Một thành loạn lạc
Kinh Thánh Nghiên Cứu: Khải-huyền 17:1,2,15; Khải-huyền 18:1-4; Khải-huyền 17:4-6; Ma-thi-ơ 16:18; Giê-rê-mi 50:33-38; Thi-thiên 115:4-8
"Chúng chiến tranh cùng Chiên Con, Chiên Con sẽ được thắng, vì là Chúa của các chúa, Vua của các vua; và những kẻ được kêu gọi, những kẻ được chọn cùng những kẻ trung tín đều ở với Chiên Con, cũng thắng được chúng nữa" — Khải-huyền 17:14
Sa-bát Một thành loạn lạc
Câu Gốc
“Chúng chiến tranh cùng Chiên Con, Chiên Con sẽ được thắng, vì là Chúa của các chúa, Vua của các vua; và những kẻ được kêu gọi, những kẻ được chọn cùng những kẻ trung tín đều ở với Chiên Con, cũng thắng được chúng nữa” (Khải-huyền 17:14).
Kinh Thánh Nghiên Cứu
Khải-huyền 17:1,2,15; Khải-huyền 18:1-4; Khải-huyền 17:4-6; Ma-thi-ơ 16:18; Giê-rê-mi 50:33-38; Thi-thiên 115:4-8.
Đề tài thiện ác tranh đấu tranh được tóm tắt trong Khải-huyền với biểu tượng của hai người đàn bà: một người đàn bà có mặt trời bao bọc, dưới chân có mặt trăng trong Khải-huyền 12, và một người mặc áo màu tía màu điều, trong Khải-huyền 17.
Khải huyền 12 chứa đựng biểu tượng đáng chú ý về người đàn bà có mặt trời bao bọc, trong vinh quang rực rỡ của Đấng Cơ-đốc. Nàng chung thủy thật sự với tình yêu của mình là Đức Chúa Giê-su. Nàng không bị ô uế bởi những giáo lý sai lạc. Xuyên suốt Kinh Thánh, một người đàn bà trong trắng tượng trưng cho cô dâu của Đức Chúa Giê-su, hay Hội Thánh chân chính. Giê-rê-mi 6:2 nói, “con gái đẹp đẽ yểu điệu của Si-ôn”. Dân sự Đức Chúa Trời được tiên tri mô tả là “con gái của Si-ôn” hay một người đàn bà chung thủy để mô tả con dân Đức Chúa Trời. (Ê-phê-sô 5:25–32 và Ô-sê 2:20).
Mặt khác, Kinh Thánh so sánh sự bội đạo với sự dâm ô hoặc ngoại tình (Gia-cơ 4:4). Ê-xê-chi-ên kêu than: “mầy là đàn bà ngoại tình, tiếp người lạ thay vì chồng mình.” (Ê-xê-chi-ên 16:32).
Trong bài học tuần này, chúng ta sẽ xem xét ý nghĩa thuộc linh của hai người đàn bà này trong sách Khải-huyền và đi sâu hơn vào cuộc chiến giữa lẽ thật và sự giả dối.
* Nghiên cứu bài học tuần này để chuẩn bị cho Sa-bát 27 tháng 5.
Thứ Nhất Hai Hệ Thống Đối Nghịch Nhau
Đọc Khải-huyền 12:17 và 17:14. Hội Thánh của Đức Chúa Trời được miêu tả như thế nào, và Sa-tan phản ứng gì đối với Hội Thánh đó?
Đức Chúa Trời luôn có những người trung tín với Ngài qua nhiều thế kỷ. Sự trung tín của họ được mô tả trong Khải-huyền 12:17 là của những người “giữ các điều răn của Đức Chúa Trời”, và họ cũng được mô tả ở chỗ khác là “những kẻ được kêu gọi, những kẻ được chọn cùng những kẻ trung tín” (Khải-huyền 17:14).
Đọc Khải-huyền 14:8 và Khải-huyền 17:1,2. Thiên sứ đưa ra lời thông báo long trọng nào, và Ba-by-lôn đã làm gì để xứng đáng với lời tuyên bố như vậy?
