“Trải qua các đời mãi mãi”
Kinh Thánh Nghiên Cứu: Sáng-thế Ký 3:6; 6:5,11,18; 9:12–17; Ê-sai 4:3; Khải Huyền 12:17
"Nhưng Nô-ê được ơn trước mặt Đức Giê-hô-va" — Sáng-thế Ký 6:8
Sa-bát Trải Qua Các Đời Mãi Mãi
Câu gốc
“Nhưng Nô-ê được ơn trước mặt Đức Giê-hô-va” (Sáng-thế Ký 6:8).
Kinh Thánh nghiên cứu
Sáng-thế Ký 3:6; 6:5,11,18; 9:12–17; Ê-sai 4:3; Khải Huyền 12:17.
Vi khuẩn là những sinh vật quá nhỏ bé để có thể nhìn thấy nếu không có kính hiển vi. Một con vi khuẩn tròn bình thường không lớn hơn một đầu bút chì, ngay cả sau khi được phóng đại lên 1000 lần. Khi được cho vào môi trường thuận lợi để phát triển—độ ấm, độ ẩm và thức ăn đầy đủ—vi khuẩn sinh sôi nảy nở với tốc độ nhanh khủng khiếp. Ví dụ, một vài loại vi khuẩn sinh sản bằng cách phân chia đơn giản: một tế bào trưởng thành phân chia thành hai tế bào con. Khi sự phân chia này diễn ra trong mỗi giờ, một con vi khuẩn có thể sinh ra hơn 18.000.000 con vi khuẩn mới trong 24 giờ. Sau 48 giờ, hàng trăm tỉ con vi khuẩn sẽ xuất hiện.
Hiện tượng vi sinh trong thế giới tự nhiên này minh họa cho sự phát triển nhanh chóng của tội lỗi sau Sự Sa Ngã. Được ban ơn bởi những trí tuệ vô song, sức khỏe mạnh mẽ và sống lâu, dòng dõi hùng mạnh này lại từ bỏ Đức Chúa Trời và bán rẻ sức mạnh dòng dõi mình để theo đuổi mọi điều gian ác. Trong khi vi khuẩn có thể bị tiêu diệt bởi ánh mặt trời, hóa chất hoặc nhiệt độ cao, Đức Chúa Trời lựa chọn kiềm chế sự phản loạn hung hăng này bởi một cơn Đại Hồng Thủy.
Sơ lược về tuần này:
Tội lỗi đã làm gì đối với sự tạo thế của Đức Chúa Trời? Một vài đặc điểm của Nô-ê là gì? Những yếu tố nào liên quan đến giao ước với Nô-ê? Ân điển của Đức Chúa Trời bày tỏ trong giao ước với Nô-ê trước cơn Đại Hồng Thủy bằng cách nào? Giao ước Đức Chúa Trời thực hiện đối với nhân loại sau cơn Đại Hồng Thủy dạy gì cho chúng ta về tình yêu thương bao la của Ngài dành cho chúng ta?
Thứ Nhất Nguyên Tắc Tội Lỗi (Sáng-thế Ký 6:5)
Quan điểm của Đức Chúa Trời vào lúc kết thúc sự tạo thế là hết thảy “đều rất tốt lành” (Sáng-thế Ký 1:31). Sau đó tội lỗi đi vào, và hình mẫu thay đổi. Mọi thứ không còn “rất tốt lành” nữa. Sự tạo thế có tổ chức của Đức Chúa Trời bị làm cho hư hại bởi tội lỗi và hết thảy những hậu quả đáng ghê tởm của nó. Sự phản loạn chạm đến mức khủng khiếp vào thời Nô-ê; tội lỗi làm phá hủy cả dòng dõi. Mặc dù Kinh Thánh không ghi lại cho chúng ta nhiều chi tiết (hãy đọc quyển Tộc Trưởng và Tiên Tri, trang 90-92, của bà Ellen G. White để biết thêm chi tiết), thì sự vi phạm và phản nghịch rõ ràng đến nỗi ngay cả một Đức Chúa Trời yêu thương, kiên nhẫn và tha thứ cũng không thể dung thứ được.
