Nước lụt
Kinh Thánh Nghiên Cứu: Sáng-thế Ký 6:13-7:10; 2 Phi-e-rơ 2:5-9; Sáng-thếký 7; Rô-ma 6:1-6; Thi Thiên 106:4; Sáng-thế Ký 8; Sáng-thế Ký 9:1-17
"Trong đời Nô-ê thể nào, khi Con người đến cũng thể ấy" — Ma-thi-ơ 24:37
Sa-bát Nước Lụt
Câu gốc
“Trong đời Nô-ê thể nào, khi Con người đến cũng thể ấy” (Ma-thi-ơ 24:37).
Kinh Thánh nghiên cứu
Sáng-thế Ký 6:13-7:10; 2 Phi-e-rơ 2:5-9; Sáng-thếký 7; Rô-ma 6:1-6; Thi Thiên 106:4; Sáng-thế Ký 8; Sáng-thế Ký 9:1-17.
Bấy giờ, “Đức Giê-hô-va thấy sự hung ác của loài người trên mặt đất rất nhiều, và các ý tưởng của lòng họ chỉ là xấu luôn” (Sáng-thế Ký 6:5). Động từ “thấy” (Sáng-thế Ký 6:5) đưa người đọc trở lại từng bước trong buổi đầu Sáng Thế của Đức Chúa Trời. Nhưng những gì Đức Chúa Trời nhìn thấy bây giờ, thay vì “tov” (điều tốt) thì lại là “ra‘” (điều ác) (Sáng-thế Ký 6:5). Như thể Đức Chúa Trời hối tiếc vì Ngài đã dựngnên thế gian, giờ đây đầy sự ác (Sáng-thế Ký 6:6,7).
Tuy nhiên, sự hối tiếc của Đức Chúa Trời cũng hàm chứa những yếu tố cứu rỗi. Từ“tự trách” (nakham) trong tiếng Hê-bơ-rơ được lặp lại trong tên của Nô-ê (Noakh), có nghĩa là “an ủi” (Sáng-thế Ký 5:29). Vì vậy, phản ứng của Đức Chúa Trời đối với sự gian ác này có hai mặt. Nó chứa đựng mối đe dọa của sự công bình, dẫn đến sự hủy diệt đối với một số người; tuy nhiên, lời đáp lại của Ngài hứa hẹn sự an ủi và lòng thương xót, đem đến sự cứu rỗi cho những người khác.
Tiếng của Chúa đã được phán ra với Ca-in và A-bên, và nó được lặp lại qua sự tương phản giữa hai dòng dõi là Sết (“các con trai của Đức Chúa Trời”) và Ca-in (“các con trai của loài người”). Bây giờ chúng ta nghe lại điều đó khi Đức Chúa Trời phân biệt giữa Nô-ê và phần còn lại của loài người.
Thứ Nhất Chuẩn Bị Cho Nước Lụt
Đọc Sáng-thế Ký 6:13 - 7:10. Chúng ta học được bài học gì từ những lời ký thuật diệu kỳ về lịch sử con người trên đất?
Giống như Đa-ni-ên, Nô-ê là tiên tri dự đoán thời kỳ tận thế. Từ tiếng Hê-bơ-rơ “tevah” có nghĩa là “chiếc tàu” (Sáng-thế Ký 6:14) là một từvay mượn đặc biệt của người Ai Cập được dùng cho “rương mây”, nơi mà đứa trẻ sơ sinh Môi-se được giấu, người được bảo hộ để cứu dân Y-sơ-ra-ên trong xứ Ê-díp-tô (Xuất Ê-díp-tô Ký 2:3). Ngoài ra, một số người đã thấy cấu trúc chung của chiếc tàu tương đồng với chiếc hòm của đền tạm (Xuất Ê-díp-tô Ký 25:10). Cũng giống như chiếc tàu của nước lụt sẽ cho phép loài người tồn tại, chiếc hòm giao ước, một dấu hiệu cho thấy sự hiện diện của Đức Chúa Trời ở giữa dân sựNgài (Xuất Ê-díp-tô Ký 25:22), dẫn đến công việc cứu rỗi của Đức Chúa Trời dành cho dân sự Ngài.
