Bảy tiếng loa
Kinh Thánh Nghiên Cứu: Dân Số Ký 10:8–10; Ê-xê-chi-ên 10:2; Khải Huyền 8:1–13, 10:1–11, 11:1–13; Đa-ni-ên 12:6, 7; Lê-vi Ký 16
"Nhưng đến ngày mà vị thiên sứ thứ bảy cho nghe tiếng mình và thổi loa, thì sự mầu nhiệm Đức Chúa Trời sẽ nên trọn, như Ngài đã phán cùng các tôi tớ Ngài, là các đấng tiên tri" — Khải Huyền 10:7
Sa-bát Bảy Tiếng Loa
Kinh Thánh nghiên cứu
Dân Số Ký 10:8–10; Ê-xê-chi-ên 10:2; Khải Huyền 8:1–13, 10:1–11, 11:1–13; Đa-ni-ên 12:6, 7; Lê-vi Ký 16.
Câu gốc
“Nhưng đến ngày mà vị thiên sứ thứ bảy cho nghe tiếng mình và thổi loa, thì sự mầu nhiệm Đức Chúa Trời sẽ nên trọn, như Ngài đã phán cùng các tôi tớ Ngài, là các đấng tiên tri” (Khải Huyền 10:7).
Trong cảnh tượng của ấn thứ năm, chúng ta thấy được sự kêu khóc của dân sự bị áp bức của Chúa, và những tiếng kêu khóc đó phản ánh sự than khóc của những người tin kính Chúa trong tất cả mọi thời đại. Những người này được miêu tả như những linh hồn đứng dưới bàn thờ kêu khóc lên đến Chúa cầu xin cho sự công bình và bào chữa của Ngài, rằng: “Lạy Chúa, cho đến chừng nào?” (Khải Huyền 6:10). Có tiếng nói đến từ trời khuyến khích họ hãy chờ đợi, vì ngày sẽ đến khi Chúa sẽ xét đoán những ai đã làm hại đến họ. Khải Huyền 6:15-17 phát họa hình ảnh Đức Chúa Giê-su trở lại thế gian này và mang theo sự xét đoán cho những ai đã làm điều gian ác với những người tin kính trung tín của Ngài.
Cảnh tượng của ấn thứ năm tượng trưng cho sự chịu đựng, đau đớn của dân sự Chúa xuyên suốt lịch sử, từ thời của A-bên cho đến thời điểm cuối cùng khi Chúa sẽ phán xử và báo lại cho “huyết của các tôi tớ Ngài” (Khải Huyền 19:2). Dân sự chịu thống khổ của Chúa cần phải giữ cho mình mạnh mẽ và vững tin rằng Chúa vẫn luôn lắng nghe những lời khẩn nguyện của dân sự Ngài.
Sự khải thị về bảy tiếng loa cho thấy rằng, xuyên suốt lịch sử, Chúa đã luôn đại diện cho dân sự chịu áp bức của Ngài và can thiệp cũng như xét đoán những ai làm tổn hại đến họ. Mục đích của bảy tiếng loa nhằm để đảm bảo cho dân sự Chúa rằng thiên đàng không hề thờ ơ với những sự đau đớn mà họ đang phải gánh chịu.
Thứ Nhất Lời Cầu Nguyện Của Các Thánh
Khải Huyền 8 bắt đầu với hình ảnh bảy vị thiên sứ đứng trước Đức Chúa Trời, sẵn sàng thổi loa. Trước khi các tiếng loa cất lên, một quang cảnh khác được đưa vào. Với mục đích nhằm giải thích ý nghĩa thần học của các tiếng loa.
Đọc Khải Huyền 8:3, 4 cùng với sự diễn giải của những buổi lễ hằng ngày diễn ra trong đền thờ Giê-ru-sa-lem sau đây: Một lời dẫn giải của người Do-thái về Kinh Thánh giải thích rằng tại của lễ hy sinh buổi chiều, con chiên được đặt trên bàn thờ của lễ thiêu, và huyết của nó chảy xuống dưới chân bàn thờ. Một thầy tế lễ được chỉ định sẽ lấy lư hương bằng vàng đi vào đền thờ và dâng hương trên bàn thờ bằng vàng trong nơi Thánh. Khi thầy tế lễ bước ra ngoài, ông quăng lư hương xuống đất, gây ra tiếng động lớn. Ngay lúc nầy, bảy thầy tế lễ thổi loa, báo hiệu sự kết thúc của các buổi lễ trong đền thờ cho ngày hôm đó.