Làm sao mà mọi thứ trở nên tệ hại nhanh chóng đến vậy? Có lẽ câu trả lời không khó để tìm ra. Ngày nay, có biết bao nhiêu người nhìn vào những tội lỗi của chính bản thân mình mà lại chẳng hỏi điều tương tự: Làm sao mà mọi thứ trở nên tệ hại nhanh chóng đến vậy?
Hãy xem những câu Kinh Thánh được liệt kê dưới đây. Viết xuống những ý chính mà chúng đưa ra. Hãy chú ý đến sự phát triển liên tục của tội lỗi:
1. Sáng-thế Ký 3:6
2. Sáng-thế Ký 3:11-13
3. Sáng-thế Ký 4:5
4. Sáng-thế Ký 4:8
5. Sáng-thế Ký 4:19
6. Sáng-thế Ký 4:23
7. Sáng-thế Ký 6:2
8. Sáng-thế Ký 6:5,11
Sáng-thế Ký 6:5 và 11 không phải tự nhiên xuất hiện. Có một lịch sử dài trước nó. Hậu quả kinh khiếp này có một nguyên nhân. Quá trình tội lỗi trở nên tệ hại hơn. Xu hướng của nó là như vậy. Tội lỗi không giống như một vết đứt hay vết thương, những thứ có quá trình tự động chữa lành. Trái lại, tội lỗi, nếu bị để mặc không kiểm soát, nó sẽ sinh sôi nảy nở, sẽ chẳng bao giờ thỏa mãn cho đến khi dẫn tới sự sụp đổ và sự chết. Người ta chẳng cần phải tưởng tượng đến cuộc sống trước cơn Đại Hồng Thủy để xem nguyên lý ấy hoạt động ra sao. Nó hiện tồn tại ngay giữa chúng ta.
Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi Chúa ghét tội lỗi; sớm muộn gì thì tội lỗi cũng sẽ bị xóa sạch. Và một Đức Chúa Trời yêu thương, công bình không còn có thể làm gì với nó nữa.
Tất nhiên, tin tốt lành là mặc dù Ngài muốn từ bỏ tội lỗi, nhưng Chúa vẫn muốn cứu những tội nhân. Đó chính là hết thảy những gì giao ước nói đến.
Thứ Hai Nô-ê (Sáng-thế Ký 6:9)
Trong suốt những câu Kinh Thánh nói về tội lỗi trong thế gian trước cơn Đại Hồng Thủy, Nô-ê nổi bật tương phản với những người xung quanh ông. Hãy nhìn vào câu Kinh Thánh trên, có ba điểm đặc biệt mà Kinh Thánh nhắc tới ông. Đối với khả năng tốt nhất của mình, hãy viết xuống những gì bạn nghĩ về ý nghĩa của ba điểm này:
1. Ông là một người “công bình”
2. Ông là một người “trọn vẹn”
3. Ông “đồng đi cùng Đức Chúa Trời”
Chẳng còn nghi vấn gì nữa, Nô-ê quả là một người có mối quan hệ cứu chuộc với Đức Chúa Trời. Ông là người mà Đức Chúa Trời đi cùng, là người mà sẽ lắng nghe lời Ngài, vâng theo Ngài, và trông cậy Ngài. Đó là lý do tại sao Đức Chúa Trời có thể sử dụng Nô-ê để làm tròn mục đích Ngài, và trong Kinh Thánh Tân Ước, Phi-e-rơ lại gọi ông là “thầy giảng đạo công bình” (2 Phi-e-rơ 2:5).
Hãy đọc Sáng-thế Ký 6:8. Câu Kinh Thánh này giúp chúng ta hiểu gì về mối quan hệ giữa Nô-ê với Đức Chúa Trời?
Từ ân điển xuất hiện lần đầu tiên trong Kinh Thánh ở đây và rõ ràng là có cùng một ý nghĩa như trong Kinh Thánh Tân Ước nhắc đến, nơi mô tả về đặc ân thương xót của Đức Chúa Trời đối với những tội nhân không xứng đáng được nhận. Vậy nên chúng ta cần phải hiểu rằng bất kể Nô-ê “trọn vẹn” và “công bình” đến mức nào, ông vẫn là một tội nhân cần đến ân điển vô biên của Đức Chúa Trời. Trong trường hợp đó, Nô-ê chẳng khác gì bất kỳ ai trong chúng ta đang hết lòng tìm kiếm đi theo Đức Chúa Trời.
