Sự sáng tạo
Kinh Thánh Nghiên Cứu: Thi Thiên 100:1-3, Sáng-thế Ký 1-2, Xuất Ê-díp-tô Ký 20:8-11, Xuất Ê-díp-tô Ký 40:33, Ma-thi-ơ 25:14-30, Ma-thi-ơ 19:7-9
"Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất" — Sáng-thế Ký 1:1
Sa-bát Sự Sáng Tạo
Câu gốc
“Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất” (Sáng-thế Ký 1:1).
Kinh Thánh nghiên cứu
Thi Thiên 100:1-3, Sáng-thế Ký 1-2, Xuất Ê-díp-tô Ký 20:8-11, Xuất Ê-díp-tô Ký 40:33, Ma-thi-ơ 25:14-30, Ma-thi-ơ 19:7-9.
Sách Sáng-thế Ký, và từ đây, toàn bộ Kinh Thánh bắt đầu với hành động của Đức Chúa Trời cho sự Sáng Tạo. Sự thật này rất quan trọng vì nó có nghĩa là sự Sáng Tạo đánh dấu sự khởi đầu của lịch sử nhân loại và lịch sử Kinh Thánh. Sự thật này cũng ngụ ý rằng câu chuyện Sáng Tạo trong Sáng-thế Ký có cùng đặc tính đáng tin cậy về lịch sử với các sự kiện khác trong lịch sử nhân loại và lịch sử Kinh Thánh.
Hai đoạn Kinh Thánh về sự Sáng Tạo trong Sáng-thế Ký 1 và 2 chứa đựng những bài học về Đức Chúa Trời và nhân loại. Khi học bài học của tuần này, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn ý nghĩa sâu xa của ngày Sa-bát thứ Bảy. Chúng ta sẽ suy gẫm về hành động của Đức Chúa Trời lấy bụi đất tạo nên con người theo ảnh tượng Ngài. Chúng ta sẽ tò mò về mục đích của cây biết điều thiện và điều ác và về mối liên hệ của nó với cây sự sống.
Bài học quan trọng nhất của những câu chuyện Kinh Thánh về buổi đầu sáng thế là ân điển. Sự tồn tại của chúng ta hoàn toàn là một hành động của ân điển. Đức Chúa Trời tạo nên trời và đất trong khi con người chưa hiện diện. Giống như sự sáng thế của chúng ta, sự cứu chuộc của chúng ta cũng là một kế hoạch bởi ân điển từ Đức Chúa Trời. Và thật sâu sắc biết bao khi cả hai khái niệm về sự Sáng Tạo và sự cứu chuộc đều tồn tại trong điều răn của ngày Sa-bát thứ Bảy.
Thứ Nhất Đức Chúa Trời Của Sự Sáng Tạo
Xin đọc Thi Thiên 100:1-3. Sự hưởng ứng của con người đối với Đức Chúa Trời của sự sáng tạo là gì, và tại sao?
Trong Sáng-thế Ký 1, thông điệp đầu tiên của lời ký thuật về sự Sáng Tạo là “Đức Chúa Trời”. Chúng ta đã nghe thấy điều đó trong bản dịch: “Ban đầu Đức Chúa Trời…” (Sáng-thế Ký 1:1). Ngay ở dòng đầu tiên (Sáng-thế Ký 1:1), danh xưng “Đức Chúa Trời” được đặt ở giữa câu và được nhấn mạnh bằng lời lẽ mạnh nhất trong bài Kinh theo nghi lễ truyền thống của người Hê-bơ-rơ nhằm làm nổi bậc tầm quan trọng về Chúa. Sau đó đoạn Kinh Thánh bắt đầu với sự nhấn mạnh vào Đức Chúa Trời – là tác giả của sự Sáng Tạo.
Thật ra, sách Sáng-thế Ký bắt đầu với hai cách trình bày khác nhau về Đức Chúa Trời. Bản ký thuật đầu tiên về sự Sáng Tạo (Sáng-thế Ký 1:1–2:4) bày tỏ rằng Đức Chúa Trời ở rất xa con người, một Đức Chúa Trời siêu việt, là “Elohim”, danh xưng này nói về quyền năng tối thượng của Đức Chúa Trời. Danh xưng “Elohim” biểu thị đặc tính siêu việt và sức mạnh, và khi sử dụng “Elohim” ở dạng số nhiều thể hiện ý tưởng về đặc tính uy nghi và siêu việt.
