Bài Học 2 · 2 – 8 Tháng 4

Sự sa ngã

Kinh Thánh Nghiên Cứu: Sáng-thế Ký 3; 2 Cô-rinh-tô 11:3; Khải Huyền 12:7-9; Giăng 8:44; Rô-ma 16:20; Hê-bơ-rơ 2:14; 1 Ti-mô-thê 2:14,15

"Ta sẽ làm cho mầy cùng người nữ, dòng dõi mầy cùng dòng dõi người nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mầy, còn mầy sẽ cắn gót chân người" — Sáng-thế Ký 3:15
Sa-bát Sự Sa Ngã

Câu gốc

“Ta sẽ làm cho mầy cùng người nữ, dòng dõi mầy cùng dòng dõi người nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mầy, còn mầy sẽ cắn gót chân người” (Sáng-thế Ký 3:15).

Kinh Thánh nghiên cứu

Sáng-thế Ký 3; 2 Cô-rinh-tô 11:3; Khải Huyền 12:7-9; Giăng 8:44; Rô-ma 16:20; Hê-bơ-rơ 2:14; 1 Ti-mô-thê 2:14,15.

Giữa tất cả những gì Đức Chúa Trời đã ban cho cha mẹ đầu tiên của chúng ta trong vườn Ê-đen cũng là một lời cảnh báo: “Ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn; nhưng về cây biết điều thiện và điều ác thì chớ hề ăn đến; vì một mai ngươi ăn chắc sẽ chết”(Sáng-thế Ký 2:16,17). Lời cảnh báo chống lại việc ăn trái của cây biết điều thiện và điều ác này cho chúng ta thấy rằng cho dù họ biết điều thiện, nhưng họ không biết điều ác.

Chắc chắn chúng ta có thể hiểu tại sao, phải không?

Hơn thế nữa, mối đe dọa về sự chết kèm theo lời cảnh báo về sự không vâng lời (Sáng-thế Ký 2:17) sẽ ứng nghiệm: họ sẽ chết (Sáng-thế Ký 3:19). Không chỉ bị cấm ăn trái cây, họ còn bị đuổi khỏi vườn Ê-đen (Sáng-thế Ký 3:24), do đó, giống như tội nhân,họ không được tiếp cận những gì có thể mang lại cho họ sự sống đời đời (Sáng-thế Ký 3:22).

Tuy nhiên, ở giữa bi kịch này là niềm hy vọng được tìm thấy trong Sáng-thế Ký 3:15, được gọi là “protoevangelium”, hay còn gọi là “lời hứa phúc âm đầu tiên”. Đúng vậy, câu này trình bày lời hứa phúc âm đầu tiên được tìm thấy trong Kinh Thánh, bất chấp sự sa ngã, lần đầu tiên loài người được biết rằng, Đức Chúa Trời đã mở một lối thoát cho tất cả chúng ta.

Thứ Nhất Con Rắn

Đọc Sáng-thế Ký 3:1; 2 Cô-rinh-tô 11:3; và Khải Huyền 12:7–9. Con rắn là ai và nó đã lừa dối Ê-va như thế nào?

Câu Kinh Thánh bắt đầu bằng “con rắn” Cú pháp của cụm từ gợi ý nhấn mạnh: từ “con rắn” là từ đầu tiên của câu. Ngoài ra, “con rắn” có một mạo từ xác định, chỉ ra rằng đây là một nhân vật nổi tiếng như thể người đọc nên biết nó là ai. Vì thế, sự thậtvề tạo vật này được khẳng định ở từ đầu tiên của đoạn Kinh Thánh.

Tất nhiên, Kinh Thánh xác định con rắn là kẻ thù của Đức Chúa Trời (Ê-sai 27:1) và rõ ràng gọi nó là “ma quỉ và Sa-tan” (Khải Huyền 12:9). Tương tự như vậy, ở vùng Cận Đông cổ đại, con rắn được nhân cách hóa cho quyền lực của điều ác.