Nên hiểu rằng chính Nô-ê cũng cần đến ân điển của Đức Chúa Trời, cũng như chúng ta, hãy nhìn vào cuộc đời của chính bạn và tự hỏi bản thân câu hỏi này, Liệu người ta có nhắc đến tôi rằng tôi cũng “công bình”, “trọn vẹn”, và “đi chung với Đức Chúa Trời” như Nô-ê không? Hãy viết ra vị trí thuộc linh hiện tại của bạn và nguyên nhân của nó, và cùng chia sẻ với lớp học Sa-bát (nếu bạn cảm thấy thoải mái).
Thứ Ba Giao Ước Với Nô-ê
“Nhưng Ta sẽ lập giao ước cùng ngươi, rồi ngươi và vợ, các con và các dâu của ngươi, đều hãy vào tàu” (Sáng-thế Ký 6:18).
Trong một câu Kinh Thánh này, chúng ta có được nền tảng của giao ước trong Kinh Thánh mà Đức Chúa Trời đã lập ra với nhân loại: Chúa và con người cùng bước vào một sự thỏa thuận. Hết sức đơn giản.
Nhưng, còn nhiều yếu tố sâu xa hơn nữa. Để khởi đầu, phải có yếu tố là sự vâng phục ở bên phía nhân loại. Đức Chúa Trời nói với Nô-ê rằng ông và gia đình ông phải đi vào trong tàu. Họ có phần việc của mình phải làm, và nếu họ không làm vậy, giao ước sẽ bị phá vỡ. Nếu giao ước bị phá vỡ, họ là những người thua thiệt hoàn toàn, vì cho đến cuối cùng, họ là những người hưởng lợi từ giao ước. Suy cho cùng, nếu Nô-ê nói Không với Đức Chúa Trời và không muốn tuân theo giao ước ấy, hoặc nói Có nhưng rồi đổi ý, thì hậu quả dành cho bản thân ông và gia đình là gì?
Đức Chúa Trời phán rằng đây là “giao ước của Ta”. Điều đó cho chúng ta biết gì về bản chất thật sự của giao ước? Khái niệm về giao ước của bạn sẽ khác biệt như thế nào nếu Chúa gọi đó là “giao ước của chúng ta”?
Bất kể tình huống đặc biệt này độc đáo đến mức nào, chúng ta nhìn thấy động lực căn bản giữa Chúa và con người được tìm thấy trong giao ước. Qua việc thiết lập “giao ước của Ta” với Nô-ê, ở đây Đức Chúa Trời một lần nữa bày tỏ ân điển Ngài. Chúa tỏ ra rằng Ngài sẵn sàng giành thế chủ động để cứu nhân loại khỏi hậu quả tội lỗi của họ. Nói ngắn gọn, giao ước này không thể nào được xem như những loại giao ước bình đẳng nơi đó mỗi “đối tác” trong giao ước độc lập với nhau. Chúng ta có thể nói rằng Đức Chúa Trời “được lợi” từ giao ước, nhưng chỉ trong một ý nghĩa hoàn toàn khác biệt với những gì nhân loại nhận được. Chúa được lợi khi những người mà Ngài yêu mến được ban cho sự sống đời đời—sự hài lòng không nhỏ đối với Đức Chúa Trời (Ê-sai 53:11). Nhưng điều đó không có nghĩa là Ngài được lợi giống y như chúng ta—khi nhận được lợi ích cuối cùng của một giao ước tương tự.
