Bài Học 7 · 7 – 13 Tháng 5

Giao ước với Áp-ra-ham

Kinh Thánh Nghiên Cứu: Sáng-thế Ký 15:1-21; Rô-ma 4:3,4,9,22; Ga-la-ti 4:21-31; Rô-ma 4:11; Rô-ma 9:9; A-mốt 4:11

"Áp-ram thưa rằng: Lạy Chúa Giê-hô-va, Chúa sẽ cho tôi chi? Tôi sẽ chết không con, kẻ nối nghiệp nhà tôi là Ê-li-ê-se, người Đa-mách" — Sáng-thế Ký 15:2
Sa-bát Giao Ước Với Áp-ra-ham

Câu gốc

“Áp-ram thưa rằng: Lạy Chúa Giê-hô-va, Chúa sẽ cho tôi chi? Tôi sẽ chết không con, kẻ nối nghiệp nhà tôi là Ê-li-ê-se, người Đa-mách” (Sáng-thế Ký 15:2).

Kinh Thánh nghiên cứu

Sáng-thế Ký 15:1-21; Rô-ma 4:3,4,9,22; Ga-la-ti 4:21-31; Rô-ma 4:11; Rô-ma 9:9; A-mốt 4:11.

Trong Sáng-thế Ký 15, chúng ta đi đến thời điểm quan trọng khi Đức Chúa Trời đã chính thức thực hiện giao ước của Ngài với Áp-ra-ham. Giao ước với Áp-ra-ham là giao ước thứ hai, sau giao ước với Nô-ê.

Giống như giao ước với Nô-ê, giao ước với Áp-ra-ham cũng liên quan đến các dân tộc khác, giao ước với Áp-ra-ham là một phần của giao ước đời đờivì cuối cùng được ban cho toàn thể nhân loại (Sáng-thế Ký 17:7, Hê-bơ-rơ 13:20).

Đoạn Kinh Thánh này thuật lại cuộc đời của Áp-ra-ham đầy sự sợ hãi và tiếng cười. Áp-ram sợ (Sáng-thế Ký 15:1), cũng như Sa-ra (Sáng-thế Ký 18:15) và A-ga (Sáng-thế Ký 21:17). Áp-ram cười (Sáng-thế Ký 17:17), Sa-ra cười (Sáng-thế Ký 18:12) và Ích-ma-ên cũng vậy (Sáng-thế Ký 21:9). Những đoạn này là sự cộng hưởng cảm xúc và lòng nhiệt huyết của con người. Áp-ram thiết tha về sự cứu rỗi cho những người Sô-đôm gian ác; ông quan tâm đến Sa-ra, A-ga và Lót; và ông bày tỏ sự hiếu khách vớiba vị khách (Sáng-thế Ký 18:2-6).

Trong bối cảnh đó, Áp-ram, người mang cái tên có hàm ý cao quý và đáng kính trọng, sẽ đổi tên thành Áp-ra-ham, nghĩa là “tổ phụ của nhiều dân tộc” (Sáng-thế Ký 17:5). Do đó ở đây chúng ta thấy được nhiều gợi ý hơn vềtính chất bao quát của những gì Đức Chúa Trời dự định thực hiệnqua giao ước của Ngài với Áp-ra-ham.

Thứ Nhất Đức Tin Của Áp-ra-ham

Đọc Sáng-thế Ký 15:1-21 và Rô-ma 4:3,4,9,22. Sống bởi đức tinnghĩa là gì? Áp-ram bày tỏ đức tinnhư thế nào? Của lễ hy sinh mà Đức Chúa Trời muốn Áp-ram thực hiện có ý nghĩa gì?

Sự đáp lại đầu tiên của Đức Chúa Trời đối với mối quan tâm của Áp-ram về người nối nghiệp (Sáng-thế Ký 15:1–3) là ông sẽ có một con trai từ “trong gan ruột” (Sáng-thế Ký 15:4). Từ ngữ tương tự được tiên tri Na-than sử dụng để chỉ dòng dõi của Đấng Mê-si trong tương lai (II Sa-mu-ên 7:12). Áp-ram vững lòng và tin Đức Giê-hô-va (Sáng-thế Ký 15:6), bởi vì ông hiểu rằng việc thực hiện lời hứa của Đức Chúa Trời không phụ thuộc vào sự công bình của ông mà phụ thuộc vào Đức Chúa Trời (Sáng-thế Ký 15:6; so sánh với Rô-ma 4:5,6).

