chúa. Vào thời cổ đại, con dấu được xử dụng một cách rộng rãi cho nhiều chức năng: xác thực những bản sao của luật pháp và các hợp đồng, xác nhận chất lượng hay số lượng của những điều gì đó được chứa bên trong (ví dụ: Ê-xê-chi-ên 28:12), hoặc làm chứng về những giao dịch (ví dụ: Giê-rê-mi 32:10-14,44), các hợp đồng, thư từ (ví dụ: 1 Các Vua 21:8), di chúc và việc nhận làm con nuôi. Được đóng dấu lên một vật, con dấu tuyên bố quyền sở hữu và được bảo đảm. Sự hiện diện của Đức Thánh Linh trong đời sống các tín hữu là dấu ấn cho biết họ thuộc về Đức Chúa Trời và truyền đạt lời hứa của Ngài để bảo vệ họ (so sánh Ê-phê-sô 4:30). Họ đã được “ấn chứng bằng Đức Thánh Linh là Đấng Chúa đã hứa” (Ê-phê-sô 1:13).

“Phao-lô nói rõ ràng rằng, ngay thời điểm một người dâng đời sống mình cho Đức Chúa Giê-su và tin Ngài, thì Đức Thánh Linh sẽ đóng ấn (động từ tiếng Hy Lạp là sphragizo) người đã tin nhận Đấng Cơ-đốc ấy cho ngày cứu chuộc. Thật là một lẽ thật cứu rỗi và bảo đảm tuyệt vời! Đức Thánh Linh đóng ấn trên những tín hữu của Đấng Cơ-đốc bằng ấn cứu chuộc ngay lần đầu tiên họ xưng nhận đức tin” - Jiří Moskala, “Misinterpreted End-time Issues: Five Myths in Adventism,” Journal of the Adventist Theological Society 28, no. 1 (2017), trang 95.

Hình ảnh thứ nhì mà Phao-lô dùng để chỉ về Đức Thánh Linh là “sự bảo đảm”. Đức Thánh Linh là sự bảo đảm cho cơ nghiệp của chúng ta, là lúc mà cơ nghiệp được ban cho cách đầy đủ (so sánh 2 Cô-rinh-tô 1:22, 2 Cô-rinh-tô 5:5).

Từ “bảo đảm” mượn từ tiếng Hê-bơ-rơ (arrabon) được sử dụng rộng rãi trong tiếng Hy lạp thông thường hay tiếng Hy lạp Koine trong thời Tân Ước để chỉ về “khoản trả góp đầu tiên”, “tiền đặt cọc”, hoặc “của cầm” yêu cầu người trả phải thực hiện các khoản thanh toán bổ sung.

Xin nhớ rằng, các tín hữu không trả khoản tiền đặt cọc này, nhưng nhận nó từ Đức Chúa Trời. Phao-lô nói, sự hiện diện quý báu đầu tiên của Đức Thánh Linh trong đời sống của các tín hữu là khoản trả đầu tiên của việc thừa kế trọn vẹn về sự cứu rỗi, mà sự cứu chuộc trọn vẹn đó sẽ xảy ra khi Đấng Cơ-đốc hồi lai. Công việc của chúng ta là tin nhận với tấm lòng đầu phục và biết ơn về những gì chúng ta có được trong Đức Chúa Giê-su.

Thứ Sáu Nghiên Cứu Bổ Túc

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC

Có phải Ê-phê-sô 1:3-14 dạy rằng Đức Chúa Trời định trước tương lai của con người, định trước một số người được sự sống đời đời và những người khác thì bị chết mất mãi mãi? Thật không may, nhiều người đã tin vào điều này. Nhưng xin hãy xem kỹ những ý tưởng này:

1. Trong đoạn Kinh Thánh này, vai trò của Đấng Chrsit chính là điều quyết định, vì sự chọn lựa thánh để nhận chúng ta làm con nuôi là “bởi Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc” (Ê-phê-sô 1:5) hay “trong Ngài” (Ê-phê-sô 1:4,11). Điều này cho thấy rằng sự chọn lựa và định trước của Đức Chúa Trời được thực hiện đối với tất cả những ai chọn tin vào Đấng Cơ-đốc, chứ không phải Ngài dựa trên từng trường hợp, để chọn ai sẽ được cứu hay ai sẽ bị chết mất ngay cả trước khi con người được sanh ra. Sự quyết định của Đức Chúa Trời là sự đáp lại thiêng liêng, đã được xem xét kỹ và xác định đối với những ai đặt niềm tin trong Đấng Cơ-đốc.

2. Ê-phê-sô 1:3-14 cũng dùng ngôn ngữ sâu sắc liên quan đến công việc cứu chuộc của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời là “Cha”, và chúng ta là “con nuôi” của Ngài (Ê-phê-sô 1:3-5), là những người nhận phước hạnh dư dật của Ngài (Ê-phê-sô 1:8). Chúng ta phải hiểu ngôn ngữ nói về sự chọn lựa hay định trước của Đức Chúa Trời dưới ánh sáng của ngôn ngữ có mối quan hệ rộng rãi này. Đức Chúa Trời không phải là một quan tòa vô cảm, xa cách, đưa ra những bản án từ xa, nhưng Ngài là người Cha quan tâm đến tất cả con cái của Ngài (xem Ê-phê-sô 3:15).

Việc Đức Chúa Trời tôn trọng sự chọn lựa của con người được nói đến trong Ê-phê-sô 1:3-14 (đặc biệt trong Ê-phê-sô 1:13, trong đó “nghe” và “tin” được cho là quan trọng), ở những nơi khác trong thư (Ê-phê-sô 2:8, Ê-phê-sô 3:17, Ê-phê-sô 4:1-6:20, tất cả đều nhấn mạnh hoặc xác định việc thực hiện sự lựa chọn và đáp lại của đức tin), và trong những phần khác trong Tân Ước (ví dụ: 1 Ti-mô-thê 2:4; Công vụ 17:22-31). Hoặc, như bà Ellen G. White đã bày tỏ: “Trong sự ban cho độc nhất của Con Ngài, Đức Chúa Trời đã bao phủ toàn thế giới bằng bầu không khí ân điển thật như là không khí đang lưu thông khắp địa cầu. Tất cả những ai chọn để hít thở bầu không khí mang lại sự sống này, thì sẽ sống và lớn lên theo tầm vóc của những người nam người nữ trong Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc” – Con Đường Bình An, trang 68.

Câu hỏi thảo luận:

Bạn có thể thêm những lý lẽ nào vào lập luận trên, để củng cố ý tưởng rằng Đức Chúa Trời không chọn ai sẽ được cứu và ai sẽ bị hư mất, trước khi chúng ta được tạo nên?

Quyết định cuối cùng của ai để xác định liệu một người có nhận được sự cứu rỗi trong Đức Chúa Giê-su hay không?

“Ấy là trong Đấng Cơ-đốc, chúng ta được cứu chuộc bởi huyết Ngài, được tha tội, theo sự dư dật của ân điển Ngài” (Ê-phê-sô 1:7). Câu này bày tỏ như thế nào về lẽ thật cứu rỗi chỉ bởi đức tin chứ không phải bởi các việc làm của luật pháp?