Bài Học 6 · 30 Tháng 4 – 6 Tháng 5

Dòng dõi Áp-ra-ham

Kinh Thánh Nghiên Cứu: Sáng-thế Ký 12; Ê-sai 48:20; Ê-sai 36:6, 9; Giê-rê-mi 2:18; Sáng-thế Ký 13; Sáng-thế Ký 14; Hê-bơ-rơ 7:1-10

"Bởi đức tin, Áp-ra-ham vâng lời Chúa gọi, đi đến xứ mình sẽ nhận làm cơ nghiệp: người đi mà không biết mình đi đâu" — Hê-bơ-rơ 11:8
Sa-bát Dòng Dõi Áp-ra-ham

Câu gốc

“Bởi đức tin, Áp-ra-ham vâng lời Chúa gọi, đi đến xứ mình sẽ nhận làm cơ nghiệp: người đi mà không biết mình đi đâu” (Hê-bơ-rơ 11:8).

Kinh Thánh nghiên cứu

Sáng-thế Ký 12; Ê-sai 48:20; Ê-sai 36:6, 9; Giê-rê-mi 2:18; Sáng-thế Ký 13; Sáng-thế Ký 14; Hê-bơ-rơ 7:1-10.

Bây giờ chúng ta đã đến phần giữa của sách Sáng-thế Ký. Phần trọng tâm này (Sáng-thế Ký 12–22) sẽ bao gồm hành trình của Áp-ra-ham, từ lời kêu gọi đầu tiên của Đức Chúa Trời, “lekh lekha”, “Hãy đi!” (Sáng-thế Ký 12:1), khiến Áp-ra-ham rời bỏ quá khứ của mình để đến với lời kêu gọi thứ hai của Đức Chúa Trời, Kết quả là Áp-ra-ham luôn di chuyển, là người di cư, đó là lý do tại sao ông còn được gọi là “khách kiều ngụ” (Sáng-thế Ký 17:8).

Trong cuộc hành trình của mình, Áp-ra-ham giống như là người rày đây mai đó, như khách bộ hành trên đất. Giữa hai lời kêu gọi này đã hình thành cuộc hành trình đức tin của Áp-ra-ham, ông nghe được tiếng của Đức Chúa Trời, điều này trấn an ông: “Ngươi chớ sợ chi” (Sáng-thế Ký 15:1). Ba lời của Đức Chúa Trời đánh dấu ba phần trong cuộc hành trình của Áp-ra-ham, sẽ được học trong các tuần 6, 7 và 8.

Áp-ra-ham nêu gương về đức tin (Sáng-thế Ký 15:6) và được ghi lại trong Kinh Thánh tiếng Hê-bơ-rơ là người có đức tin (Nê-hê-mi 9:7,8). Trong Tân Ước, Áp-ra-ham là một trong những nhân vật được nhắc đến nhiều nhất từ Cựu Ước, và tuần này chúng ta sẽ bắt đầu tìm hiểu lý do tại sao.

Thứ Nhất Áp-ram Ra Khỏi Quê Hương

Đọc Sáng-thế Ký 12:1–9. Tại sao Đức Chúa Trời kêu gọi Áp-ram ra khỏi quê hương và gia đình của mình? Áp-ram hưởng ứng thế nào?

Lần cuối cùng mà Đức Chúa Trời đã nói với một người, ít nhất là như được ghi lại trong Kinh Thánh, đó là với Nô-ê, để trấn an ông sau nước lụt rằng Ngài sẽ thiết lập giao ước với tất cả các loài xác thịt (Sáng-thế Ký 9:15–17) và giao ước khác là sẽ không còn nướclụt trên phạm vi toàn thế giới. Bây giờ đối với Áp-ram,lời của Đức Chúa Trời khác hẳn và kết nối lại với lời hứa đó: tất cả các dân tộc trên đất sẽ được ban phước qua Áp-ram.