“Để hoàn thành công việc của hắn mà không ai nhận ra, Sa-tan đã chọn sử dụng con rắn như là trung gian giao tiếp của hắn — một cách ngụy trang rất thích hợp cho mục đích lừa dối của Sa-tan. Rắn khi đó là một trong những tạo vật khôn ngoan và đẹp nhất trên đất. Nó có cánh, và khi bay trong không trung, nó có vẻ ngoài sáng chói, có màu sắc và ánh sáng rực rỡ của vàng đã được đánh bóng”- Ellen G. White, Tộc trưởng và Tiên Tri, trang 53.

Khi nói về ma quỷ, dù Sa-tanhiện ra dưới hình thể nào, Kinh Thánh không chỉ nói vềẩn dụ. Trong Kinh Thánh, Sa-tan được mô tả như một tạo vật theo nghĩa đen chứ không chỉ là một biểu tượng cường điệu hay một nguyên lý trừu tượng nào đó để mô tả điều ác hoặc khía cạnh xấu xa của loài người.

Con rắn không tự cho mình là kẻ thù của Đức Chúa Trời. Ngược lại, con rắn ám chỉ lời của Đức Chúa Trời, được nó lặp lại và ủng hộ. Có nghĩa là, ngay từ đầu, chúng ta có thể thấy rằng Sa-tan thích trích dẫn Lời Đức Chúa Trời và sau này sẽ thấy, thậm chí dùng chính Lời Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 4:6).

Cũng lưu ý rằng con rắn không tranh luận ngay lập tức với người nữ, nhưng nó hỏi một câu hỏi ám ý rằng nó tin vào những gì Chúa đã phán với họ. Sau cùng, nó hỏi: “Đức Chúa Trời há có phán dặn…?” (Sáng-thế Ký 3:1). Vậy nên, ngay từ đầu, chúng ta có thể thấy nó gian xảo và lừa dối đến mức nào. Như chúng ta sẽ thấy, nó cũng lừa dối chúng ta.

Nếu Sa-tan có thể lừa dối được một Ê-va vô tội trong vườn Ê-đen, thì chúng ta còn dễ bị tấn công hơn biết chừng nào? Cách bảo vệ tốt nhất của chúng ta trước sự lừa dối của hắn là gì?

Thứ Hai Trái Cấm

Đọc Sáng-thế Ký 2:16, 17 và Sáng-thế Ký 3:1-6 (xem thêm Giăng 8:44). So sánh lời phán dạy của Chúa đến A-đam và lời nói của con rắn đến Ê-va. Sự khác nhau giữa hai lời nói này là gì và có sự khác biệt gì về ý nghĩa của chúng?

Lưu ý những điểm tương đồng giữa cuộc trò chuyện của Đức Chúa Trời với A-đam (Sáng-thế Ký 2:16,17) và cuộc trò chuyện của Ê-va với con rắn. Như thể con rắn lúc này đã thay thế Đức Chúa Trời và còn biết rõ hơn Ngài. Lúc đầu, nó chỉ hỏi một câu, ám chỉ rằng người nữ có lẽ đã hiểu lầm Chúa. Nhưng sau đó Sa-tan công khai chất vấn ý định của Đức Chúa Trời và thậm chí còn mâu thuẫn với Ngài.

Cuộc tấn công của Sa-tan liên quan đến hai vấn đề, sự chết và sự hiểu biết về điều thiện và điều ác. Trong khi Đức Chúa Trời phán dạy rõ rằng họ chắc sẽ chết (Sáng-thế Ký 2:17), thì ngược lại, Sa-tan nói rằng họ chẳng chết, tất cả chỉ ngụ ý rằng con người là bất tử (Sáng-thế Ký 3:4). Trong khi Đức Chúa Trời cấm A-đam ăn trái của cây biết điều thiện và điều ác (Sáng-thế Ký 2:17), thì Sa-tan khuyến khích họ ăn nó vì khi ăn trái đó, họ sẽ giống như Đức Chúa Trời (Sáng-thế Ký 3:5).