Bản ký thuật thứ hai về sự Sáng Tạo (Sáng-thế Ký 2:4–25) miêu tả một Đức Chúa Trời gần gũi và riêng tư, chính là Giê-hô-va Đức Chúa Trời, danh xưng mà nhiều người tin rằng biểu thị sự gần gũi và mối quan hệ. Do đó, toàn bộ đoạn Kinh Thánh về sự Sáng Tạo là một lời kêu gọi mạnh mẽ hãy thờ phượng Đức Chúa Trời; trước tiên là nhận thức được sự vĩ đại và quyền năng vô hạn của Đức Chúa Trời, đồng thời thừa nhận sự phụ thuộc của chúng ta vào Ngài vì Ngài đã tạo dựng chúng ta “chúng tôi thuộc về Ngài” (Thi Thiên 100:3). Đây là lý do tại sao nhiều câu trong Thi Thiên thường liên kết sự thờ phượng với sự sáng tạo (Thi Thiên 95:1–6; Thi Thiên 139:13,14 so sánh với Khải Huyền 14:7).
Một Đức Chúa Trời bao gồm hai quan điểm này vừa uy nghi, quyền năng, cũng vừa gần gũi, yêu thương và có mối liên hệ với chúng ta chứa đựng một điều quan trọng về cách chúng ta nên đến gần Đức Chúa Trời bằng sự thờ phượng. Sự tôn kính đi cùng với mừng rỡ và đảm bảovề sự gần gũi, tha thứ và tình yêu thương của Đức Chúa Trời (Thi Thiên 2:11). Ngay cả sự liên tục của hai bản ký thuật về Đức Chúa Trời cũng có ý nghĩa: trải nghiệm về sự gần gũi của Đức Chúa Trời và tình thân mật qua sự hiện diện của Ngài theo sau trải nghiệm về sự cách biệt của Đức Chúa Trời đối với chúng ta. Chỉ khi chúng ta nhận biết rằng Đức Chúa Trời là vĩ đại, chúng ta mới có thể nhận thức cao ân điển của Ngài và tận hưởng sự hiện diện diệu kỳ đầy yêu thương của Ngài trong cuộc sống của chúng ta.
Hãy nghĩ về quyền năng bao la của Đức Chúa Trời, Ngài là Đấng nâng đỡ vũ trụ nhưng vẫn có thể ở rất gần mỗi chúng ta. Tại sao sự thật diệu kỳ này lại tuyệt vời đến vậy?
Thứ Hai Sự Sáng Tạo
Xin đọc Sáng-thế Ký 1:4,10,12,18,21,25,31 và Sáng-thế Ký 2:1-3. Ý nghĩa của sự lặp lại cụm từ “là tốt lành” trong bản ký thuật đầu tiên về sự sáng tạo là gì? Bài học ngụ ý chứa đựng trong phần kết của sự sáng tạo (Sáng-thế Ký 2:1–3) là gì?
Ở mỗi phần của bản ký thuật về sự Sáng Tạo, Đức Chúa Trời đánh giá công việc của Ngài là “tốt lành”.Người ta thường hiểu rằng điều này có nghĩa là công việc sáng tạo của Đức Chúa Trời đã thành công và sự nhận xét của Ngài “là tốt lành”có nghĩa là “nó đã hoạt động”. Ánh sáng đã được soi sáng (Sáng-thế Ký 1:4), cây cối đã kết trái (Sáng-thế Ký 1:12).
Nhưng từ ngữ này ám chỉ nhiều hơn đến hiệu quả của một hoạt động. Từ Hê-bơ-rơ “tov” cũng được dùng trong Kinh Thánh để biểu lộ sự nhận biết giá trị về mặt thẩm mỹ đối với điều gì đó đẹp đẽ (Sáng-thế Ký 24:16). Nó cũng được dùng trong ý nghĩa tương phản với điều ác (Sáng-thế Ký 2:9) có liên quan đến sự chết (Sáng-thế Ký 2:17).
Cụm từ “là tốt lành” nghĩa là sự sáng tạo đang hoạt động diệu kỳ, nó đẹp đẽ và hoàn hảo, không có điều ác nào trong đó. Thế giới ấy “chưa có” giống như thế giới của chúng ta, một thế giới bị ảnh hưởng bởi tội lỗi và sự chết, có một ý tưởng được xác nhận trong phần mở đầu cho câu chuyện Sáng Tạo thứ hai (Sáng-thế Ký 2:5).