Cụm từ “Nô-ê làm các điều này y như lời Đức Chúa Trời đã phán dặn” (Sáng-thế Ký 6:22) kết thúc phần chuẩn bị. Động từ “asah” - “làm”, ám chỉ hành động của Nô-ê, đáp lại động từ “asah”, “làm” theo mệnh lệnh của Đức Chúa Trời, xuất hiện đầu chương (Sáng-thế Ký 6:14) và được lặp lại năm lần (Sáng-thế Ký 6:14–16). Sự lặp lại giữa mệnh lệnh của Đức Chúa Trời và sự hưởng ứng của Nô-ê cho thấy ông tuyệt đối vâng theo những gì Đức Chúa Trời đã phán dạy ông phải làm. Điều thú vị là động từ “asah” cũng được sử dụng trong bối cảnh làm hòm giao ước (Xuất Ê-díp-tô Ký 39:32,42; Xuất Ê-díp-tô Ký 40:16).
“Đức Chúa Trời ban cho Nô-ê các kích thước chính xác của chiếc tàu và các chỉ dẫn rõ ràng liên quan đến việc đóngtàu trong mọi trường hợp cụ thể. Sự khôn ngoan của con người không thể nghĩ ra một cấu trúc có sức mạnh và độ bền lớn như vậy. Chúa là Đấng thiết kế và Nô-ê là bậc thầy đóng tàu.”- Ellen G. White, Tộc Trưởng và Tiên Tri, tr. 92.
Một lần nữa, sựtương đồng giữa “chiếc tàu” và “hòm giao ước” tái khẳng định chức năng cứu chuộc. Do đó, sự vâng lời của Nô-ê được mô tả là một phần trong kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Nô-ê được cứu chỉ đơn giản là vì ông có đức tin để làm theo những gì Đức Chúa Trời truyền cho ông (xin đọc Hê-bơ-rơ 11:7). Ông là tấm gương về đức tin thể hiện qua sự vâng lời, đức tin quan trọng nhất (Gia-cơ 2:20).
Nói tóm lại, mặc dù Nô-ê “được ơn trước mặt Giê-hô-va” (Sáng-thế Ký 6:8), nhưng để đáp lại ân điển đã được ban cho này, Nô-ê đã thực hiện lòng trung tín và vâng lời đối với các mệnh lệnh của Đức Chúa Trời. Đó chẳng phải là điều nên có ở tất cả chúng ta hay sao?
Đọc 2 Phi-e-rơ 2:5–9. Tại sao chỉ có gia đình Nô-ê được cứu? Chúng ta rút ra bài học gì từ câu chuyện Nô-ê về vai trò của chúng ta trong việc cảnh báo thế giới về sự phán xét sắp xảy đến?
Thứ Hai Nước Lụt
Động từ “asah”,“làm”, ám chỉ hành động của Nô-ê, cũng là một từ khóa trong phần ký thuậtcủa Sáng-thếký về sự Sáng tạo (Sáng-thế Ký 1:7,16,25,26,31; Sáng-thế Ký 2:2). Hành động vâng lời Đức Chúa Trời của Nô-ê cũng giống như công việc của Ngài khi tạo dựng. Những gì chúng ta có thể nhận thấy từ liên kết này rằng,nước lụt không chỉ là việc Đức Chúa Trời trừng phạt loài người, mà còn là việc Ngài cứu rỗi chúng ta.
Đọc Sáng-thế Ký đoạn 7. Tại sao mô tả vềnước lụt nhắc chúng ta nhớ đến câu chuyện Sáng Tạo? Chúng ta rút ra bài học gì từ sự tương đồng giữa hai sự kiện này?