Hai lý lẽ của Sa-tan, sự bất tử và giống như Đức Chúa Trời, đã thuyết phục Ê-va ăn trái cấm. Điều đáng lo ngại là ngay sau khi người nữ quyết định không vâng lời Chúa và ăn trái cấm, bà đã cư xử như thể Chúa không còn hiện diện và được thay thế bằng chính mình. Kinh Thánh ám chỉ đến sự thay đổi tính cách này. Ê-va sử dụng ngôn ngữ của Đức Chúa Trời: Đánh giá của Ê-va về trái cấm, “đã thấy… là tốt ”(Sáng-thế Ký 3:6), nhắc nhở về sự đánh giá của Đức Chúa Trời về sự sáng tạo của Ngài,“đã thấy… rằng điều đó là tốt lành”(Sáng-thế Ký 1:4).

Hai cám dỗ vềsự bất tử và giống như Chúa, là gốc rễ của ý tưởng về sự bất tử trong các tôn giáo của người Ê-díp-tô và người Gờ-réc thời xưa. Mong muốn trường sinh bất tử, mà họ tin là một thuộc tính thiên liêng, buộc những người này cũng phải cố gắng đạt tớitrạng thái thiêng liêng, để (họ hy vọng) có được sự bất tử. Thật là một sự lừa dối, tư tưởng này đã thâm nhập vào các nền văn hóa Cơ-đốc Do Thái giáo và đã sản sinh ra niềm tin về linh hồn bất tử, tồn tại đến tận ngày nay trong nhiều Hội Thánh.

Hãy nghĩ về tất cả những niềm tin sai lạc đó ngày nay dạy rằng có những điều vốn bất tử trong tất cả chúng ta. Làm thế nào sự hiểu biết của chúng ta về bản chất con người và tình trạng của người chết giúp chúng ta bảo vệ mạnh mẽ sự lừa dối nguy hiểm này?

Thứ Ba Tránh Mặt Đức Chúa Trời

Đọc Sáng-thế Ký 3:7-13. Tại sao A-đam và Ê-va cảm thấy cần phải tránh mặt Đức Chúa Trời? Tại sao Chúahỏi họ“Ngươi ở đâu?” A-đam và Ê-va đã tìm cách biện minh cho hành vi của mình như thế nào?

Sau khi phạm tội, A-đam và Ê-va cảm thấy lõa lồ vì họ mất đi y phục được mặc bởi sự vinh hiển mà nó phản chiếu sự hiện diện của Đức Chúa Trời (xem Thi Thiên 8:5, so sánh với Thi Thiên 104:1,2). Hình ảnh của Đức Chúa Trời đã bị ảnh hưởng bởi tội lỗi. Động từ “đóng” trong cụm từ họ “đóng khố che thân” (Sáng-thế Ký 3:7) cho đến nay chỉ được áp dụng cho Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa (Sáng-thế Ký 1:7,16,25 và nhiều đoạn Kinh Thánh khác). Giống như thể họ thay thế Đấng Tạo Hóa khi họ cố gắng che đậy tội lỗi của mình, một hành động mà Phao-lô cáo buộc là công bình bởi việc làm (Ga-la-ti 2:16).

Khi Đức Chúa Trời đến gần, Ngài hỏi họ câu hỏi mang tính cường điệu “Ngươi ở đâu?” (Sáng-thế Ký 3:9), với cùng loại câu hỏi mà Chúa sẽ hỏi Ca-in (Sáng-thế Ký 4:9). Tất nhiên, Chúa biết câu trả lời cho câu hỏi. Những câu hỏi của Ngài được đặt ra vì lợi ích của những người có tội, để giúp họ nhận ra những gì họ đã làm và chưa làm được, đồng thời khiến họ ăn năn và nhận được sự cứu rỗi. Kể từ thời điểm con người phạm tội, Chúa đang thực hiện công việc cho sự cứu chuộc của họ.