Hãy thử phép so sánh này: một người đàn ông bị rơi ra khỏi tàu trong một cơn bão. Một thanh niên trên boong tàu nói rằng anh sẽ ném một cái phao cứu hộ để kéo ông lên. Tuy nhiên, người đàn ông dưới nước sẽ phải bằng lòng thực hiện phần việc của mình trong “thỏa thuận”, đó là ông phải nắm lấy và giữ chặt những gì được cung cấp cho mình. Trong nhiều phương diện, đây chính là những gì mà giao ước giữa Chúa và con người nói đến
Phép so sánh giúp chúng ta hiểu được gì về khái niệm ân điển có trong giao ước? Điều này giúp bạn hiểu rằng mối quan hệ của bạn với Chúa cần phải dựa trên những điều gì, ngay cả trong hiện tại?
Thứ Tư Dấu Hiệu Cầu Vồng
“Đức Chúa Trời lại phán rằng: Đây là dấu chỉ về sự giao ước mà Ta lập cùng các ngươi, cùng hết thảy vật sống ở với các ngươi, trải qua các đời mãi mãi. Ta đặt mống của Ta trên từng mây, dùng làm dấu chỉ sự giao ước của Ta với đất” (Sáng-thế Ký 9:12,13).
Có rất ít hiện tượng tự nhiên đẹp hơn cầu vồng. Ai mà lại chẳng nhớ nổi ấn tượng diệu kỳ đầu tiên của một đứa trẻ và tự hỏi về những thanh sắc màu tuyệt đẹp uốn cong trên bầu trời giống như một cái cổng thần bí đang vẫy gọi bước vào thiên đàng (hoặc có thể đó chỉ đơn thuần là một cái dây thắt lưng đầy màu sắc của một chú hề)? Ngay cả khi đã là người lớn, chúng ta có thể ngưng thở khi ngắm nhìn những dải màu sặc sỡ trên những đám mây. Chẳng lạ gì khi ngay cả đến ngày hôm nay, cầu vồng được sử dụng để làm dấu hiệu cho rất nhiều thứ: từ những tổ chức chính trị cho đến giáo phái, đến những ban nhạc rock, cho đến những công ty du lịch (hãy tìm kiếm từ “cầu vồng” trên mạng thử xem). Rõ ràng là những dải màu sắc đẹp đẽ vẫn chạm đến những sợi dây cảm xúc trong lòng và tâm trí chúng ta.
Tất nhiên, đây chính là mục đích của Đức Chúa Trời.
Tại sao Đức Chúa Trời lại phán rằng cầu vồng sẽ trở thành một dấu hiệu? Xem Sáng-thế Ký 9:12-17.
Đức Chúa Trời phán rằng Ngài sẽ sử dụng cầu vồng như một dấu của “giao ước của Ta” (Sáng-thế Ký 9:15). Thật thú vị khi Ngài dùng từ giao ước ở đây, vì trong trường hợp này, cách sử dụng giao ước này khác biệt với tất cả những giao ước khác. Trái với những giao ước với Áp-ra-ham hoặc giao ước trên núi Si-na-i, không có nghĩa vụ cụ thể được bày tỏ về phía người sẽ nhận lãnh được lợi ích từ giao ước (ngay cả Nô-ê). Ở đây, lời của Đức Chúa Trời dành cho tất cả mọi người, cho “các loài xác thịt có sự sống” (Sáng-thế Ký 9:15), “trải qua các đời mãi mãi” (Sáng-thế Ký 9:12). Lời Chúa phổ quát, bao gồm hết thảy, bất kể người ấy lựa chọn vâng theo Đức Chúa Trời hay không. Khái niệm giao ước còn không được sử dụng theo ý nghĩa này ở bất kỳ nơi nào khác trong Kinh Thánh khi nói về mối quan hệ giữa Chúa và con người.
Giao ước cũng bày tỏ về ân điển của Đức Chúa Trời theo nghĩa nào? Ai là người khởi đầu giao ước này? Ai là người được lợi nhiều nhất?
Mặc dù như đã được bày tỏ, giao ước không đi với những nghĩa vụ cụ thể về phần chúng ta (tất nhiên về phần Chúa thì Ngài sẽ chẳng bao giờ hủy diệt thế gian bằng một trận lụt nữa), làm thế nào sự nhận thức của chúng ta về những gì cầu vồng tượng trưng cho lại ảnh hưởng đến cách chúng ta sống vâng phục Đức Chúa Trời? Nói cách khác, liệu có những nghĩa vụ đương nhiên nào về phần chúng ta khi ta nhìn lên bầu trời và thấy cầu vồng? Hãy nghĩ đến bối cảnh khi cầu vồng xuất hiện và những bài học chúng ta có thể rút ra được từ câu chuyện này.