Ý niệm này có vẻ lạ lùng, đặc biệt là trong nền văn hóa thời ấy. Ví dụ, trong tôn giáo của người Ai Cập cổ đại, sự phán xét được đánh giá trên cơ sở đếm các việc công bình của con người chống lại các việc công bình của nữ thần Maat. Tóm lại, họ phải tự tìm kiếm “sự cứu rỗi”.

Sau đóĐức Chúa Trờisắp đặt một nghi lễ để Áp-ram thực hiện. Về cơ bản, của lễ hy sinh hướng vềsự chết của Đấng Cơ-đốc vì tội lỗi của chúng ta. Con người được cứu bởi ân điển, là món quà của sự công bình mà Đức Chúa Trời dùng để tượng trưng qua những của tế lễ này. Nhưng nghi lễ đặc biệt này truyền đạt những sứ điệp cụ thể cho Áp-ram. Việc những chim ăn mồi bay đáp trên những con thú chết (Sáng-thế Ký 15:9-11) nghĩa là con cháu của Áp-ram sẽ phải chịu cảnh tôi mọi trong khoảng thời gian “‘bốn trăm năm” (Sáng-thế Ký 15:13), hoặc bốn đời (Sáng thế Ký 15:16). Sau đó đến đời thứ tư, dòng dõi của Áp-ram “sẽ trở lại đây” (Sáng-thế Ký 15:16).

Cảnh cuối cùng của nghi lễ rất ấn tượng: “một ngọn lửa loè ngang qua các xác thịt đã mổ” (Sáng-thế Ký 15:1). Điều kỳ diệu đặc biệt này biểu thị cam kết của Đức Chúa Trời sẽ thực hiện lời hứa trong giao ước của Ngài, đó là ban đất cho con cháu của Áp-ram (Sáng-thế Ký 15:18). Ranh giới của miền Đất Hứa này“từ sông Ê-díp-tô cho đến sông lớn kia, tức sông Ơ-phơ-rát” (Sáng-thế Ký 15:18) nhắc nhở chúng ta về ranh giới của vườn Ê-đen (so sánh với Sáng-thế Ký 2:13,14). Do đó, lời tiên tri này có nhiều khía cạnhchứ không chỉ là cuộc Xuất hành ra khỏi Ê-díp-tô và quê hương cho dân Y-sơ-ra-ên. Ở chân trời xa xôi của lời tiên tri này, khi dòng dõi Áp-ra-ham chiếm xứ Ca-na-an, nhen nhóm ý tưởng về sự cứu rỗi vào thời kỳ cuối cùng cho dân sự Đức Chúa Trời, cho những người sẽ trở lại vườn Ê-đen.

Làm thế nào chúng ta có thể học cách tập trung vào Đấng Cơ-đốc và sự công bình của Ngài như là hy vọng cứu rỗi duy nhất của chúng ta? Điều gì xảy ra nếu chúng ta cố gắng bắt đầu đếm những việc làm công bình của mình?

Thứ Hai Áp-ra-ham Nghi Ngờ

Đọc Sáng-thế ký 16:1-16. Việc Áp-ram quyết định ăn ở với A-ga có ý nghĩa gì mặc dù lờihứa của Đức Chúa Trời đã ban cho ông? Hai người nữ thể hiện hai thái độ đức tin như thế nào (Ga-la-ti 4:21-31)?

Khi Áp-ram nghi ngờ (Sáng-thế Ký 15:2), Đức Chúa Trời đã trấn an ông một cách rõ ràng rằng ông sẽ có một con trai. Nhiều năm sau đó, Áp-ram vẫn không có con. Áp-ram dường như đã đánh mất đức tin của mìnhthậm chí sau lời tiên tri quyền năng cuối cùng của Đức Chúa Trời.Ông không còn tin rằng mình sẽ có thể có một con trai với Sa-rai. Khisa-raicảm thấy tuyệt vọng, bà đã chủ động và giục ông sử dụng một hành động phổ biến vào thời đó ở vùng Cận Đông xưa, dùng một người thay thế. A-ga, người hầu của Sa-rai, được chỉ định cho việc này. Mọi việc đều trơn tru. Trớ trêu thay, chiến lược này của con người dường như hiệu quả hơn so với đức tin vào những lời hứa của Đức Chúa Trời.