Sự ứng nghiệm của lời tiên tri đó bắt đầu bằng việc rời bỏ quá khứ. Áp-ram rời bỏ tất cả những gì quen thuộc với ông, gia đình và quê hương, thậm chí là một phần của bản thân ông. Cường độ của việc ra đi này được phản ánh trong việc lặp lại từ khóa “đi”, xuất hiện bảy lần trong bối cảnh này. Áp-ram trước tiên phải rời khỏi xứ mình, “U-rơ xứ Canh-đê” cũng là Ba-by-lôn (Sáng-thế Ký 11:31; Ê-sai 13:19). Lời kêu gọi “ra khỏi Ba-by-lôn” đã có một lịch sử lâu đời trong số các tiên tri của Kinh Thánh (Ê-sai 48:20, Khải Huyền 18:4).

Việc rakhỏi quê hương của Áp-ram cũng khiến gia đình ông lo lắng. Áp-ram phải để lại tài sản và phần lớn những gì ông đã học và có được nhờ di truyền, giáo dục và ảnh hưởng từ gia đình.

Tuy nhiên, lời kêu gọi hãy ra đi của Đức Chúa Trời còn bao hàm nhiều điều hơn thế. Cụm từ trong tiếng Hê-bơ-rơ “lekh lekha”, “hãy đi!”, được dịch theo nghĩa đen, nghĩa là “tự mình ra đi” hoặc “rời bỏ chính mình”. Việc Áp-ram ra khỏi Ba-by-lôn liên quan nhiều hơn đến môi trường sống hoặc thậm chí gia đình của ông. Cụm từ “lekh lekha” gợi ý sự nhấn mạnh vào bản thân. Áp-ram phải rời bỏ chính mình, để loại bỏ phần con người chứa đựng quá khứ Ba-by-lôn của ông.

Mục tiêu của sự từ bỏ này là “vùng đất” mà Đức Chúa Trời sẽ chỉ cho ông. Ngôn ngữ tương tự sẽ được sử dụng một lần nữa trong bối cảnh dâng Y-sác làm của lễ hy sinh (Sáng-thế Ký 22:2), núi Mô-ri-a, nơi Y-sác sẽ được dâng làm của lễ hy sinh và cũng là nơi xây đền thờ Giê-ru-sa-lem (2 Sử-ký 3:1). Lời hứa của Đức Chúa Trời không chỉ về một vùng đất tự nhiên mà còn về sự cứu rỗi thế gian. Ý tưởng này được khẳng định lần nữa trong lời hứa của Đức Chúa Trời về nguồn phước cho muôn dân (Sáng-thế Ký 12:2,3). Động từ “barakh”, “ban phước” xuất hiện năm lần trong đoạn Kinh Thánh này. Sự ban phước này được thực hiện qua “dòng dõi” của Áp-ram (Sáng-thế Ký 22:18, Sáng-thế Ký 26:4, Sáng-thế Ký 28:14). Phân đoạn này đề cập đến “dòng dõi”, cuối cùng sẽ được ứng nghiệm trong Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc (Công-vụcác Sứ-đồ 3:25).

Chúa có thể kêu gọi bạn bỏ lại đằng sau điều gì? Bạn có thể phải từ bỏ phần nào cuộc đời mình để hưởng ứng lời mời gọi của Chúa?

Thứ Hai Sự Cám Dỗ Của Ê-díp-tô

Đọc Sáng-thế Ký 12:10-20. Tại sao Áp-ram rời khỏi Đất Hứa để đến xứ Ê-díp-tô? Pha-ra-ôn cư xửthế nào với Áp-ram?

Trớ trêu thay, Áp-ram, người vừa đến Đất Hứa nhưng rồi quyết định đi đến xứ Ê-díp-tô vì “trong xứ bị cơn đói kém” (Sáng-thế Ký 12:10). Bằng chứng về những người từ Ca-na-an đến Ê-díp-tô trong thời kỳ đói kém đã được chứng thực rõ ràng trong các văn bản Ai Cập cổ đại. Trong sự dạy dỗ của người Ai Cập về Merikare, một văn bản được soạn trong giai đoạn (2060–1700 TCN), những người đến từ Ca-na-an được coi là “người châu Á khốn khổ” (aamu) và được mô tả là “khốn khổ… thiếu nước… anh ta không trú ngụ ở một chỗ, thức ăn đã thôi thúc bước chân của anh ta.”- Miriam Lichtheim, Văn học Ai Cập cổ đại, Tập I: Vương quốc Cổ và Trung đại (Berkeley, CA: Nhà xuất bản Đại học California, 1973), trang 103, 104.