Thật ra, toàn bộ viễn cảnh phản ánh ý tưởng về cuộc điều tra phán xét đã bắt đầu bằng sự phán xét tội nhân (Sáng-thế Ký 3:9) để chuẩn bị cho sự phán xét (Sáng-thế Ký 3:14–19). Nhưng Ngài làm điều đó cũng để thúc giục sự ăn năn, và cuối cùng sẽ dẫn đến sự cứu rỗi (Sáng-thế Ký 3:15). Đây là một chủ đề được thấy xuyên suốt Kinh Thánh.

Lúc đầu, giống như những tội nhân, cả A-đam và Ê-va đều cố gắng lảng tránh trách nhiệm, tìm cách đổ lỗi cho người khác. Trước câu hỏi của Đức Chúa Trời, A-đam trả lời rằng đó là do người nữ mà Chúa đã ban cho ông (Sáng-thế Ký 3:12) - chính người nữ đó đã khiến ông làm điều tội lỗi. Đó là lỗi của người nữ (và ám chỉ rằng đó cũng là lỗi của Chúa), không phải của ông.

Ê-va trả lời rằng chính con rắn đã dỗ dành bà. Trong tiếng Hê-bơ-rơ, động từ“nasha”là “dỗ dành” (trong Sáng-thế Ký 3:13), có nghĩa là mang đến cho người ta những hy vọng hão huyền và khiến họ tin rằng họ đang làm điều đúng đắn (2 Các Vua 19:10, Ê-sai 37:10, Giê-rê-mi 49:16).

A-đam đổ lỗi cho người nữ, nói rằng chính bà đã khiến ông ăn trái cấm, và Ê-va lại đổ lỗi cho con rắn, nói rằng nó đã dỗ dành bà. Nhưng cuối cùng, cả hai đều có tội.

Con người thường cố gắng đổ lỗi cho người khác về những gì họ đã làm. Tại sao chúng ta lại dễ dàng rơi vào cạm bẫy như vậy?

Thứ Tư Số Phận Của Con Rắn

“Ta sẽ làm cho mầy cùng người nữ, dòng dõi mầy cùng dòng dõi người nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mầy, còn mầy sẽ cắn gót chân người” (Sáng-thế Ký 3:15). Chúa đã nói gì với con rắn và hy vọng nào được nói đến trong câu Kinh Thánh này?

Đức Chúa Trời bắt đầu cuộc phán xét của Ngài với con rắn bởi vì nó khởi xướng toàn bộ màn kịch. Con rắn cũng là tạo vật duy nhất bị nguyền rủa trong câu chuyện này.

Chúng ta thấy tính chất “đảo ngược” của sự Sáng Tạo. Trong khi sự Sáng Tạo dẫn đến sự sống, giá trị của sự tốt lành và ơn phước, thì sự phán xét dẫn đến sự chết, điều ác và nguyền rủa — nhưng cũng dẫn đến hy vọng và lời hứa về sự cứu rỗi. Gắn liền với hình ảnh u ám về con rắn phải ăn bụi đất (Sáng-thế Ký 3:14) lời tiên tri này thắp sáng hy vọng cho sự cứu rỗi của nhân loại. Ngay cả trước khi kết tội A-đam và Ê-va, Chúa vẫn ban cho loài người niềm hy vọng được cứu chuộc (Sáng-thế Ký 3:15). Vâng, họ đã phạm tội, họ sẽ đau khổ vì tội lỗi của họ và họ cũng sẽ chết vì tội lỗi. Nhưng bất chấp tất cả, đó là hy vọng cuối cùngcho sự cứu rỗi.

So sánh Sáng-thế Ký 3:15 với Rô-ma 16:20, Hê-bơ-rơ 2:14 và Khải Huyền 12:17. Kế hoạch cứu rỗi, cũng như cuộc chiến khốc liệtđược tiết lộ qua những câu Kinh Thánh này như thế nào?