Đoạn Kinh Thánh mô tả mối tương quan của Sa-rai với Áp-ram lặp lại câu chuyện của A-đam và Ê-va trong vườn Ê-đen. Hai đoạn Kinh Thánhnày chia sẻ một số chủ đề chung (Sa-raigiống như Ê-va, là chủ động; cònÁp-ram giống như A-đam, là bị động). Sự tương đồng giữa hai câu chuyện ngụ ý Đức Chúa Trời không chấp nhận hành động này.

Sứ đồ Phao-lô đề cập đến câu chuyện này để đưa ra quan điểm của mình về việc làm đối lập với ân điển (Ga-la-ti 4:23–26). Trong cả hai câu chuyện, kết quả là giống nhau: kết quả ngay lập tức cho công việc của con người ngoài ý muốn của Đức Chúa Trời dẫn đến những rắc rối trong tương lai. Lưu ý rằng Chúa không hiện diện trong toàn bộ sự việc. Sa-rai nói về Chúa nhưng không bao giờ nói với Ngài; Chúa cũng không nói chuyện với ai trong số họ. Đức Chúa Trời không hiện diện trong sự việc này thật đáng chú ý, đặc biệt là sau sự hiện diệncủa Ngàiởđoạn trước.

Đoạn, Đức Chúa Trời hiện ra với A-ga nhưng chỉ sau khi nàng rời khỏi nhà của Áp-ram. Sự xuất hiện bất ngờ này nói lên sự hiện diện của Đức Chúa Trời bất chấp nỗ lực của con người để hành động mà không có Ngài. Việc đề cập đến thiên sứ của Đức Giê-hô-va (Sáng-thế Ký 16:7) là danh xưng thường được đồng nhất với Chúa, là Giê-hô-va Đức Chúa Trời (xem Sáng-thế Ký 18:1,13,22). Lần này, chính Đức Chúa Trời chủ động và thông báo với A-ga rằng nàng sẽ sinh một con trai, tên Ích-ma-ên, có nghĩa là Đức Chúa Trời nghe thấy (Sáng-thế Ký 16:11). Trớ trêu thay, câu chuyện lại kết thúc bằng việc lặp lại sự nghe thấy ở đầu câu chuyện, khi Áp-ram nghe theo lời của Sa-rai (Sáng-thế Ký 16:2).

Tại sao chúng ta lại dễ dàng thiếu đức tin như Áp-ram?

Thứ Ba Dấu Hiệu Giao Ước Với Áp-ra-ham

Đọc Sáng-thế Ký 17:1-19 và Rô-ma 4:11. Phép cắt bì có ý nghĩa thuộc linh và ý nghĩa tiên tri gì?

Sự thiếu đức tin của Áp-ramnhư đã thấy trong câu chuyện trước (Sáng-thế Ký 16)đã phá vỡ dòng chảy trong cuộc hành trình thuộc linh của Áp-ram với Đức Chúa Trời. Trong suốt thời gian đó Chúa giữ im lặng. Lần đầu tiên kể từ lúc đó Đức Chúa Trời hiện đến cùng Áp-ram, Ngài kết nối lại với Áp-ram và đưa ông trở lại thời điểm khi Ngài lập giao ước với ông (Sáng-thế Ký 15:18). Tuy nhiên, giờ đây Đức Chúa Trời ban cho ông dấu hiệu của giao ước đó. Ý nghĩa của phép cắt bì đã được các học giả thảo luận từ lâu, nhưng vì phép cắt bì liên quan đến việc đổ huyết (xem Xuất Ê-díp-tô Ký 4:25) nên nó có thể được hiểu trong bối cảnh của tế lễhy sinh để biểu thị rằng sự công bình đã được ban cho Áp-ram (so sánh với Rô-ma 4:11).

Một điều quan trọng nữa là giao ước này được biểu thị bằng phép cắt bì, được mô tả theo các thuật ngữ liên quan đến lời tiên tri về Đấng Mê-si sớm nhất (so sánh Sáng-thế Ký 17:7 với Sáng-thế Ký 3:15). Sự tương đương giữa hai câu Kinh Thánh cho thấy rằng lời hứa của Đức Chúa Trời với Áp-ram không chỉ liên quan đến việc rađời của một dân tộc mà nó còn chứa đựng lời hứa thiêng liêng về sự cứu rỗi cho tất cả các dân tộc trên đất. Và lời hứa về “giao ước đời đời” (Sáng-thế Ký 17:7) đề cập đến công việc của dòng dõi Đấng Mê-si, sự hy sinh của Đấng Cơ-đốc để đảm bảo sự sống đời đời cho tất cả những ai cầu xin bằng đức tin và bằng tất cả những gì mà đức tin đòi hỏi (so sánh với Rô-ma 6:23 và Tít 1:2).