Sự cám dỗ của Ê-díp-tô thường là một vấn đề đối với dân Y-sơ-ra-ên xưa (Dân-số Ký 14:3, Giê-rê-mi 2:18). Do đó xứ Ê-díp-tô trở thành biểu tượng của việc tin tưởng vào con người hơn là vào Đức Chúa Trời (2 Các Vua 18:21; Ê-sai 36:6,9). Ở Ê-díp-tô, nơi có thể nhìn thấy nước hàng ngày, đức tin là không cần thiết, vì lời hứa về một vùng đất tốt đẹp có thể nhìn thấy được. So với nơi có nạn đói, Ê-díp-tô có vẻ là một nơi tốt để đến, bất chấp những gì Đức Chúa Trời đã phán với ông.

Bây giờ Áp-ram rời khỏi Ca-na-an trái ngược khi Áp-ram đã rời khỏi U-rơ. Trước đây, Áp-ram được miêu tả là một người có đức tin, người đã rời bỏ U-rơ để đáp lại lời kêu gọi của Đức Chúa Trời; bây giờ, Áp-ram rời bỏ Đất Hứa, theo ý nguyện của riêng mình. Trước đây, Áp-ram đã trông cậy vào Đức Chúa Trời; bây giờ ông hành xử như một người đứng đầu, người chỉ biết dựa vào bản thân. “Trong thời gian ởÊ-díp-tô, Áp-ra-ham đã đưa ra bằng chứng rằng ông không thoát khỏi sự yếu đuối và bất toàn của con người. Khi che giấu sự thật rằng Sa-ra là vợ của mình, ông đã phản bộikhông tin cậy vào sự chăm gìn của Đức Chúa Trời, ông thiếu đức tin cao quý ‎và lòng dũng cảm mà thường được nhắc đến trong cuộc đời của ông.”- trích Ellen G. White, Tộc Trưởng và Tiên Tri, trang 130.

Vậy thì những gì chúng ta thấy ở đây là làm thế nào mà ngay cả một người vĩ đại của Đức Chúa Trời cũng có thể mắc sai lầm mà Ngài vẫn không bỏ rơi. Khi Tân Ước nói về Áp-ra-ham như một ví dụ về sự cứu rỗi bởi ân điển, thì nó chỉ có nghĩa là - ân điển. Bởi vì, nếu không phải bởi ân điển, Áp-ra-ham, cũng như tất cả chúng ta, sẽ không có hy vọng về sự cứu rỗi.

Câu chuyện này dạy chúng ta điều gì về việc Cơ-đốc nhân trung tín cũng dễ dàng đi sai đường? Tại sao sự không vâng lời luôn là một lựa chọn không tốt?

Thứ Ba Áp-ram Và Lót

Đọc Sáng-thế Ký 13:1-18. Câu chuyện này dạy chúng ta điều gì về sự quan trọng của tính cách?

Áp-ram trở lại nơi trước đây, như thể chuyến đi đến Ê-díp-tô của ông chỉ là một con đường vòng không may. Lược sửvề Đức Chúa Trời với Áp-ram bắt đầu trở lại, nơi dừng lại kể từ chuyến đi đầu tiên của ông đến Đất Hứa. Trạm dừng đầu tiên của Áp-ram là Bê-tên (Sáng-thế Ký 13:3), cũng giống như trong chuyến đi đầu tiên của ông đến xứ Ca-na-an (Sáng-thế Ký 12:3–6). Áp-ram đã ăn năn và trở lại với “chính mình”: người có đức tin.

Sự kết nối lại của Áp-ram với Đức Chúa Trời đã thể hiện trong mối quan hệ của ông với con người, qua cách ông giải quyết vấn đề với Lót, cháu trai của ông, liên quan đến việc sử dụng đất đai. Tuy nhiên, chính Áp-ram là người đề xuất một thỏa thuận hòa bình và cho phép Lót chọn lựa trước (Sáng-thế Ký 13:9,10), một hành động rộng lượng và tốt bụng, cho thấy tính cách mà Áp-ram đã có.