Sách Khải-huyền được Giăng viết vào gần cuối thế kỷ thứ nhất. Thành phố cổ Ba-by-lôn vào thời điểm này là một đống tro tàn. Thành phố Ba-by-lôn theo nghĩa đen đã bị tàn phá qua nhiều thế kỷ khi Giăng ghi lại các sứ điệp trong sách Khải-huyền.
Thành phố cổ Ba-by-lôn được coi là một kiểu mẫu hay biểu tượng của Ba-by-lôn thời kỳ cuối cùng trong sách Khải-huyền. Trong những lời tiên tri của sách Khải-huyền, Ba-by-lôn được miêu tả như một hệ thống tôn giáo sai lạc với những đặc điểm có thể so sánh với Ba-by-lôn trong Cựu Ước. Các nguyên tắc chi phối Ba-by-lôn cổ đại sẽ đóng vai trò là nền tảng cho Ba-by-lôn thuộc linh hiện đại.
Một người đàn bà mặc áo màu tía màu điều sải bước qua thời gian trong Khải-huyền 17:1-6. Người đàn bà này đang cưỡi một con thú sắc đỏ sậm. Kinh Thánh đề cập đến người như một dâm phụ. Người đã từ bỏ tình yêu đích thực của mình với Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc. Ở đây, sứ đồ Giăng vẽ nên một bức tranh sống động về một hệ thống tôn giáo bội đạo có ảnh hưởng đáng kể trên thế giới. Hãy chú ý cụm từ: đây là một thế lực có liên quan đến “Các vua trong thiên hạ phạm tội tà dâm với nó, và dân sự trong thế gian cũng say sưa vì rượu tà dâm của nó.” (Khải-huyền 17:2). Trong Kinh Thánh, say rượu thường là một điều xấu. Và tà dâm là dấu hiệu của những học thuyết, giáo lý, và hành động sai trái.
Quyền lực này đã có tác động tai hại đến cả các nhà lãnh đạo và người dân thường. Sự bảo vệ duy nhất của chúng ta là gì? (Đọc Ê-phê-sô 6:10–18).
Thứ Hai Rượu Thịnh Nộ
Đọc Khải-huyền 17:1,2,15 và Khải-huyền 18:1-4. Ảnh hưởng của Ba-by-lôn lớn đến mức nào?
Sự lừa dối của hệ thống tôn giáo sa ngã có tầm ảnh hưởng quốc tế, ảnh hưởng đến mọi người trên khắp thế giới. Sa-tan dùng mọi lời dối trá có sẵn để dụ dỗ “dân cư trên đất” bởi hắn tức giận vì phúc âm sẽ được truyền bá cho mọi “dân cư trên đất, cho mọi nước, mọi chi phái, mọi tiếng, và mọi dân tộc” và rằng “Tin lành nầy về nước Đức Chúa Trời sẽ được giảng ra khắp đất” sẽ được lan truyền khắp thế giới, nên hắn sử dụng mọi lời nói dối có thể tưởng tượng được để thu hút tâm trí của “cư dân trên đất” (Khải-huyền 14:6, Ma-thi-ơ 24:14, Khải-huyền 17:2).
Theo Khải-huyền 17:2, nó đã “phạm tội tà dâm” với các vua trên đất, tiếp tục giải thích về sự mầu nhiệm của Ba-by-lôn lớn. Tà dâm là gì? Đó là một liên minh bất hợp pháp, sự hợp nhất giữa hệ thống tôn giáo sa ngã với chính quyền. Trong hệ thống giáo hội chân chính, giáo hội được hợp nhất với Đức Chúa Giê-su. Nhưng hệ thống tôn giáo sa ngã tìm kiếm sức mạnh và quyền lực từ các nhân vật chính trị trên đất. Nó yêu cầu chính quyền thực hiện mệnh lệnh của mình. Nó tìm đến sự hỗ trợ của chính quyền hơn là nhận được quyền năng từ Đức Chúa Giê-su.