Đọc kỹ đoạn Kinh Thánh vềnước lụt cho thấy việc sử dụng nhiều từ và cách diễn đạt phổ biến trong câu chuyện Sáng Tạo: “bảy” (Sáng-thế Ký 7:2,3,4,10; so sánh với Sáng-thế Ký 2:1–3); “người nam và người nữ” (Sáng-thế ký 7:2,3,9,16; so sánh với Sáng-thế Ký 1:27); “tùy theo từng loài” (Sáng-thế ký 7:14; so sánh với Sáng-thế Ký 1:11,12,21,24,25); “thú dữ”, “loài chim”, “loài côn trùng trên mặt đất” (xin đọc Sáng-thế Ký 7:8,14,21,23; so sánh với Sáng-thế Ký 1:24,25); và “xác thịt có sanh khí” (Sáng-thế Ký 7:15,22; so sánh với Sáng-thế Ký 2:7).
Sau đó, câu chuyện về nước lụt, phần nào giống như câu chuyện Sáng Tạo. Phầnký thuật vềsựSáng Tạo được lặp lạibày tỏ rằng Đức Chúa Trời là Đấng có thể dựng nên và cũng như Đấng hủy diệt (Phục-truyền Luật-lệ Ký 32:39). Nhưng những sự lặp lại này cũng truyền đi sứ điệp hy vọng: Nước lụt là ý địnhcho sự sáng tạo mới hướng đến một sựhiện hữu mới.
Tác động của nước cho thấy sự kiện sáng tạo này thật thực ra đã đảo ngược công việc Sáng Tạo trong Sáng-thếký 1. Ngược lại với Sáng-thế ký 1, mô tả sự phân rẽ nước ở dưới khoảng không và nước ở trên khoảng không (Sáng-thế ký 1:7), nước lụt liên quan đến sựtái hợp nhất của nó khi các nguồn của vực lớn và các đập trên trời mở xuống (Sáng-thế Ký 7:11).
Quá trình này truyền đạt một sứ điệp nghịch lý: Đức Chúa Trời phải phá hủy những gì có trước để cho phép tạo nên một sự sáng tạo mới sau đó. Việc dựng nên đất mới đòi hỏi phải phá hủy đất cũ. Sự kiện nước lụt báo trước về sự cứu rỗi trong tương lai của thế giới vào thời kỳ cuối cùng: “Tôi thấy trời mới đất mới, vì trời thứ nhứt và đất thứ nhứt đã biến đi mất” (Khải Huyền 21:1; so sánh với Ê-sai 65:17).
Điều gì trong chúng ta cần phải phá hủy để được tạo dựng mới? (Đọc Rô-ma 6:1–6)
Thứ Ba Kết Thúc Nước Lụt
Sáng-thếký 7:22–24 mô tả doảnh hưởng của nước làm tràn ngậptoàn diện, “mọi loài trên mặt đất đều bị hủy diệt” (Sáng-thế Ký 7:23) và “dâng lên trên mặt đất trọn một trăm năm mươi ngày” (Sáng-thế Ký 7:24). Tương phản với tình trạng bị hủy diệt hoàn toàn và sự tuyệt vọng này thì “Đức Chúa Trời nhớ lại” (Sáng-thế Ký 8:1). Cụm từ này nằm ở trọng tâm của các đoạn Kinh Thánh đề cập đến nước lụt, một dấu hiệu cho thấy ý tưởng này là sứ điệp chính của câu chuyện nước lụt.
Đọc Sáng-thếký 8:1. Điều đó có nghĩa là gì khi Đức Chúa Trời “nhớ lại” Nô-ê?
Động từ “zakhar”, “nhớ lại” nghĩa là Đức Chúa Trời đã không quên; nó không chỉ là một thực hành của trí tuệ. Theo bối cảnh Kinh Thánh, “Đức Chúa Trời nhớ lại” nghĩa là sự ứng nghiệm lời hứa Ngàivà thường ám chỉ sự cứu rỗi (Sáng-thế Ký 19:29). Trong bối cảnh của nước lụt, “Đức Chúa Trời nhớ lại” nghĩa là nước “không sa xuống nữa” (Sáng-thế Ký 8:2) và Nô-ê sẽ ra khỏi tàu sớm (Sáng-thế Ký 8:16).