Việc Lót chọn phần dễ nhất và tốt nhất cho mình, vùng đồng bằng có nhiều nước bên sông Giô-đanh (Sáng-thế Ký 13:10,11), mà không quan tâm đến những người láng giềng độc ác (Sáng-thế Ký 13:13) cho thấy tính tham lam của ông. Cụm từ “cho chính mình” nhắc chúng ta nhớ đến những người sống trước nước lụt, họ cũng đã chọn “cho chính mình” (xem Sáng-thế ký 6:2).

Ngược lại, hành động của Áp-ram là một hành động bởi đức tin. Áp-ram không chọn đất; nó đã được ban cho ông bởi ân điển của Đức Chúa Trời. Không giống như Lót, Áp-ram chỉ nhướng mắt khắp đất theo sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời (Sáng-thế Ký 13:14). Chỉ khi Áp-ram tách ra khỏi Lót, Đức Chúa Trời mới phán bảo ông một lần nữa (Sáng-thế Ký 13:14). Thật ra, đây là lần đầu tiên được ghi lại trong Kinh Thánh rằng Đức Chúa Trời phán với Áp-ram kể từ cuộc nói chuyện của ông tại U-rơ, “Hãy nhướng mắt lên, nhìn từ chỗ ngươi cho đến phương bắc, phương nam, phương đông và phương tây: Vì cả xứ nào ngươi thấy, ta sẽ ban cho ngươi và cho dòng dõi ngươi đời đời” (Sáng-thế Ký 13:14,15). Vì vậy, Đức Chúa Trời mời gọi Áp-ram “đi”trên đất này như một hành động chiếm lấy “Hãy đứng dậy đi khắp trong xứ, bề dài và bề ngang; vì ta sẽ ban cho ngươi xứ nầy” (Sáng-thế Ký 13:17).

Tuy nhiên, Chúa phán rõ rằng Ngài, Đức Chúa Trời, đang ban nó cho Áp-ram. Đó là một món quà của ân điển, mà Áp-ram phải có được bởi đức tin, một đức tin dẫn đến sự vâng phục. Chính công việc của Đức Chúa Trời sẽ mang lại tất cả những gì Ngài đã hứa với Áp-ram ở đây (Sáng-thế Ký 13:14–17).

Làm thế nào chúng ta có thể học cách tử tế và rộng lượng với người khác, ngay cả khi họ không đối xử như vậy với chúng ta?

Thứ Tư Liên Minh Ba-bên

Đọc Sáng-thế Ký 14:1–17. Trận chiến này có ý nghĩa gì khi diễn ra ngay sau thời điểm Áp-ram nhận được Đất Hứa? Câu chuyện này dạy chúng ta điều gì về Áp-ram?

Đây là trận chiến chiến đầu tiên được kể lại trong Kinh Thánh (Sáng-thế Ký 14:2). Liên minh của bốn đạo quân từ Mê-sô-bô-ta-mi và Ba Tư địch lại liên minh khác của năm đạo quân Ca-na-an, bao gồm các vua của Sô-đôm và Gô-mô-rơ (Sáng-thế Ký 14:8), cho thấy một cuộc xung đột lớn (Sáng-thế Ký 14:9). Lý do cho hoạt động quân sự này liên quan đến thực tế là các dân Ca-na-an dấy loạn cùng các chư hầu Ba-by-lôn (Sáng-thế Ký14:4,5). Mặc dù câu chuyện này đề cập đến một cuộc xung đột lịch sử cụ thể, nhưng thời điểm của cuộc chiến “toàn diện” này, ngay sau khi Đức Chúa Trời ban Đất Hứa cho Áp-ram, mang lại cho sự kiện này một ý nghĩa thuộc linh đặc biệt.

Sự tham gia của rất nhiều dân tộc từxứ Ca-na-an cho thấy rằng vấn đềchủ quyền đối với đất đai đang bị đe dọa. Trớ trêu thay, trại của Áp-ram, bên có liên quan thật sự, vì ông là chủ nhân thực sự duy nhất của vùng đất, là lực lượng duy nhất còn lại không liên quan đến cuộc xung đột.

Lý do cho sự trung lập của Áp-ram là vì đối với ông, có được Đất Hứa là không nhờ vũ khí hoặc do sự khôn ngoan của các chiến lược chính trị. Vương quốc của Áp-ram là món quà của Đức Chúa Trời. Lý do duy nhất Áp-ram can thiệp là vì cháu trai ông là Lót, người bị bắt làm tù binh trong trận chiến (Sáng-thế Ký 14:12,13).