Thứ Năm Chỉ Còn Nô-ê
“Mọi loài ở trên mặt đất đều bị hủy diệt, từ loài người cho đến loài thú, loài côn trùng, cùng loài chim trời, chỉ còn Nô-ê và các loài ở với người trong tàu mà thôi” (Sáng-thế Ký 7:23).
Trong câu Kinh Thánh này, chúng ta tìm thấy khái niệm “dân sót” được đề cập lần đầu tiên ở trong Kinh Thánh. Chữ được dịch là “chỉ còn” xuất phát từ một chữ khác có căn nguyên được sử dụng rất nhiều lần trong Kinh Thánh Cựu Ước khi truyền tải ý tưởng về một dân sót.
“Đức Chúa Trời sai tôi đến đây trước, đặng làm cho các anh còn nối dòng trên mặt đất, và nương một sự giải cứu lớn đặng giữ gìn sự sống cho anh em” (Sáng-thế Ký 45:7).
“Phàm những kẻ còn ở lại Si-ôn, những kẻ sót lại ở Giê-ru-sa-lem, tức là những kẻ ở Giê-ru-sa-lem được chép vào sổ người sống, thì sẽ được xưng là thánh” (Ê-sai 4:3).
“Trong ngày đó, Chúa còn đặt tay một lần nữa đặng chuộc dân sót của Ngài” (Ê-sai 11:11).
Trong hết thảy những trường hợp này, những từ in nghiêng được liên kết với những từ tương tự với chữ “chỉ còn” được tìm thấy trong Sáng-thế Ký 7:23.
Hãy xem trong Sáng-thế Ký 7:23 và những ví dụ khác. Bạn hiểu như thế nào về khái niệm một dân sót ở đây? Những điều kiện xung quanh nào dẫn đến một dân sót? Làm thế nào giao ước phù hợp với ý niệm về một dân sót?
Vào lúc trận Đại Hồng Thủy xảy ra, Đấng Tạo Hóa của thế gian này trở thành Quan Tòa của thế gian. Sự phán xét thế gian cận kề dấy lên câu hỏi liệu mọi sinh vật trên đất—ngay cả đối với sự sống của loài người—sẽ bị hủy diệt hay sao. Nếu không, ai sẽ là những người còn sống sót? Ai sẽ là những người còn sót lại?
Trong trường hợp này, đó chính là Nô-ê và gia đình ông. Nhưng sự cứu rỗi của Nô-ê được liên kết với giao ước của Đức Chúa Trời dành cho ông (Sáng-thế Ký 6:18)—một giao ước được khởi nguồn và thi hành bởi một Đức Chúa Trời đầy lòng thương xót và ân điển. Họ sống sót chỉ vì Đức Chúa Trời thực hiện điều đó cho họ, bất kể sự hợp tác của họ quan trọng đến đâu. Bất kể sự vâng phục đối với giao ước của Nô-ê đến mức nào, và bất kể ông thi hành nó trung thành đến đâu, niềm hy vọng duy nhất của ông ở trong sự thương xót của Đức Chúa Trời.
Dựa trên sự hiểu biết của chúng ta về những sự kiện ngày cuối cùng, bao gồm một thời điểm khi Đức Chúa Trời sẽ có một dân sót (hãy xem Khải Huyền 12:17), chúng ta có thể học được những điều tương tự nào từ câu chuyện của Nô-ê nhằm giúp chúng ta chuẩn bị để dự phần vào dân sót của Ngài? Trong những phương diện nào thì những quyết định hằng ngày của chúng ta cũng có thể ảnh hưởng đến vị trí cuối cùng của chúng ta trong thời điểm ấy?