Khải-huyền 17:2 tiếp tục miêu tả bức tranh đầy kịch tính: “Các vua trong thiên hạ phạm tội tà dâm với nó, và dân sự trong thế gian cũng say sưa vì rượu tà dâm của nó”. Biểu tượng về nước nho tinh khiết được sử dụng trong suốt Tân Ước để tượng trưng cho huyết tinh khiết, không tì vết của Đấng Cơ-đốc đã đổ ra trên thập tự giá để cứu rỗi chúng ta (Ma-thi-ơ 26:27-29). Trong Lu-ca 22:20, Đức Chúa Giê-su nói, “Chén nầy là giao ước mới trong huyết ta vì các ngươi mà đổ ra”. Khi rượu mới, tinh khiết của phúc âm bị biến chất, và những lời dạy của Lời Đức Chúa Trời bị tráo đổi với những lời dạy của các nhà lãnh đạo tôn giáo loài người, thì nó được gọi là “rượu của Ba-by-lôn.” (Ma-thi-ơ 15:9).
Hơn nữa, hãy lưu ý rằng Đức Chúa Trời đang kêu gọi dân Ngài ra khỏi Ba-by-lôn. Nói cách khác, cho dù hệ thống có thối nát và xấu xa đến đâu, phạm vi hoạt động của nó vẫn rộng đến mức nào thì ít nhất là trong một thời điểm nhất định, những người trung tín với Ngài, hay “dân của ta” (Khải-huyền 18:4) và Ngài mời gọi họ. Tuy nhiên, sẽ đến lúc Đức Chúa Trời gọi họ ra khỏi hệ thống gian ác và đồi bại sắp sụp đổ này vì bản chất đồi bại và gian ác của nó, là “chỗ ở của các ma quỉ,” và “hang hố của mọi giống chim dơ dáy mà người ta gớm ghiếc”. (Khải-huyền 18:2).
Những người truyền bá sứ điệp ba thiên sứ đóng vai trò gì trong việc được Đức Chúa Trời dùng để gọi là “dân ta”, dân sự Ngài, ra khỏi Ba-by-lôn?
Thứ Ba Sự Mầu Nhiệm Của Ba-by-lôn Lớn
Đọc Khải-huyền 17:4-6. Chúng ta có thể học được gì từ những câu này về bản chất của hệ thống bội đạo?
Như chúng ta đã thấy, Khải-huyền đoạn 17 mô tả một hệ thống tôn giáo bội đạo truyền vào Cơ-đốc giáo nhiều sự dạy dỗ của Ba-by-lôn trong Cựu Ước.
“Chúng ta cần quay trở lại Sáng-thế Ký, nơi Ba-by-lôn lần đầu tiên được nhắc đến trong câu chuyện Kinh Thánh, để cố gắng hiểu nó như thế nào. Mọi chuyện bắt đầu ở Babylonia, một địa điểm ở miền nam Mê-sô-bô-ta-mi nay là miền nam Iraq, trên đồng bằng của vùng đất Si-nê-a. Tháp Ba-bên, biểu tượng cho sự độc lập của con người khỏi Chúa và sự tự cung tự cấp, được xây dựng ở đó. (Sáng-Thế Ký 11:1-4).” - Ángel Manuel Rodríguez, “The Closing of the Cosmic Conflict: Role of the Three Angels’ Messages”, tr. 43.
Tháp Ba-bên, tọa lạc trên vị trí của Ba-by-lôn cổ đại, được xây dựng để bác bỏ Lời Đức Chúa Trời một cách trắng trợn. Những người xây dựng thành Ba-bên đã xây dựng cột mốc này vì vinh quang của chính họ, và Đức Chúa Trời đã làm lộn xộn tiếng nói của họ. Theo lời tường thuật của Sáng-thế Ký, “Bởi cớ đó đặt tên thành là Ba-bên, vì nơi đó Đức Giê-hô-va làm lộn xộn tiếng nói của cả thế gian, và từ đây Ngài làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất.” (Sáng-thế Ký 11:9).
Hệ thống này bội đạo đến nỗi nó được miêu tả là “Tôi thấy người đàn bà đó say huyết các thánh đồ và huyết những kẻ chết vì Đức Chúa Giê-su; tôi thấy mà lấy làm lạ lắm.” (Khải-huyền 17:6) - những hình ảnh khủng khiếp cho thấy Ba-by-lôn thối nát như thế nào (Ê-sai 49:26).