Thật thú vị, lời hứa về một tương lai đời đời này ẩn chứa trong việc đổi tên của Áp-ram và Sa-rai. Tên của Áp-ram và Sa-rai chỉ ra tình trạng hiện tại của họ: Áp-ram có nghĩa là “cha cao quý” và Sa-rainghĩa là “công chúa của tôi” (công chúa của Áp-ram). Việc đổi tên họ thành Áp-ra-ham và Sa-ra ám chỉ tương lai: Áp-ra-ham nghĩa là “tổ phụ của nhiều dân tộc” và Sa-ranghĩa là “công chúa” (dành cho mọi người). Tương tự, nhưng không phải là không có một số điều trớ trêu, tên của Y-sác (nghĩa là “người sẽ cười”) là một lời nhắc nhở về tiếng cười của Áp-ra-ham (tiếng cười đầu tiên được ghi trong Kinh Thánh, Sáng-thế Ký 17:17); đó là một tiếng cười của sự hoài nghi hoặc có thể là của sự ngạc nhiên. Dù thế nào đi nữa, mặc dù tin vào những gì Chúa đã hứa rõ ràng với mình nhưng Áp-ra-ham vẫn phải đấu tranh để sống bằng đức tin và sự tin cậy.

Làm thế nào chúng ta có thể học cách tiếp tục tin tưởng ngay cảđôi khichúng ta đấu tranh với đức tin đónhư Áp-ra-ham? Tại sao điều quan trọng là chúng ta không từ bỏ, bất chấp những lúc có sự nghi ngờ?

Thứ Tư Con Trai Của Lời Hứa

Cảnh cuối cùng của lễ cắt bì liên quan đến tất cả mọi người: không chỉ Ích-ma-ên mà tất cả người nam trong gia đình Áp-ra-ham đều đã cắt bì (Sáng-thế Ký 17:23–27). Việc Đức Chúa Trời hiện ra với Áp-ra-ham để xác nhận lời hứa về một người con trai tên “Y-sác” nhằm cũng cố đức tin của Áp-ra-ham.

Đọc Sáng-thế Ký 18:1–15 và Rô-ma 9:9. Chúng ta học được bài học nào về lòng hiếu khách khi Áp-ra-ham tiếp đón những người khách của mình? Bạn giải thích thế nào về phản ứng của Đức Chúa Trời đối với lòng hiếu khách của Áp-ra-ham?

Không rõ liệu Áp-ra-ham có biết những người lạ này là ai (Hê-bơ-rơ 13:2), mặc dù ông đã hành động với họ như thể chính Đức Chúa Trời ở giữa họ. Ông đang ngồi “nơi cửa trại lúc trời nắng ban ngày” (Sáng-thế Ký 18:1) và bởi vì hiếm có du khách trong sa mạc nên có lẽ đã khao khát được gặp gỡ họ. Áp-ra-ham chạy về phía ba người (Sáng-thế Ký 18:2), mặc dù ông đã 99 tuổi. Ông gọi một trong những người này là Adonai nghĩa là “Chúa”(Sáng-thế Ký 18:3), một danh xưng thường được sử dụng cho Đức Chúa Trời (Sáng-thế Ký 20:4; Xuất ê-díp-tô Ký 15:17).Ông lật đật vào trại mà chuẩn bị bữa ăn (Sáng-thế Ký 18:6,7). Ông đứng hầu trước mặt họ, chú ý đến nhu cầu của họ và sẵn sàng phục vụ họ (Sáng-thế Ký 18:8).

Thái độ của Áp-ra-ham đối với cácvị khách lạ đến từ trời sẽ trở thành hình mẫu cảm hứng của lòng hiếu khách (Hê-bơ-rơ 13:2). Thật ra, thái độ tôn kính của Áp-ra-ham truyền đạt triết lý về lòng hiếu khách. Thể hiện sự tôn trọng và quan tâm đối với khách lạ không chỉ là một cử chỉ lịch sự tốt đẹp, Kinh Thánh còn nhấn mạnh rằng đó là chức vụ tôn giáo, như thể được hướng về chính Đức Chúa Trời (so sánh với Ma-thi-ơ 25:35–40). Đức Chúa Trời thường đồng cảm với những người lạ đói khát và thiếu thốn hơn với những người rộng lượng tiếp nhận họ.