Hãy lưu ý những điểm tương đồng giữa Sáng-thế Ký 3:15 và Khải Huyền 12:17: con rồng (con rắn), phẫn nộ (thù hận); dòng dõi (con cháu); và người nữ trong vườn Ê-đen và người nữ trong Khải Huyền 12:17. Cuộc chiến Thiện ác đấu tranh kéo dài đến vườn Ê-đen, với sự sa ngã, sẽ tiếp tục cho đến thời kì cuối cùng. Tuy nhiên, sự thất bại của Sa-tan đã được nêu ra trong vườn Ê-đen, đầu của nó sẽ bị giày đạp, được tiết lộ rõ ràng hơn trong Khải Huyền, mô tả sự chết cuối cùng của nó (Khải Huyền 20:10). Có nghĩa là ngay từ đầu, loài người đã được ban cho niềm hy vọng, sẽ có một lối thoát giúp họ khỏi mớ hỗn độn đầy khiếp sợ khi họ biết điều ác, một sự hy vọng mà tất cả chúng ta có thể chia sẻ ngay bây giờ.

Tại sao thật là an ủi khi hiểu rằngtội lỗi và điều ác bắt đầu trong vườn Ê-đen thìĐức Chúa Trời đãbày tỏ kế hoạchcứu rỗi cho con người?

Thứ Năm Định Mệnh Của Con Người

Đọc Sáng-thế Ký 3:15-24. Điều gì đã xảy cho A-đam và Ê-va sau khi họ sa ngã?

Khi sự phán xét của Chúa về con rắn được xác định rõ ràng như một lời rủa sả (Sáng-thế Ký 3:14), sự phán xét của Chúadành người nữ và người nam thì không. Lần duy nhất khi từ “rủa sả” lại được sử dụng nó chỉ áp dụng cho “miếng ăn từ đất sinh ra” (Sáng-thế Ký 3:17). Đức Chúa Trời đã có kế hoạch khác cho người nam và người nữ, trái ngược với con rắn. Họ đã được ban cho hy vọng mà chính con rắn không nhận được.

Bởi vì tội lỗi của người nữ là do sự liên kết của Ê-va với con rắn, câu Kinh Thánh mô tả sự phán xét của người nữ có liên quan đến sự phán xét của con rắn. Sáng-thế Ký 3:16 không chỉ tức thì theo sauSáng-thế ký 3:15, nhưng sự tương đồng giữa hai lời tiên tri cho thấy rõ rằng lời tiên tri liên quan đến người nữ trong Sáng thế ký 3:16 phải liên quan đến lời tiên tri về Đấng Mê-si trong Sáng-thế ký 3:15. Vậy nên, sự phán xét của Chúa dành cho người nữ bao gồm cả sinh con, nên được hiểu theo quan điểm tích cực của sự cứu rỗi (so sánh với 1 Ti-mô-thê 2:14,15).

Bởi vì tội lỗi của người nam là do A-đam nghe theo người nữ thay vì nghe theo lời của Chúa, đất bị rủa sả vì người nam (Sáng-thế Ký 3:17). Kết quả là người nam phải chịu khó nhọc (Sáng-thế Ký 3:17-19) và sau đó sẽ trở về với đất, nơi người được tạo ra (Sáng-thế Ký 3:19), điều này đáng lẽ không bao giờ xảy ra và nó không bao giờ là một phần trong kế hoạch ban đầu của Đức Chúa Trời.

Điều quan trọng để tránh khỏi sự thất vọng về sự chết của A-đam là với người nữ, nơi mà ông nhìn thấy sự sốnghy vọng qua việc sinh con (Sáng-thế Ký 3:20). Mặc dù bị kết án tử, ông vẫn thấy được sự sống hy vọng.