Về bản chất, Ba-by-lôn thuộc linh đại diện cho một tôn giáo dựa trên những lời dạy của con người, được thiết lập dựa trên những ý tưởng của con người và được hỗ trợ bởi các truyền thống của con người. Đó là một hình thức tôn giáo do con người tạo ra, có lẽ là được xây dựng bởi các vị lãnh đạo tôn giáo lỗi lạc của con người, nhưng nó chống lại quyền năng của phúc âm và Hội Thánh mà Đức Chúa Giê-su đã thiết lập, một Hội Thánh được thiết lập dựa trên tình yêu thương hơn là bạo lực.
Hai hệ thống tôn giáo này được mô tả trong sách Khải-huyền. Điều đầu tiên chứng tỏ đức tin hoàn toàn nơi Đức Chúa Giê-su và sự tin cậy nơi Lời của Ngài. Điều thứ hai thể hiện niềm tin vào thẩm quyền của con người và sự tin cậy vào các nhà lãnh đạo tôn giáo của con người. Một là đức tin tập trung vào Đấng Cơ-đốc, trong đó sự cứu rỗi hoàn toàn tùy thuộc vào ân điển, sự hy sinh và sự chuộc tội của Đấng Cơ-đốc. Cách còn lại là tiếp cận đức tin mang tính nhân văn thay thế hoàn toàn sự tin cậy vào Đấng Cơ-đốc để được cứu rỗi bằng sự tin cậy vào các truyền thống của giáo hội.
Làm thế nào chúng ta có thể tự bảo vệ mình khỏi những ảnh hưởng quá rõ ràng của Ba-by-lôn, chẳng hạn như khuynh hướng lệ thuộc vào chính mình chứ không hoàn toàn phó thác cho Đức Chúa Trời dù điều đó rất dễ?
Thứ Tư Lời Kêu Gọi Hứa Nguyện
Biểu tượng của hai người đàn bà trong sách Khải-huyền tóm tắt lời khẩn cầu của sách Khải-huyền như một lời kêu gọi hứa nguyện khẩn cấp. Mặc dù đôi khi dân sự Đức Chúa Trời có vẻ như bị đánh bại trong cuộc chiến vũ trụ giữa lẽ thật và sự giả dối, nhưng Đức Chúa Trời đảm bảo rằng cuối cùng Hội Thánh của Ngài sẽ chiến thắng.
So sánh Ma-thi-ơ 16:18 và Khải-huyền 17:14. Đức Chúa Giê-su đã ban cho môn đồ lời hứa gì về Hội Thánh của Ngài?
Đấng Cơ-đốc là vầng đá mà trên đó Hội Thánh của Ngài được thiết lập. Hội Thánh của Ngài được thiết lập dựa trên những sự dạy dỗ của Lời Ngài và được hướng dẫn bởi Thánh Linh Ngài. Ngược lại, như chúng ta đã thấy, Ba-by-lôn được thành lập dựa trên những giáo lý và truyền thống do con người tạo ra. Bất kỳ nhà lãnh đạo tôn giáo nào đặt quan điểm hoặc truyền thống của con người lên trên hoặc thay thế cho ý muốn được tiết lộ của Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh là đang cổ xúy cho sự hỗn loạn của Ba-by-lôn.