Mặt khác, việc Đức Chúa Trờican thiệp vào thế giới loài người biểu thị ân điển và tình yêu của Ngài đối với nhân loại. Sự xuất hiện này của Đức Chúa Trời báo trước việc Đấng Cơ-đốc, Đấng đã rời khỏi nhà trên trời của Ngài và trở thành tôi tớ loài người để đến với con người (Phi-líp 2:7,8). Sự xuất hiện của Đức Chúa Trời ở đây là bằng chứng cho sự chắc chắn về lời hứa của Ngài (Sáng-thế Ký 18:10). Một Đấng nhìn thấy Sa-ra, người ẩn mình “sau lưng Đấng đó” (Sáng-thế Ký 18:10) và biết những suy nghĩ thầm kín nhất của bà (Sáng-thế Ký 18:12). Đức Giê-hô-va biết rằng bà đã cười, và sự hoài nghi củabà trở thành nơi mà Chúa sẽ thực hiện lời hứa của Ngài.

Tập trung nhiều hơn vào ý kiến rằng “Đức Chúa Trời thường đồng cảm với những người lạ đói khát và thiếu thốn hơn là với những người rộng lượng tiếp nhận họ”. Tại sao ý kiến này rất quan trọng để chúng ta ghi nhớ?

Thứ Năm Lót Ở Sô-đôm

Đọc Sáng-thế Ký 18:16 - 19:29. Chức vụ tiên tri của Áp-ra-ham ảnh hưởng như thế nào đến trách nhiệm của ông đối với Lót?

Áp-ra-ham vừa được xác nhận lại lời hứa của Đức Chúa Trời về một đứa con trai. Tuy nhiên, thay vì tận hưởng tin vui, ông lại lôi kéo Đức Chúa Trời vào một cuộc bàn luận về số phận của Lót ở Sô-đôm. Áp-ra-ham không chỉ là một nhà tiên tri để Đức Chúa Trời bày tỏ ý muốn của Ngài mà còn là một nhà tiên tri cầu thay cho kẻ ác. Cụm từ tiếng Hê-bơ-rơ “đứng chầu trước mặt Đức Giê-hô-va” (Sáng-thế Ký 18:22) là một thành ngữ chỉ sự cầu nguyện.

Thật ra, Áp-ra-ham thách thức Đức Chúa Trời và mặc cả với Ngài để cứu lấy Sô-đôm, là nơi cháu trai của ông đang cư trú. Giảm từ 50 xuống còn 10 người, Đức Chúa Trời sẽ cứu dân Sô-đôm nếu chỉ 10 người công bình ở Sô-đôm.

Tất nhiên, khi đọc câu chuyện về những điều đã xảy ra, hai thiên sứ đến gặp Lót để cảnh báo ông về những gì sắp đến (Sáng-thế Ký 19:1–10), chúng ta có thể thấy dân chúng đã trở nên bệnh hoạn và xấu xa như thế nào. Đó thực sự là một nơi gian ác, cũng như nhiều dân tộc xung quanh họ; lý do tại sao cuối cùng họ bị đuổi ra khỏi xứ (xem Sáng-thế Ký 15:16).

“Và giờ, đêm cuối cùng của Sô-đôm đang đến gần. Những đám mây của sự báo thù đã phủ bóng lên thành phố. Nhưng loài người không nhận thức được điều đó. Trong khi các thiên sứ tiến gần đến với sứ mệnh hủy diệt, thì con người lại mơ về sự thịnh vượng và khoái lạc. Ngày cuối cùng cũng giống như bao ngày trôi qua khác. Buổi tối chìm vào một khung cảnh đẹp đẽ và an toàn. Một cảnh đẹp độc nhất vô nhị được đắm mình trong những tia nắng mặt trời đang suy tàn. Sự mát mẻ của buổi chiều đã kêu gọi cư dân của thành phố và những đám đông tìm kiếm niềm vui chạy qua chạy lại với mục đích tận hưởng.”- Ellen G. White, Tộc Trưởng và Tiên Tri, trang 157, 158.