Chúng ta có thể thấy được những ngôn ngữ của buổi lễ buổi chiều được sử dụng lại trong Khải Huyền 8:3-5. Điều quan trọng là vị thiên sứ nhận hương tại nơi “bàn thờ bằng vàng ở trước ngôi” (Khải Huyền 8:3). Hương này tượng trưng cho những lời cầu nguyện của dân sự Đức Chúa Trời (Khải Huyền 5:8). Vì vậy, những lời cầu nguyện mà vị thiên sứ dâng lên trước Chúa là những lời cầu nguyện của dân sự bị bắt bớ của Ngài. Những lời cầu nguyện của họ giờ đây được Chúa nghe đến.
Khải Huyền 8:3–5 đưa ra thông tin quan trọng về những tiếng loa trong Khải Huyền:
- a. Bảy tiếng loa là sự xét đoán của Đức Chúa Trời đối với nhân loại nổi loạn nhằm đáp lại lời cầu nguyện cho dân sự bị áp bức của Ngài.
- b. Những tiếng loa thổi lên bắt đầu từ sự chết của Đức Chúa Giê-su là Chiên Con và tiếng loa ấy tiếp tục kéo dài suốt cả lịch sử cho đến sự Đến Lần Thứ Hai (xem Khải Huyền 11:15–18).
Đọc Khải Huyền 8:5 cùng với Ê-xê-chi-ên 10:2. Nguồn gốc của những than lửa đỏ được dùng để ném vào kẻ thù của dân sự Đức Chúa Trời đến từ đâu? Sự hiện thấy của Ê-xê-chi-ên về những than lửa đỏ được rải ra trên thành Giê-ru-sa-lem giải thích như thế nào về các tiếng loa trong Khải Huyền?
Vị thiên sứ bỏ đầy lư hương với lửa từ trên bàn thờ và ném xuống trái đất. Điều đáng chú ý là: lửa nầy là lửa đến từ chính bàn thờ mà những lời cầu nguyện của các thánh được dâng lên. Điều này tỏ ra rằng sự phán xét của bảy tiếng loa là dành cho những dân cư trên đất để đáp lại lời cầu nguyện của dân sự Đức Chúa Trời. Dân sự của Chúa không hề bị quên lãng, và Chúa sẽ đại diện cho họ để can thiệp trong thời của Ngài.
Thứ Hai Ý Nghĩa Của Các Tiếng Loa
Để minh họa cho sự can thiệp của Chúa thay cho dân sự Ngài, Khải Huyền dùng hình ảnh các tiếng loa trong Cựu Ước. Các tiếng loa là một phần quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của người Y-sơ-ra-ên xưa (xem Dân Số Ký 10:8-10 và 2 Sử Ký 13:14, 15). Những tiếng loa nhắc nhở dân sự về các buổi lễ thờ phượng trong đền thờ; kèn loa cũng được thổi khi ra chiến trận, khi đến mùa gặt, và trong suốt các lễ hội.
Việc thổi loa cũng đi đôi với việc cầu nguyện. Trong buổi thờ phượng tại đền thờ hoặc trong suốt các lễ hội, các tiếng loa “nhắc nhở” Chúa về giao ước của Chúa giữa Ngài với dân sự. Những tiếng loa đó cũng nhắc dân sự cần phải sẵn sàng cho “ngày của Chúa” (Giô-ên 2:1). Trong chiến trận, khi tiếng loa cất lên, được kèm với những lời cầu nguyện, khẩn xin Chúa cứu giúp dân sự Ngài. Khái niệm này là bối cảnh của các tiếng loa trong Khải Huyền.
Đọc Khải Huyền 8:13; 9:4, 20, 21. Đối tượng chịu phán xét của bảy tiếng loa là ai?
Những biến cố xảy ra bởi các tiếng loa trong Khải Huyền biểu thị sự can thiệp của Đức Chúa Trời trong lịch sử để đáp lại lời cầu nguyện của dân sự Ngài. Trong khi các ấn liên quan chủ yếu đến những người xưng mình là dân sự Chúa, thì các tiếng loa rao báo về sự đoán xét đối với các cư dân trên đất (Khải Huyền 8:13). Đồng thời, các tiếng loa ấy cũng là lời cảnh báo toàn dân để họ có thể ăn năn trước khi quá muộn.