Mô tả về sự Sáng Tạo này hoàn toàn trái ngược với thuyết tiến hóa mà lý thuyết này tuyên bố rằng thế giới tự định hình dần dần qua một loạt các diễn biến ngẫu nhiên bắt đầu từ một tình trạng thấp kém cho đến một tình trạng vượt trội hơn. Ngược lại, tác giả Kinh Thánh khẳng định rằng Đức Chúa Trời có chủ ý và đột nhiên tạo nên thế giới (Sáng-thế Ký 1:1).
Không có sự ngẫu nhiên hay may rủi về bất kỳ điều gì. Thế giới không tự hình thành mà chỉ là kết quả của ý muốn và lời phán của Đức Chúa Trời (Sáng-thế Ký 1:3). Động từ bara’, nghĩa là “tạo dựng”, được dịch trong Sáng-thế Ký 1là ban đầu Đức Chúa Trời “dựng nên” trời và đất, chỉ xảy ra vì Đức Chúa Trời là chủ thể và nó bao hàm sự bất ngờ: Đức Chúa Trờiphán thì việc liền có.
Đoạn Kinh Thánh về sự sáng tạo cho chúng ta biết rằng: “mọi thứ” đã được tạo dựng (Sáng-thế Ký 1:31) và y theo chính Đấng Tạo Hóa, tất cả các việc đã làm “rất tốt lành” (Sáng Thế Ký 1:31). Sáng-thế Ký 1:1 cho biết về sự sáng tạo trời và đất và Sáng-thế Ký 2:1 tuyên bố rằng sự kiện ấy đã làm xong. Và tất cả, kể cả ngày Sa-bát, đều được hoàn thành trong bảy ngày.
Tại sao ý tưởng về quá trình tiến hóa trong suốt hàng tỷ năm bác bỏ hoàn toàn câu chuyện sáng tạo trong Sáng-thế Ký? Tại sao hai quan điểm này mâu thuẫn nhau về mọi mặt?
Thứ Ba Ngày Sa-bát
Đọc Sáng-thế Ký 2:2,3 và Xuất Ê-díp-tô Ký 20:8-11. Tại sao ngày thứ Bảy Sa-bát liên quan đến sự Sáng Tạo? Mối liên hệ này ảnh hưởng như thế nào đến cách chúng ta giữ ngày Sa-bát?
Chính xác là vì “Đức Chúa Trời đã làm xong” công việc Sáng Tạo của Ngài mà Ngài đã thiết lập nên ngày Sa-bát. Do đó, ngày thứ Bảy Sa-bát là sự bày tỏ đức tin của chúng ta rằng lúc đó Đức Chúa Trời đã làm xong công việc của Ngài, và Ngài thấy nó “rất tốt lành”. Vâng giữ ngày Sa-bát là kết hợp với Đức Chúa Trời để nhận biết giá trị và vẻ đẹp của tạo vật Ngài.
Chúng ta có thể nghỉ ngơi sau công việc của mình giống như Đức Chúa Trời đã nghỉ ngơi. Vâng giữ ngày Sa-bát nghĩa là nói đồng ý với sự Sáng Tạo “rất tốt lành” của Đức Chúa Trời, bao gồm cả thân thể xác thịt của chúng ta. Trái ngược với một số niềm tin cổ xưa (và hiện đại), không có gì trong Kinh Thánh, Cựu Ước hay Tân Ước phỉ báng cơ thể là xấu xa. Đó là một khái niệm ngoại giáo, không phải trong Kinh Thánh. Thay vào đó, những người vâng giữ ngày Sa-bát biết ơn sự sáng tạo của Đức Chúa Trời — bao gồm cả xác thịt của họ — và đó là lý do tại sao họ có thể tận hưởng sự sáng tạo và giữ gìn điều ấy.
Ngày Sa-bát đánh dấu sự “hoàn thành” đầu tiên của lịch sử nhân loại, cũng là dấu hiệu của hy vọng cho nhân loại đang đau khổ và cho tiếng than thở của thế giới. Điều thú vị là cụm từ “làm xong công việc” xuất hiện lại khi kết thúc việc xây dựng đền tạm (Xuất Ê-díp-tô Ký 40:33), và một lần nữa nó cũng xuất hiện khikết thúc việc xây dựng đền thờ của Sa-lô-môn (I Các Vua 7:40,51) - cả hai đoạn Kinh Thánh đã dạy bài học về phúc âm và sự cứu rỗi.