Mặc dù không có mệnh lệnh trực tiếp nào được nêu lên là ra khỏi tàu, nhưng Nô-ê đã chủ động và cho một con quạ, sau đó là một con chim bồ câu, để kiểm tra tình hình. Cuối cùng, khi chim bồ câu không quay trở lại, ông hiểu rằng “nước đã giựt bày mặt đất khô”; và Nô-ê bèn giở mui tàu mà nhìn” (Sáng-thế Ký 8:13).
Thái độ của Nô-ê là những bài học thực tế phong phú. Một mặt, nó dạy chúng ta tin cậy Đức Chúa Trời mặc dù Ngài chưa trực tiếp phán dạy; mặt khác, đức tin không phủ nhận giá trị của tư duy và thử nghiệm. Đức tin không loại trừ bổn phận phải suy nghĩ, tìm kiếm và xem những gì chúng ta đã học có đúng hay không.
Tuy nhiên, cuối cùng Nô-ê chỉ ra khỏi tàu khi Đức Chúa Trời phán cùng ông (Sáng-thế Ký 8:15–19). Nghĩa là, thậm chí khi biết rằng đã an toàn để ra khỏi tàu, Nô-ê vẫn trông cậy vào Chúa và chờ tín hiệu của Chúa trước khi ra khỏi tàu. Ông kiên nhẫn chờ đợi trong tàu. “Khi bước vào theo lệnh của Đức Chúa Trời, ông đã đợi những chỉ dẫn đặc biệt để khởi hành…Cuối cùng, một thiên sứ từtrời giáng xuống, mở cánh cửa lớn, và ra hiệu cho tộc trưởng và gia đình của ông xuống đất và mang theo mọi sinh vật.”- Ellen G. White, Tộc Trưởng và Tiên Tri, trang 105.
Đọc Sáng-thế Ký 8:1; 19:29 và Thi Thiên 106:4. Cụm từ “Đức Chúa Trời nhớ lại” có nghĩa là gì? Lẽ thật này có ý nghĩa gì đối với chúng tangày nay?
Thứ Tư Hòm Giao Ước: Phần Một
Lúc này là thời điểm lời hứa về giao ước được ứng nghiệm. “Nhưng ta sẽ lập giao ước cùng ngươi, rồi ngươi và vợ, các con và các dâu của ngươi, đều hãy vào tàu (Sáng-thế Ký 6:18). Trái ngược với sự phán xét về sự hủy diệt của Đức Chúa Trời (Sáng-thế Ký 6:17), giao ước này là lời hứa về sự sống.
Đọc Sáng-thế ký 8:20. Trước hết Nô-ê đã làm gì khi ra khỏi tàu và tại sao?
Giống như A-đam và Ê-va, chắc chắn họ đã thờ phượng Đức Chúa Trời vào ngày Sa-bát ngay sau sáu ngày Tạo Thế, Nô-ê thờ phượng Đức Chúa Trời ngay sau nước lụt, một sự sáng tạo khác và tính chất của cả hai sựkiện là giống nhau. Tuy nhiên, có một sự khác biệt giữa hai hành động thờ phượng. Không giống như A-đam và Ê-va, họ trực tiếp thờ phượng Chúa, Nô-ê phải dùng đến của lễ. Đây là điều đầu tiên được đề cập trong Kinh Thánh về bàn thờ. Của lễ tức là “của lễ thiêu” (olah), là của lễ xưa nhất và đều đặn nhất. Đối với Nô-ê, của lễ này là của lễ tạ ơn (so sánh với Dân-số Ký 15:1–11), được dâng lên để bày tỏ lòng biết ơn của ông đối với Đấng Tạo Hóa, Đấng đã cứu chuộc ông.
Đọc Sáng-thế Ký 9:2–4. Nước lụt đã ảnh hưởng đến chế độ ăn uống của con người như thế nào? Đằng sau nguyên tắc về những giới hạn của Đức Chúa Trời là gì?