“Áp-ra-ham, đang sống yên bình tại lùm cây dẻ bộp của Mam-rê, đã học được từ câu chuyện một người chạy thoát khỏi tù của trận chiến và tai họa ập đến với cháu trai mình. Ông không nhớ gì về sự ích kỷ của Lót trước đó. Tất cả tình cảm của ông dành cho Lót đã được đánh thức và ông xác định rằng nên giải cứu Lót. Trước hết, ông tìm kiếm lời khuyên từ Đức Chúa Trời, và chuẩn bị cho trận chiến.”- trích Ellen G. White, Tộc Trưởng và Tiên Tri, trang 135.

Nhưng Áp-ram không đối đầu với toàn bộliên minh. Trong một chiến dịch biệt kích diễn ra nhanh chóng về đêm, ông chỉ tấn công vào trại quân nơi Lót bị giam giữ. Lót được cứu. Vì vậy, người con trung tín của Đức Chúa Trời này cũng tỏ ra can đảm và kiên cường. Không nghi ngờ, ảnh hưởng của ông trong niềm tin nơi Chúa ngày càng lớn, và mọi người nhìn thấy tính cách của ông cũng như biết thêm nhiều điều về Chúa, Đấng mà ông đang phụng sự.

Hành động của chúng ta có ảnh hưởng gì đến người khác? Chúng ta đang gửi đi sứ điệp gì về hành động đức tin của chính mình?

Thứ Năm Phần Mười Của Vua Mê-chi-xê-đéc

Đọc Sáng-thế Ký 14:18–24 và Hê-bơ-rơ 7:1–10. Mên-chi-xê-đéc là ai? Tại sao Áp-ram lại dâng phần mười của mình cho thầy tế lễ dường như chưa từng được nhắc đến này?

Sự xuất hiện bất ngờ của Mên-chi-xê-đéc khó hiểu không phải là lạc đề. Sau khi Áp-ram được các vua Ca-na-an cảm ơn, giờ đây ông cảm ơn thầy tế lễ này, lòng biết ơn được biểu lộ khi ông trả phần mười của mình cho Mên-chi-xê-đéc.

Mên-chi-xê-đéc đến từ thành Sa-lem, nghĩa là “bình an”, một sứ điệp thích hợp sau sự nổi loạn của cuộc chiến.

Từ “tsedek”, “công bằng”, trong tên gọi của Mên-chi-xê-đéc, xuất hiện trái ngược với tên của vua Sô-đôm, Bê-ra (“tội ác”), và Gô-mô-rơ, Bi-rê-sa (“độc ác”), có lẽ tên họ đại diện một phần tính cách con người của các vua đó (Sáng-thế Ký 14:2).

Mên-chi-xê-đéc xuất hiện sau sự chuyển biến của bạo lực và tội ác do các vua Ca-na-an khác đại diện. Phân đoạn Kinh Thánh này cũng chứa mối quan hệ đầu tiên trong Kinh Thánh về từ “thầy tế lễ” (Sáng-thế Ký 14:18). Sự kết hợp của Mên-chi-xê-đéc với “Đức Chúa Trời Chí Cao” (Sáng-thế Ký 14:18), Đấng mà Áp-ram gọi là Đức Chúa Trời của mình (Sáng-thế Ký 14:22), cho thấy rõ rằng Áp-ram coi vua là thầy tế lễ của Đức Chúa Trời mà Áp-ram đã phụng sự. Tuy nhiên, Mên-chi-xê-đéc không được đồng nhất với Đấng Cơ-đốc. Ông là đại diện của Đức Chúa Trời trong số dân chúng thời đó (xem Ellen G. White,Comments, The SDA Bible Commentary, quyển 1, trang 1092, 1093).

Quả thật, Mên-chi-xê-đéc thi hành bổn phận như là một thầy tế lễ. Ông phục vụ “bánh và rượu”, một liên tưởng thường ám chỉ việc sử dụng rượu nho (Phục-truyền Luật-lệ Ký 7:13, 2 Sử ký 31:5), xuất hiện trở lại trong bối cảnh dâng hiến phần mười (Phục-truyền Luật-lệ Ký 14:23). Ngoài ra, ông còn ban phước cho Áp-ram (Sáng-thế Ký 14:19).