Bảy tiếng loa bao gồm toàn bộ quá trình lịch sử từ thời của Giăng cho đến khi kết thúc lịch sử của trái đất nầy (Khải Huyền 11:15-18). Những tiếng loa này được thổi lên trong khi sự cầu thay được diễn ra trên trời (Khải Huyền 8:3-6), và tin lành được rao giảng ra khắp nơi trên đất (Khải Huyền 10:8-11:14). Sự phán xét của các tiếng loa chỉ là một phần riêng; chỉ ảnh hưởng đến một phần ba dân cư trên đất mà thôi. Tiếng loa thứ bảy báo rằng đã đến lúc Đức Chúa Trời nắm giữ quyền cai trị vốn dĩ là của Ngài. Tiếng loa thứ bảy ứng dụng với cùng khoảng thời gian của bảy Hội Thánh:
- (a) Hai tiếng loa đầu tiên báo hiệu sự xét đoán trên những dân đã đóng đinh Đấng Cơ-đốc và bắt bớ Hội Thánh ban đầu, thành Giê-ru-sa-lem nổi loạn và đế chế La-Mã.
- (b) Tiếng loa thứ ba và thứ tư phát họa sự phản ứng của thiên đàng đối với sự bội đạo của thời kỳ trung cổ và hậu cải chánh.
- (c) Tiếng loa thứ năm và thứ sáu diễn tả tình hình của thế gian sau hậu quả của thời Huấn lệnh tôn giáo, biểu thị bởi hoạt động ma quỷ rộng lớn nhằm lôi kéo thế gian vào trong trận chiến mãnh liệt cuối cùng giữa thiện và ác. (Ha-ma-ghê-đôn)
Một điều hiển nhiên, lịch sử đẫm máu, đầy ắp đau đớn và khổ sở. Vậy thì làm sao thực tế đau buồn này có thể giúp chúng ta nhận thức được rằng những gì Chúa đã hứa với chúng ta qua Đức Chúa Giê-su là thật sự tuyệt vời như thế nào?
Thứ Ba Vị Thiên Sứ Với Quyển Sách Mở Ra
Tiếng loa thứ sáu đem chúng ta đến với thời kỳ cuối cùng. Dân sự của Chúa được kêu gọi phải làm gì trong thời kỳ này? Trước khi tiếng loa thứ bảy cất lên, một viễn cảnh được đưa vào, giải thích công việc cũng như kinh nghiệm của dân sự Chúa trong thời kỳ cuối cùng.
Đọc Khải Huyền 10:1-4. Điều gì đang xảy ra ở đây?
Vị thiên sứ này, là người có diện mạo của Đấng Cơ-đốc, đang cầm một quyển sách mở ra. Người để một chân mình trên biển và một chân trên đất, biểu thị cho quyền cai trị vũ trụ của Người, và tỏ ra rằng những gì Người sắp sửa tuyên bố sẽ có ý nghĩa toàn cầu. Người kêu tiếng lớn như tiếng sư tử rống. Tiếng rống của sư tử tượng trưng cho tiếng phán của Đức Chúa Trời (xem Ô-sê 11:10).
Giăng không được phép ghi lại những gì phán ra từ những tiếng sấm sét. Có những điều liên quan đến tương lai mà Chúa đã không muốn bày tỏ qua Giăng.
Đọc Khải Huyền 10:5-7. So sánh phần Kinh Thánh này với Đa-ni-ên 12:6, 7. Có những từ ngữ nào được sử dụng giống nhau?
Khi thiên sứ nói rằng sẽ “không còn thì giờ nào nữa (Khải Huyền 10:6), tiếng Hy-Lạp từ chronos cho thấy rằng người ám chỉ đến một kỳ của thời gian. Điều này quay lại trong Đa-ni-ên 12:6, 7, vị thiên sứ phán rằng sự bắt bớ của các thánh sẽ kéo dài trong một kỳ, những kỳ và nữa kỳ hoặc 1.260 năm (538-1798 sau Công Nguyên). Một thời gian sau thời điểm tiên tri này, sự cuối cùng sẽ đến.
Lời tuyên bố rằng không còn thì giờ nào nữa ám chỉ đến thời kỳ tiên tri của Đa-ni-ên, đặc biệt là 2.300 ngày tiên tri trong Đa-ni-ên 8:14 (457 TCN –1844 SCN). Sau thời kỳ này, sẽ không còn thời kỳ tiên tri nào nữa. Bà Ellen White đã viết: “Thì giờ này, mà thiên sứ đã long trọng tuyên bố, là… thì giờ tiên tri, đã được báo từ trước khi Chúa chúng ta giáng sinh. Tức là, dân sự sẽ không có thêm thông điệp nào khác mà có thời gian nhất định. Sau thời kỳ này, từ năm 1842 đến 1844, sẽ không có sự hiện thấy nào xác định về thời gian tiên tri. Mốc thời gian xa nhất được tính đến là vào mùa thu năm 1844.” —Ellen G. White, Sách Giải Nghĩa Kinh Thánh SDA, chương7, tr. 971.