Giáo hội và chính quyền là một và giống nhau trong thời Ba-by-lôn cổ đại. Vua Nê-bu-cát-nết-sa được cho là tiếng nói thay mặt các thần khi đương vị trên ngai vàng trong đền thờ của mình. Là một hành động bất tuân đối với Đức Chúa Trời chân thật, vua Ba-by-lôn đã ban hành một sắc lệnh yêu cầu liên quan đến sự thờ phượng và ra lệnh cho tất cả thần dân phải phục tùng, một biểu tượng mạnh mẽ cho thấy những người trung tín của Đức Chúa Trời, những người từ chối thờ thần tượng sẽ phải đối mặt trong những ngày cuối cùng (Đa-ni-ên đoạn 3)
Một hệ thống được gọi là Ba-by-lôn thuộc linh – tức là có sự kết hợp giữa chính quyền và giáo hội - với người lãnh đạo thuộc linh tuyên bố sẽ nói thay cho Đức Chúa Trời sẽ xuất hiện trong các vấn đề của lịch sử loài người. Cả lời nói và chỉ thị của ông sẽ được công nhận là lời chính xác của Đức Chúa Trời. Các giáo hoàng La Mã đã nói rằng họ là đại diện của Chúa trên đất trong suốt các thời đại. Đức Giáo Hoàng Leo XIII đã viết trong một bức thư ngày 20 tháng 6 năm 1894, “Chúng ta giữ địa vị của Thiên Chúa Toàn Năng trên hành tinh này.” Theo từ điển của Ferraris, “Giáo hoàng có phẩm chất và sự tôn cao lớn đến mức ông không chỉ đơn thuần là một con người, mà còn giống như Chúa và là đại diện của Chúa.” Sứ đồ Phao-lô đã giải thích: “… tức là kẻ đối địch, tôn mình lên trên mọi sự mà người ta xưng là Đức Chúa Trời hoặc người ta thờ lạy, rất đỗi ngồi trong đền Đức Chúa Trời, chính mình tự xưng là Đức Chúa Trời” (2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:4).
Tại sao chúng ta phải cẩn thận trong cách nói về vấn đề này và cẩn thận không chỉ trích mọi người với tư cách cá nhân vì chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời vẫn còn có những người trung tín ở “Ba-by-lôn”?
Thứ Năm Ba-by-lôn: Trung Tâm Thờ Hình Tượng
Đây chỉ là một dấu hiệu khác cho thấy “sự mầu nhiệm của Babylon lớn” đã được khám phá. Thờ thần tượng là mấu chốt của sự thờ phượng đối với người Ba-by-lôn.
Đọc Giê-rê-mi 50:33–38 và Giê-rê-mi 51:17,47. Bạn khám phá ra điều gì trong những câu này về việc thờ hình tượng của Ba-by-lôn xưa và phản ứng của Đức Chúa Trời đối với điều đó?
Giê-rê-mi đoạn 50 và 51 tiên đoán sự hủy diệt của Ba-by-lôn bởi người Mê-đi và Ba-tư. Một trong những lý do cho sự sụp đổ của Ba-by-lôn là thờ hình tượng. Người Ba-by-lôn tin rằng những hình tượng này là đại diện cho các thần của họ. Trong tôn giáo của người Ba-by-lôn, nghi thức chăm nom và thờ cúng các hình tượng của các thần được coi là thiêng liêng; các thần đồng thời sống trong các bức tượng của họ trong đền thờ và trong các thế lực tự nhiên mà họ thể hiện. Việc cướp bóc hoặc phá hủy các thần tượng được coi là mất đi sự bảo trợ của thần thánh. Ví dụ, hoàng tử Mardukaplaiddina II của người Canh-đê đã chạy trốn vào đầm lầy phía nam của Mê-sô-bô-ta-mi cùng với những bức tượng của các thần Ba-by-lôn để cứu họ khỏi quân đội của Sennacherib của A-si-ri - Lane R. McIntosh, Ancient Mesopotamia: New Perspectives, tr. 203.
Theo các nhà tiên tri trong Kinh Thánh, việc thờ hình tượng không có sự sống này trái ngược với việc thờ phượng Đức Chúa Trời, Đấng Tạo Hóa, Đấng hằng sống và ban sự sống. (Giê-rê-mi 51:15,16,19).
Đọc Xuất Ê-díp-tô Ký 20:4-6 và Thi-thiên 115:4-8. Những đoạn này dạy gì về việc thờ hình tượng?