Do ảnh hưởng của nước lụt, thức ăn từ cây trồng không còn có sẵn để dùng như trước nữa. Vì vậy, Chúa cho phép con người ăn thịt động vật. Sự thay đổi chế độ ăn uống này đã tạo ra một sự thay đổi trong mối quan hệ giữa con người và động vật, trái ngược với những gì đã có giữa chúng trong quá trình Sáng Tạo ban đầu. Trong lần Sáng tạo nguyên thủy, con người và động vật chia sẻ cùng một chế độ ăn thực vật và không đe dọa lẫn nhau. Trong thế giới sau nước lụt, việc giết động vật để làm thức ăn kéo theo mối quan hệ sợ hãi và kinh khiếp (Sáng-thế Ký 9:2). Khi bắt đầu ăn thịt lẫn nhau, con người và động vật chắc chắn đã phát triển một mối quan hệ hoàn toàn khác với những gì họ đã từng tận hưởng ở vườn Ê-đen.
Tuy nhiên, sự khoan dung của Đức Chúa Trời có hai sự giới hạn. Đầu tiên, không phải tất cả các loài động vật đều thích hợp để làm thức ăn. Giới hạn đầu tiên trong việc phân biệt động vật “thanh sạch và không thanh sạch”, là một phần của trật tự Tạo Thế (xem Sáng-thế Ký 8:19,20; so sánh với Sáng-thế Ký 1:21,24). Điều thứ hai, rõ ràng và mới mẻ, là kiêng ăn huyết, vì huyết là sự sống (Sáng-thế Ký 9:4).
Thứ Năm Hòm Giao Ước: Phần Hai
Đọc Sáng-thế Ký 8:21; 9:1. Lời cam kết của Đức Chúa Trời đối với việc bảo tồn sự sống có ý nghĩa gì? Làm thế nào để ơn phước của Đức Chúa Trời giúp thực hiện lời cam kết đó?
Lời cam kết của Đức Chúa Trời để bảo tồn sự sống là một hành động của ân điển; nó không phải là thành quả do công sức của con người. Đức Chúa Trời quyết định bảo tồn sự sống trên đất bất chấp sự xấu xa của con người (Sáng-thế Ký 8:21). Sáng-thế Ký 8:22 chép rằng, “ngày và đêm”, nghĩa là chừng nào đất còn, thì các mùa sẽ đến và đi và sự sống sẽ được duy trì. Tóm lại, Đức Chúa Trời đã không từ bỏcông trình sáng tạo của Ngài.
Thật ra, đoạn Kinh Thánh tiếp theo sau nói về sự ban phước của Đức Chúa Trời, đưa chúng ta trở lại sự Sáng tạo ban đầu, với sự ban phước đầy dẫy trên mọi vật (Sáng thế Ký 1:22,28; 2:3). Theo một nghĩa nào đó, Chúa đã cho loài người một cơ hội để bắt đầu trở lại.
Đọc Sáng-thế Ký 9:8–17. Cầu vồng có ý nghĩa gì? “Dấu chỉ sự giao ước” này (Sáng thế ký 9:13) liên quan như thế nào với dấu chỉ khác của giao ước là ngày Sa-bát?
Cụm từ “lập… giao ước”được lặp lại ba lần (Sáng-thế Ký 9:9,11,17), đánh dấu đỉnh điểm và sựứng nghiệm lời hứa ban đầu của Đức Chúa Trời (Sáng-thế Ký 6:18). Tiếp theo phần trước, tương ứng với ngày thứ Sáu của tuần lễTạo Thế, phần này tương ứng với phần bao gồm ngày thứ Bảy, ngày Sa-bát của tuần lễtạothế. Trong nội dung của câu Kinh Thánh, sự lặp lại bảy lần của từ “giao ước” tạo nênsự cộng hưởng của ngày Sa-bát. Giống như ngày Sa-bát, cầu vồng trên trời là dấu chỉgiao ước (Sáng-thế Ký 9:13,14,16; so sánh với Xuất Ê-díp-tô Ký 31:12–17). Ngoài ra, giống như ngày Sa-bát, cầu vồngcó một phạm vi phổ quát; nó áp dụng cho toàn thế gian. Cũng như ngày Sa-bát, nó là dấu chỉ của sự Sáng Tạo, dành cho tất cả mọi người, ở mọi nơi, lời hứa rằng sẽ không còn nước lụt nào xảy đến cho loài người ở mọi nơi.