Sau sự sa ngã, ngày Sa-bát cuối tuần hướng sự chú ý về phép lạ của sự cứu rỗi sẽ chỉ xảy ra nhờ phép lạ của sự Sáng Tạo mới (Ê-sai 65:17, Khải Huyền 21:1). Ngày Sa-bát là một dấu hiệu kết thúc tuần lễ của loài người chúng ta, rằng những đau khổ và thử thách trên thế giới này cũng sẽ kết thúc.
Đây là lý do tại sao Đức Chúa Giê-su chọn ngày Sa-bát là ngày thích hợp nhất để chữa lành người bệnh (Lu-ca 13:13-16). Tương phản với bất kỳ truyền thống nào mà các nhà lãnh đạo đã vấp phải, Đức Chúa Giê-su đã hướng sự chú ý đến con người và cả chúng ta thời điểm mà mọi đau đớn, sự chết sẽ kết thúc, ấy là sự hoàn tất cơ bản cho tiến trình cứu rỗi. Do đó, mỗi ngày Sa-bát hướng chúng ta đến với hy vọng được cứu chuộc.
Làm thế nào khi nghỉ ngơi trong ngày Sa-bát, chúng ta cảm nhận được sự nghỉ ngơi và cứu rỗi mà chúng ta hiện tại đang có trong Đức Chúa Giê-su và điều đó căn bản sẽ được hoàn tất trong việc tạo dựng trời mới và đất mới?
Thứ Tư Dựng Nên Loài Người
Việc dựng nên loài người là hành động sáng tạo cuối cùng của Đức Chúa Trời, ít nhất là trong bản ký thuật của Sáng-thế Ký. Con người là đỉnh cao của toàn bộ sự Sáng Tạo trên đất, là mục đích mà đất được tạo dựng.
Đọc Sáng-thế Ký 1:26–29 và Sáng-thế Ký 2:7. Mối liên hệ giữa hai chỗ Kinh Thánh kể lạisự tạo dựng loài người khác nhau này là gì?
Đức Chúa Trời đã dựng nên con người theo ảnh tượng Ngài là một trong những tuyên bố táo bạo nhất của Kinh Thánh. Chỉ có con người là được tạo dựng theo ảnh tượng Đức Chúa Trời. Mặc dù “Đức Chúa Trời làm nên các loài thú rừng tùy theo loại” (Sáng-thế Ký 1:25), nhưng “Đức Chúa Trời dựng nên loài người như hình Ngài” (Sáng-thế Ký 1:27). Cách thức này thường bị giới hạn bởi bản tính tâm linh của con người, được giải thích “hình Đức Chúa Trời” chỉ là biểu thị chức năng quản trị đại diện cho Đức Chúa Trời, hoặc chức năng tâm linh trong mối quan hệ với Đức Chúa Trời hay với người khác.
Mặc dù những cách hiểu này là đúng, nhưng chúng không bao gồm sự thật tự nhiên quan trọng của sự Sáng Tạo này. Thật vậy, cả hai khía cạnh đều được bao gồm trong hai từ “hình ảnh” và “giống như” mô tả quá trình này trong Sáng-thế Ký 1:26. Trong khi từ ngữ Hê-bơ-rơ“tselem” nghĩa là “hình ảnh” dùng để chỉ hình dạng cụ thể tự nhiên của cơ thể, thì từ “demut”, nghĩa là “giống như” dùng để chỉ những tính chất trừu tượng có thể so sánh với Đấng Thánh.
Do đó, khái niệm của ngôn ngữ Hê-bơ-rơ về “hình Đức Chúa Trời” nên được hiểu theo quan điểm tổng thể của Kinh Thánh về bản tính tự nhiên của con người. Kinh Thánh khẳng định rằng các cá thể con người (người nam và người nữ) đã được dựng nên theo hình Đức Chúa Trời về mặt thể chất cũng như tinh thần. Như Ellen G. White đã nhận xét rõ ràng: “Khi A-đam đến từ bàn tay của Đấng Tạo Hóa, ông mang lấy bản thể tự nhiên, tinh thần và tâm linh giống như Đấng Sáng Tạo” - Giáo Dục, tr. 15.