Cũng giống như tình thương của cha mẹ, Đức Chúa Trời luôn muốn điều tốt lành cho họ, chứ không phải điều ác. Nhưng bây giờ họ biết xấu xa, Chúa sẽ làm tất cả những gì có thể để cứu họ. Dù bị phán xét, tất cả hy vọng vẫncòn đối với tổ phụchúng ta, mặc dù phạm tội và không vâng lời Chúa, họ thật sự sống trong thiên đàng, họ hoàn toàn không có lý do gì để nghi ngờChúa, nghi ngờlời của Ngài hoặc nghi ngờ tình yêu của Ngài danh cho họ.

Mặc dù chúng ta có xu hướng nghĩ đến “sự hiểu biết” là điều tốt, nhưng tại sao điều đó không phải lúc nào cũng tốt? Một số điều mà chúng ta không nên hiểu biết là gì?

Thứ Sáu Nghiên Cứu Bổ Túc

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC

Hãy xem xét sự kết nối giữa “cây sự sống” và “cây biết điều thiện và điều ác”. Mối tương quan này thật ra là cả hai đều nằm ở “giữa vườn” (Sáng-thế Ký 2:9). Nhưng có nhiều sự liên kết hơn giữa hai cây ngoài mối tương quan địa lý. Bởi vì con người đã hái trái từ cây biết điều thiện và điều ác, vì họ không vâng lời Chúa nên họ không thể tiếp cận cây sự sống, và không thể có được sự sống đời đời, tối thiểu là trong hoàn cảnh này. Mối liên kết này làm nền tảng cho một nguyên tắc căn bản. Sự lựa chọn về đạo đức và tâm linh có tác động đến đời sống sinh học, khi Sa-lô-môn hướng dẫn con trai mình: “Chớ quên sự khuyên dạy ta, Lòng con khá giữ các mạng lịnh ta; Vì nó sẽ thêm cho con lâu ngày, số năm mạng sống, và sự bình an” (Châm-ngôn 3:1,2). Mối kết nối này sẽ hiện trở lại trong tương lai nơi Giê-ru-sa-lem trên trời, nơi chỉ có cây sự sống “ở giữa phố thành” (Khải Huyền 22:2).

“Khi Chúa tạo nên Ê-va, Ngài đã có ý định rằng người nữ không nên tự ti hoặc vượt trội so với người nam, nhưng là mối quan hệ bình đẳng. Cặp vợ chồng thánh sạch không có quyền lợi độc lập lẫn nhau; Nhưng mỗi người đều có quyền lợi cá nhân trong suy nghĩ và hành động. Nhưng sau khi Ê-va phạm tội, Chúa phán với bà rằng A-đam sẽ cai trị bà. Ê-va sẽ phải phục tùng chồng mình, và đây là một phần của lời rủa sả. Trong nhiều trường hợp, lời rủa sả này đã khiến rất nhiều người nữ đau buồn và cuộc sống của họ là một gánh nặng. Tính ưu việt mà Chúa đã ban cho người nam đã khiến người nam lạm dụng ở nhiều khía cạnh bằng cách thực hiện quyền lợi tùy tiện.” – trích Ellen G. White, Cáclời Chứng Cho Hội Thánh, tập 3, trang 484.

Câu hỏi thảo luận:

1. Đức Chúa Trời đối mặt với A-đam ở vườn Ê-đen và hỏi ông câu hỏi không chỉ để nhắc lại cảm giác tội lỗi mà còn hướng ông tới sự ăn năn. Điều này cũng lập lại với Ca-in (Sáng-thế Ký 4:9,10), nước lụt (Sáng-thế Ký 6:5-8), Tháp Ba-bên (Sáng-thế Ký 11:5)Sô-đôm và Gô-mô-rơ (Sáng-thế Ký 18:21). Ý tưởng về sự điều tra phán xét được bày tỏ qua những sự việc này như thế nào?

2. Tại sao Ê-va nghĩ rằng ăn trái của cây biết điều thiện và điều ác sẽ khiến bà khôn ngoan? Đặt mình vào hoàn cảnh như vậy, làm thế nào chúng ta có thể tránh mắc phải sai lầm tương tự?