Lần tới khi bạn nhìn thấy cầu vồng, hãy nghĩ về tất cả những lời Chúa hứa với chúng ta. Tại sao chúng ta có thể tin tưởng những lời hứa đó, và làm thế nào cầu vồng cho chúng ta thấy rằng chúng ta có thể tin tưởng nó?
Thứ Sáu Nghiên Cứu Bổ Túc
NGHIÊN CỨU BỔ TÚC
So sánh giữa tâm trạng và thái độ của con người và tình trạng của thế gian trước nước lụt với con người trong thời đại chúng ta là có sự dạy dỗ đặc biệt. Nhìn vào sự tương đồng giữa thời của các tộc trưởng và của chúng ta.Chắc chắn, sự gian ác của con người không phải là một hiện tượng mới.
“Những tội lỗi nhắc đến sự phán xét đối với thế gian trước thời kỳ nước lụt vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Sự kính sợ Đức Chúa Trời không chiếm ngự trong lòng người, và luật pháp Chúa bị xem thường. Sức lôi cuốn của thế gianở thế hệ đó ngang bằng với thế hệngày nay…Đức Chúa Trời không lên án những người sống trước thời kỳ nước lụt về việc ăn uống…Tội lỗi của họ bao gồm việc đón nhận những ơn phước mà không biết ơn Đấng ban cho và khiến chính họ suy yếu bởi sự ham mê ăn uống mà không kiềm chế. Họ kết hôn là đúng luật. Hôn nhân theo ý tưởng của Đức Chúa Trời; nó là một trong những trật tự đầu tiên mà Ngài thiết lập. Ngài đưa ra những chỉ dẫn đặc biệt liên quan đến luật lệ này, mặc cho nó thánh thiện và đẹp đẽ; nhưng những luật lệ này đã bị lãng quên, hôn nhân đã bị biến chất và trở thành tồi tệ. Một tình trạng tương tự của mọi thứ hiện đang tồn tại. Con người đã vượt qua ranh giới của luật pháp Chúa…Lừa dối, hối lộ, trộm cắp và giết người rình rập ở mọi nơi… Tình trạng hỗn loạn đang tràn ngập khắp các nước và những sự bạo loạn thỉnh thoảng lại kích động sự kinh hoàng của thế giới chỉ là dấu hiệu cho thấy sự dồn nén mạnh mẽ của phẩn nộ và tình trạng bất hợp pháp, một khi không được kiểm soát sẽ khiến cho sự khốn khổ và phiền muộn đầy trên đất. Bởi sự soi dẫn mà bức tranh về thế giới trong thời kỳ trước nước lụtmiêu tả những tình trạng quá đúng khiến xã hội hiện đại trở nên hối hả. Ngay cả hiện nay, trong thế kỷ này, vẫn có những tội ác xấu xa và khủng khiếp như những tội ác của những tội nhân đã bị phán xét trong thế giới xưa và đang hiện diện ở những nơi được thừa nhận là Cơ-đốc giáo”- Ellen G. White, Tộc Trưởng và Tiên Tri, trang 101, 102.
Câu hỏi thảo luận:
1. Những đặc điểm chung của xã hội trước thời kỳ nước lụt và xã hội của chúng ta là gì? Những đặc điểm chung này dạy chúng ta điều gì về ân điển của Đức Chúa Trời, bất chấp tất cả những điều tội lỗi, Ngài vẫn yêu thế gian và vẫn đang tìm cách cứu vớt loài người?
2. Một số người cho rằng nước lụt trong thời của Nô-ê chỉ là một sự kiện tại một nơi cụ thể. Ý kiến đó có gì sai? Nếu điều này là đúng, tại sao mỗi trận lụt ở địa phương (và cầu vồng) lại khiến Chúa trở thành người nói dối?