Cuối cùng, Đức Chúa Trời chỉ cứu được Lót, vợ và hai con gái của ông (Sáng-thế Ký 19:15), tức là gần một nửa so với con số tối thiểu là 10. Con rể, người không coi trọng lời cảnh báo của Lót, vẫn ở lại thành (Sáng-thế Ký 19:14). Xứ sở xinh đẹp đó sau này đã bịhủy diệt. Động từ Hê-bơ-rơ “hafakh”, nghĩa là “bị lật đổ”, xuất hiện nhiều lần trong đoạn này (Sáng-thế Ký 19:21,25,29) và mô tả sự hủy diệt của Sô-đôm (Phục-truyền Luật-lệ Ký 29:23, A-mốt 4:11). Đất nước đã bị “đảo ngược”. Cũng giống như trận đại hồng thủy “đảo ngược” sự sáng tạo ban đầu (Sáng-thế Ký 6:7), sự hủy diệt của Sô-đôm là sự “đảo ngược” của vườn Ê-đen (Sáng-thế Ký 13:10). Trong sự hủy diệt của Sô-đôm, chúng ta cũng được biết trước về sự hủy diệt vào thời kỳ cuối cùng (xem Giu-đe 7).

Thứ Sáu Nghiên Cứu Bổ Túc

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC

Đọc phần “Luật pháp và các giao ước” trong Tộc Trưởng và Tiên Tri, Ellen G. White, trang 370–373.

Lời cầu xin kiên nhẫn và bền đỗ của Áp-ra-ham thay mặt cho dân thành Sô-đôm (Sáng-thế Ký 18:22–33) khuyến khích chúng ta cầu nguyện cho những kẻ ác, mặc dù họ dường như đang ở trong tình trạng tuyệt vọng của tội lỗi. Hơn nữa, sự chu đáo của Đức Chúa Trời đối với sự khăng khăng của Áp-ra-ham và việc Ngài sẵn sàng tha thứ chỉ vì 10 người công bình là một khái niệm “tư tưởng cách mạng”, như Gerhard Hasel đã chỉ ra:

“Theo một cách cực kỳ cách mạng, tư duy tập thể cũ, vốn khiến thành viên vô tội của một tập thể có tội bị trừng phạt, đã được chuyển đổi thành một thứ mới: sự hiện diện của những người công bình còn sót lại có thể bảo vệ cho toàn bộ… Vì lợi ích của những người công bình còn lại, Đức Giê-hô-va trong sự công bình của Ngài sẽ tha thứ cho cả thành gian ác. Khái niệm này được mở rộng trong lời tiên tri của tôi tớĐức Giê-hô-va, người làm công việc cứu rỗi cho nhiều người.” - Gerhard F. Hasel, trong The Remnant: The History and Theology of the Remnant Idea From Genesis to Isaiah, trang 150, 151.

“Xung quanh chúng ta là những linh hồn sắp bị tàn phá trong tuyệt vọng và khủng khiếp giống như điều đã xảy ra với Sô-đôm. Sự kiểm soát đang mất đi từng ngày. Nhiều người nằm ngoài tầm với của lòng nhân từChúa. Và đâu là những tiếng nói cảnh báo và kêu gọi tội nhân chạy trốn khỏi sự diệt vong đáng sợ này? Đâu là những bàn tay giang ra để kéo họ từ cõi chết trở về? Những người với đức tin khiêm nhường và bền bỉ đang cầu xin Chúa cho họ đang ở đâu? Thần khí của Áp-ra-ham là thần khí của Đấng Cơ-đốc. Chính Con Đức Chúa Trời là Đấng Cầu thay vĩ đại thay cho tội nhân. Đấng đã trả giá cho sự cứu chuộc biết giá trị của linh hồn con người.”- Ellen G. White, Tộc Trưởng và Tiên Tri, trang 140.

Câu hỏi thảo luận:

1. Chỉ có cầu vồng và phép cắt bì được gọi là “dấu hiệu của giao ước.” Điểm chung và điểm khác biệt giữa hai giao ước là gì?

2. Mặc dù được kêu gọi bởi Đức Chúa Trời, và thường được sử dụng trong Tân Ước như một gương mẫu cho việc sống bởiđức tin, nhưng đôi khi Áp-ra-ham vẫn chùn bước. Bài học nào chúng ta nên học và không học từ ông?

3. Một số người tranh luận chống lại ý tưởng rằng Đức Chúa Trời sẽ trừng phạt kẻ bị hư mất, họ nói rằng hành động này sẽ đi ngược lại tình yêu thương của Đức Chúa Trời. Chúng ta với tư cách là những người tin rằng Đức Chúa Trời sẽ trừng phạt kẻ bị hư mất sẽ phản ứng lại lập luận này ra sao?