Thật ra, sự hiểu biết toàn diện này về hình Đức Chúa Trời bao gồm cả thân thể tự nhiên được tái khẳng định trong một bản ký thuật về sự sáng tạo khác nói rằng “người trở nên một loài sanh linh” (Sáng-thế Ký 2:7), theo nghĩa đen là “một linh hồn sống” (“nefesh”), là kết quả của hai quá trình hoạt động thiên thượng của Đức Chúa Trời: “nắn” và “hà sanh khí”. Lưu ý rằng “sanh khí” thường đề cập đến khía cạnh thuộc linh, nhưng nó cũng gắn chặt với khả năng thở sinh học, các bộ phận của con người đã được nắn nên từ bụi đất. Cụm từ “hà sanh khí”; hà tức là hít thở (thuộc linh) sanh khí tức là sự sống (tự nhiên). Sau đó, Đức Chúa Trời sẽ thực hiện hành động thứ ba, lần này là để tạo ra người nữ từ thân thể của người nam (Sáng-thế Ký 2:21,22) như một cách để nhấn mạnh rằng người nữ có cùng bản chất như người nam.
Thứ Năm Trách Nhiệm Của Con Người
Ngay khi Đức Chúa Trời tạo nên người nam đầu tiên, Ngài đã ban cho người ấy ba món quà: vườn Ê-đen (Sáng-thế Ký 2:8), thức ăn (Sáng-thế Ký 2:16) và người nữ (Sáng-thế Ký 2:22).
Đọc Sáng-thế Ký 2:15–17. Trách nhiệm của con người là gì đối với những tạo vật và đối với Đức Chúa Trời? Hai trách nhiệm này có quan hệ với nhau như thế nào?
Trách nhiệm đầu tiên của con người liên quan đến môi trường tự nhiên mà Đức Chúa Trời đã đặt người ấy vào đó “để trồng và giữ vườn” (Sáng-thế Ký 2:15). Động từ “avad”, nghĩa là “trông nom”, đề cập đến công việc. Nhận lấy món quà là chưa đủ, chúng ta phải làm việc và tạo ra thành quả — một bài học mà Đức Chúa Giê-su sẽ lặp lại trong câu chuyện ví dụ về các ta-lâng (Ma-thi-ơ 25:14–30). Động từ “shamar”, nghĩa là “giữ”, ngụ ý trách nhiệm phải giữ gìn những gì chúng ta đã nhận được.
Trách nhiệm thứ hai liên quan đến thức ăn. Chúng ta phải nhớ rằng Đức Chúa Trời đã ban nó cho con người (Sáng-thế Ký 1:29). Đức Chúa Trời cũng phán với A-đam rằng “ngươi được tự do ăn” (Sáng-thế Ký 2:16). Con người không tạo ra cây cối cũng như không tạo ra thức ăn trên những cây ấy. Đó là một món quà, một món quà của ân điển. Nhưng cũng có một điều răn ở đây: họ phải nhận và tận hưởng món quà hào phóng là “các thứ cây trong vườn” của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, như một phần của ân điển, Đức Chúa Trời thêm vào đó một sự giới hạn: loài người không nên ăn trái của một loại cây đặc biệt. Vui hưởng mà không có bất kỳ giới hạn nào sẽ dẫn đến sự chết. Nguyên tắc này đã có ngay trong vườn Ê-đen, và theo nhiều cách, nguyên tắc đó vẫn hiệu lực cho đến ngày nay.
Trách nhiệm thứ ba của người nam liên quan đến người nữ - món quà thứ ba của Đức Chúa Trời: “người nam sẽ lìa cha mẹ mà dính díu cùng vợ mình” (Sáng-thế Ký 2:24). Câu nói đặc biệt này là một cách diễn đạt mạnh mẽ nêu lên trách nhiệm của con người đối với giao ước vợ chồng và mục đích trở thành “một thịt” (so sánh với Ma-thi-ơ 19:7-9).