Trong khi đó, Áp-ram “lấy một phần mười về cả của giặc mà dâng cho vua đó” (Sáng-thế Ký 14:20) như một sự đáp lại cho Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa, “Chúa Tể của trời và đất” (Sáng-thế Ký 14:19). Tiêu đề này chỉ đến phần mở đầu của câu chuyện Tạo Thế (Sáng-thế Ký 1:1), trong đó cụm từ “trời và đất” có nghĩa là toàn bộ hoặc “tất cả”. Như vậy, phần mười được hiểu là sự bày tỏ lòng biết ơn đối với Đấng Tạo Hóa, Đấng sở hữu mọi thứ (Hê-bơ-rơ 7:2–6; so sánh với Sáng-thế Ký 28:22). Nghịch lý thay, phần mười được người thờ phượng hiểu không phải là một món quà dành cho Đức Chúa Trời, mà là một món quà từ Đức Chúa Trời, bởi vì Đức Chúa Trời ban cho chúng ta mọi thứ để bắt đầu.

Tại sao việchoàn trả phần mười là một dấu hiệu mạnh mẽ của đức tin, cũng như là việc phát triển đức tin?

Thứ Sáu Nghiên Cứu Bổ Túc

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC

Đọc Ellen G. White, “Áp-ra-ham ở Ca-na-an” tr. 134-136 trong quyển Tộc Trưởng và Tiên Tri.

“Hội Thánh của Đấng Cơ-đốc trở nên một nguồn phước và các thuộc viên của Hội Thánh sẽ được ban phước khi họ mang phước lành cho những người khác. Mục tiêu của Đức Chúa Trời khi chọn một dân tộc trong thế gian không chỉ là Ngài có thể nhận họ làm con trai và con gái của Ngài, mà còn nhờ họ mà Ngài có thể ban cho thế gian những ơn phước trong sự soi sáng của Đức Chúa Trời. Khi Chúa chọn Áp-ra-ham, ông không chỉ đơn giản là để trở thành người bạn đặc biệt của Chúa, mà còn là nơi của những đặc ân quý giá và đặc biệt Chúa muốn ban cho nhiều dân tộc. Ông phải là một ngọn đèn sáng giữa những con người đạo đức đen tối xung quanh ông.

“Bất cứ khi nào Đức Chúa Trời ban phước cho con cái Ngài bằng ánh sáng và lẽ thật, thì không những họ có thể được ban cho món quà sự sống đời đời, mà những người xung quanh họ cũng có thể được soi sáng về phần thuộc linh… “Chúng ta là muối của đất” và khi Đức Chúa Trời làm cho con cái Ngài trở thành muối, điều đó không chỉ để bảo vệ chính họ, mà họ có thể là nguồn phước cho những người khác…

“Bạn có tỏa sáng như những viên đá sống động trong nhà của Đức Chúa Trời không?…Chúng ta không phải là tôn giáo chân chính, trừ khi sức ảnh hưởng của chúng ta được kiểm soát trong mọi công việc. Chúng ta nên kết hợp sự tin kính thực tế với công việc của cả đời. Chúng ta được biến đổi bởi ân điển của Đấng Cơ-đốc trong tâm hồn chúng ta.”- Ellen G. White, Reflectingcơ-đốc, trang 205.

Câu hỏi thảo luận:

1.“Ta sẽ ban phước cho ngươi… và ngươi sẽ thành một nguồn phước” (Sáng-thế Ký 12:2). Chúng tađược ban phước có nghĩa là gì? Là những người phụng sự cùng một Đức Chúa Trời như Áp-ram, chúng ta có thể ban phước cho người khác như thế nào?

2. Điều gì sai khi Áp-ra-ham có một phần nói dối về vợ mình thành là em gái của ông?

3.Đọc lại Sáng-thế Ký 14:21–23, Áp-ram đáp lại lời đề nghị của vua Sô-đôm. Tại sao ông lại trả lời như ông đã làm, và bài học quan trọng nào mà chúng ta có thể rút ra từ câu chuyện này? Áp-ram chẳng được bào chữa nếu ông quyết định lấy những gì vua đã ban cho ông hay sao?