Thứ Sáu Nghiên Cứu Bổ Túc
NGHIÊN CỨU BỔ TÚC
Hãy đọc chương “Cơn Đại Hồng Thủy”, trang 90-104, và “Sau Cơn Đại Hồng Thủy”, trang 105-110, trong quyển Tộc Trưởng và Tiên Tri của bà Ellen G. White.
“Cầu vồng, một hiện tượng thiên nhiên, là một biểu tượng thích hợp cho lời hứa của Đức Chúa Trời rằng Ngài sẽ chẳng bao giờ hủy diệt trái đất bằng một trận lụt nữa. Đến nỗi khi những điều kiện khí hậu của trái đất thay đổi hoàn toàn khác biệt sau cơn Đại Hồng Thủy, và ở hầu hết các phần của thế gian, mưa sẽ thay thế cho sương sớm làm ẩm đất đai như trước, cần có một điều gì đó để trấn an nỗi sợ của con người mỗi khi mưa bắt đầu rơi. Tâm trí thuộc linh có thể nhìn thấy Đức Chúa Trời bày tỏ chính Ngài trong những hiện tượng thiên nhiên (xem trong Rô-ma 1:20). Vậy nên cầu vồng là bằng chứng cho những người tin Ngài rằng mưa sẽ mang đến những ơn phước chứ không phải sự hủy diệt toàn thế gian”.—The SDA Bible Commentary, quyển 1, trang 265.
Câu hỏi thảo luận:
1. “Trong những ngày ấy, loài người đầy dẫy, loài người sinh sôi nảy nở, thế gian gầm rống như một con bò tót và vị thần vĩ đại bị thức tỉnh bởi tiếng la hét ầm ĩ. Enlil nghe thấy tiếng ầm ĩ đó và nói với các thần cùng trong nhóm, ‘Sự náo động của loài người là không thể nào chịu đựng được nữa, và chẳng thể ngủ được bởi sự phản loạn’. Vậy nên các vị thần quyết định tiêu diệt loài người”.—“Câu chuyện về trận Đại Hồng Thủy” trong Sử Thi Gilgamesh, do N. K Sanders dịch, trang 108. Hãy so sánh nguyên nhân của trận Đại Hồng Thủy này với nguyên nhân được Kinh Thánh đưa ra.
2. Nô-ê đã làm nhiều hơn là chỉ cảnh báo thế hệ của ông về sự phán xét đang đến của Đức Chúa Trời. Mục đích sự cảnh báo của ông nhằm giúp mọi người cảm nhận được nhu cầu được cứu chuộc của họ. Tại sao những lẽ thật về sự cứu rỗi lại không được tiếp nhận? Hãy viết ra danh sách và thảo luận những thứ cản trở nhiều người chấp nhận kế hoạch của Đức Chúa Trời dành cho sự cứu rỗi họ. Hãy xem Giăng 3:19, Giăng 7:47; Giăng 12:42, 43; Gia-cơ 4:4.
Tóm lược: Trong nghiên cứu tuần này, chúng ta lưu ý rằng các giao ước mà Đức Chúa Trời lập với Nô-ê là giao ước đầu tiên được thảo luận rõ ràng trong Kinh Thánh. Chúng bày tỏ sự quan tâm ân cần của Ngài đối với nhân loại và Ngài muốn tham gia vào mối quan hệ cứu rỗi với họ. Đức Chúa Trời tái xác nhận giao ước của Ngài với Nô-ê, và chính sự cam kết của Nô-ê với Đức Chúa Trời đã che chở ông khỏi sự bội đạo và cuối cùng đã cứu ông và gia đình khỏi sự phán xét tàn khốc của trận Đại Hồng Thủy.
“Biểu tượng cầu vồng trên mây này là để xác nhận niềm tin của tất cả mọi người, và thiết lập niềm tin của họ vào Chúa, vì nó là dấu hiệu của lòng thương xót và sự tốt lành của thần linh đối với con người; rằng mặc dù Đức Chúa Trời đã bị kích động để hủy diệt trái đất bởi trận Đại hồng thủy, nhưng lòng thương xót của Ngài vẫn bao trùm trái đất. ”- Ellen G. White, Câu truyện cứu chuộc, tr. 71.