Mặc dù vấn đề thờ hình tượng của Ba-by-lôn sâu sắc hơn là chỉ cúi đầu trước những hình tượng bằng gỗ và đá, song song với Ba-by-lôn cổ xưa cùng những hình tượng được đưa vào buổi thờ phượng. Việc sử dụng các hình tượng làm đối tượng thờ phượng, hay còn gọi là “sự tôn kính,” là vi phạm điều răn thứ hai vì nó hạn chế khả năng của Đức Thánh Linh trong việc ghi khắc vào tâm trí chúng ta những điều vĩnh cửu và hạ thấp sự uy nghi của Đức Chúa Trời xuống mức thấp hơn một bức tượng vô hồn. Những hình ảnh này đã được đưa vào Cơ-đốc giáo vào thế kỷ thứ tư để làm cho Cơ-đốc giáo dễ chấp nhận hơn đối với dân ngoại. Đáng tiếc, những hình ảnh này thường được coi là sự thánh thiện và sùng kính mà chỉ có Chúa mới xứng đáng, khiến toàn bộ sự việc bị hạ thấp giá trị về mặt tinh thần.
Thứ Sáu Nghiên Cứu Bổ Túc
NGHIÊN CỨU BỔ TÚC
“Sứ điệp trong Khải-huyền 14, tiên tri về sự sụp đổ của Ba-by-lôn, phải được áp dụng cho các thể chế tôn giáo bại hoại.Sứ điệp này phải được đưa ra trong những ngày cuối cùng vì nó đến sau lời cảnh báo về sự phán xét sắp tới. Kết quả là, nó không thể chỉ hướng vào giáo hội La Mã vì thể chế đó đã ở trong tình trạng sa sút trong nhiều thế kỷ.” - Ellen G. White, Thiện Ác Đấu Tranh, tr. 383.
Ba người Hê-bơ-rơ trong Đa-ni-ên 3 - những người được bảo phải “thờ pho tượng bằng vàng mà Vua Nê-bu-cát-nết-sa đã dựng lên” (Đa-ni-ên 3:5). Ba-by-lôn xưa đóng vai trò là biểu tượng và khuôn mẫu cho những gì sẽ xảy ra khi Ba-by-lôn thuộc linh áp đặt việc thờ “hình tượng” trong thời kỳ cuối cùng (xem Khải-huyền 13:15; 14:9, 11; 16:2; 19:20; và 20:4). Điều đáng chú ý là điều răn mà ba người Hê-bơ-rơ đã vi phạm, điều răn thứ hai (Xuất Ê-díp-tô ký 20:4,5), là một trong hai điều mà chính quyền này muốn “đổi những thời kỳ và luật pháp” (Đa-ni-ên 7:25). 7:25), đã bị giả mạo.
Điều răn khác đã bị can thiệp là gì? Dĩ nhiên, có điều răn thứ tư, như chúng ta đã thấy và sẽ thấy lại, là trọng tâm của toàn bộ vấn đề thờ phượng và sẽ là vấn đề mấu chốt trong cuộc khủng hoảng cuối cùng khi chúng ta phải chọn thờ phượng Đấng “đã dựng nên trời, đất, biển và muôn vật trong đó, rồi nghỉ ngày thứ bảy” (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:11; Khải-huyền 14:7), hay con thú và tượng nó.
Câu Hỏi Thảo Luận:
1. Mối liên hệ giữa tháp Ba-bên và Ba-by-lôn thuộc linh hiện đại là gì? Điểm tương đồng giữa tháp Ba-bên và Ba-by-lôn là gì?
2. Làm thế nào để chúng ta dung hòa hai quan điểm trái ngược nhau? Mặc dù Đức Chúa Giê-su đã ban cho Hội Thánh Ngài thẩm quyền, nhưng thật rủi ro khi giao phó kinh nghiệm tôn giáo của chúng ta cho bất kỳ người lãnh đạo thuộc linh nào. Đâu là ranh giới của thẩm quyền Hội Thánh?
3. Làm thế nào chúng ta có thể biết rằng thờ thần tượng, một trong những tội lỗi của Ba-by-lôn, không chỉ đơn thuần là quỳ xuống trước các bức tượng? Bằng những cách nào khác mà ngay cả những Cơ-đốc nhân từ các hệ phái cải chánh cũng có thể trở thành những người thờ thần tượng?
4. Bạn có thể tìm thấy những điểm tương đồng nào khác giữa sự thờ phượng bắt buộc trong Đa-ni-ên 3 và những điều chúng ta đã được cảnh báo trong thời kỳ cuối cùng?