Lý do mà người nam phải rời khỏi cha mẹ mình có thể liên quan đến việc sử dụng đặc điểm nam tính theo cách chung của Kinh Thánh; do đó, có lẽ điều răn này cũng áp dụng cho người nữ. Dù thế nào đi nữa, mối ràng buộc của hôn nhân cho dù là một món quà từ Đức Chúa Trời nhưng nó đòi hỏi trách nhiệm của con người khi nhận lấy, một trách nhiệm mà cả người nam và người nữ phải làm trọn một cách trung tín.
Hãy nghĩ về tất cả những gì bạn đã được Chúa ban cho. Bạn có trách nhiệm gì với những điều ấy?
Thứ Sáu Nghiên Cứu Bổ Túc
NGHIÊN CỨU BỔ TÚC
Đọc “Khoa Học và Kinh Thánh” trong Giáo Dục - Ellen G. White, trang 128, 129; phần “Sự Sáng Tạo” trích Câu Chuyện Cứu Chuộc, trang 21, 22.
“Từ lúc quyển sách về thiên nhiên và sách được soi dẫn (Kinh Thánh) mang cùng tư tưởngđược cảm động nên chúng không thể không hài hòa với nhau. Bằng nhiều phương pháp khác nhau, và các ngôn ngữ khác nhau, chúng là bằng cớ cho những lẽ thật vĩ đại giống nhau. Khoa học luôn khám phá những điều kỳ diệu mới nhưng Ellen G. White không mang lại gì từ nghiên cứu của mình,hiểu một cách đúng đắn, từ các nghiên cứu khoa học không có điều gì mâu thuẫn với sự khải thị của Đức Chúa Trời. Quyển sách về thiên nhiên và những lời được viết trong Kinh Thánh làm sáng tỏ lẫn nhau. Chúng giúp ta hiểu biết về Đức Chúa Trời bằng cách dạy chúng ta nhiều điều về luật pháp mà Ngài hành động”.
“Tuy nhiên, các lập luận sai lầm rút ra từ các sự thật quan sát trong thiên nhiên được cho là xung đột giữa khoa học và sự khải thị; và trong nỗ lực khôi phục sự hòa hợp, những cách giải thích Kinh Thánh đã được chấp nhận để làm suy yếu và mấtuy quyền của lời Chúa. Địa chất học được cho là mâu thuẫn với cách giải thích theo nghĩa đen trong ghi chép của Môi-se về sự sáng tạo. Người ta xác định rằng mất khoảng hàng triệu năm cho sự tiến hóa của trái đất từ sự hỗn loạn; và để cho Kinh Thánh phù hợp với giả định khải thị của khoa học này, những ngày của sự sáng tạo được cho là kéo dài trong khoảng thời gian vô thời hạn, bao gồm hàng nghìn hoặc thậm chí hàng triệu năm”.
“Một kết luận như vậy là hoàn toàn không có cơ sở. Sự ghi chép trong Kinh Thánh hòa hợp với chính nó và với sự dạy dỗ của thiên nhiên” - Ellen G. White, Giáo Dục, trang 128, 129.
Câu hỏi thảo luận:
1. Tại sao đức tin của chúng ta sẽ bị ảnh hưởng nếu chúng ta tin rằng những câu chuyện về sự khởi đầu này là truyền thuyết “hoang đường” căn bản với mục đích để dạy chúng ta những bài học tâm linh nhưng không có trong thực tế lịch sử? Những gợi ý nào trong Kinh Thánh cho thấy tác giả Kinh Thánh biết rằng chúng “mang tính lịch sử” giống như phần còn lại của các câu chuyện trong sách Sáng-thế Ký? Lời chứng của Đức Chúa Giê-su về lẽ thật lịch sử của những câu chuyện này là gì?
2. Câu chuyện Sáng-thế Ký dạy chúng ta điều gì về tầm quan trọng của việc quản giatrên đất? Làm thế nào chúng ta có thể trở thành những người quản gia tốt cho hành tinh này, đồng thời tránh được sự cám dỗ tôn thờ các tạo vật mà đi ngược lại với Đấng Tạo Hoá? (Đọc Rô-ma 1:25)
3. Mặc dù sự tàn phá của tội lỗi kéo dài trong hàng thiên niên kỷ, bằng những cách nào mà sự kỳ diệu, vẻ đẹp và sự uy nghi nguyên thủy của sự Sáng Tạo “rất tốt lành” của Đức Chúa Trời vẫn bày tỏ với chúng ta, nói với chúng ta một cách mạnh mẽ về sự tốt lành và quyền năng của Ngài?