Điều này nói gì với chúng ta về việc tại sao mình cần phải tránh tất cả những sự sắp đặt ngày giờ ở tương lai?
Thứ Tư Nuốt Quyển Sách Nhỏ
Đọc Khải Huyền 10:8-11. Sự ăn trong Kinh Thánh được sử dụng để diễn tả sự chấp nhận sứ mạng từ Đức Chúa Trời để sau đó truyền đạt lại cho dân sự (xem Ê-xê-chi-ên 2:8–3:11, Giê-rê-mi 15:16). Khi nhận được, thông điệp là một tin tốt lành; tuy nhiên khi được rao truyền ra, đôi khi nó kết quả trong cay đắng bởi bị nhiều người từ chối và chống đối.
Kinh nghiệm vừa ngọt vừa đắng của Giăng khi nuốt quyển sách nhỏ có liên quan đến việc không tiết lộ các lời tiên tri của Đa-ni-ên về thời kỳ cuối cùng. Ở đây Giăng là đại diện cho Hội Thánh được ủy nhiệm để rao báo tin lành vào thời điểm kết thúc lời tiên tri 1.260 ngày của Đa-ni-ên.
Bối cảnh tỏ ra rằng kinh nghiệm của Giăng khi có sự hiện thấy đó đã hướng đến một kinh nghiệm vừa ngọt vừa đắng khác, đó là lúc kết thúc của thời kỳ tiên tri 2.300 năm. Trên cơ sở các lời tiên tri của Đa-ni-ên, khi những người nghe theo Miller nghĩ rằng Đấng Cơ-đốc sẽ trở lại vào năm 1844, thì thông điệp đó thật ngọt ngào đối với họ. Tuy nhiên, khi điều đó không xảy ra, họ đã nếm trải cảm giác cay đắng của thông điệp mà trước đó họ đã rao truyền.
Nhiệm vụ của Giăng là “tiên tri một lần nữa” cho thế gian, cho tất cả những Cơ-đốc nhân giữ ngày Sa-bát rằng họ được giao phó nhiệm vụ rao truyền sứ điệp Tái Lâm của Chúa như những lời tiên tri của Đa-ni-ên.
Đọc Khải Huyền 11:1, 2. Giăng được chỉ thị phải làm gì?
Đoạn này tiếp tục quang cảnh của Khải Huyền 10. Giăng được chỉ thị phải đo đền thờ, bàn thờ, và những người thờ lạy tại bàn thờ. Khái niệm đo bàn thờ trong Kinh Thánh ám chỉ đến sự phán xét (xem Ma-thi-ơ 7:2). Đền thờ được đo là ở trên trời, nơi mà Đức Chúa Giê-su đang cầu thay cho chúng ta. Việc nhắc đến đền thờ, bàn thờ, và những người thờ phượng đều hướng đến Ngày Đại Lễ Chuộc Tội (xem Lê-vi Ký 16:16–19). Ngày Đại Lễ Chuộc Tội là một ngày để “đo” vì đó là ngày Chúa xét đoán tội lỗi của dân sự Ngài. Vì vậy, Khải Huyền 11:1 ám chỉ đến sự xét đoán sẽ xảy ra vào sự đến lần thứ hai của Chúa. Sự xét đoán này dành riêng cho dân sự của Chúa – là những người thờ phượng tại bàn thờ.
Khải Huyền 11:1 cho thấy rằng sứ mạng đền thánh ở trên trời là trọng tâm của sự truyền bá tin lành cuối cùng. Nó liên quan đến sự minh chứng cho tính cách của Đức Chúa Trời. Qua đó, chúng ta thấy được một hình ảnh trọn vẹn của sứ mạng tin lành về công việc chuộc tội của Đấng Cơ-đốc và sự công bình của Ngài và đó là phương tiện cứu rỗi duy nhất dành cho nhân loại
Lưu ý đến việc sử dụng huyết trong lễ nghi của Ngày Đại Lễ Chuộc Tội (xem Lê-vi Ký 16), làm sao để chúng ta lúc nào cũng luôn nhớ đến một thực tế rằng sự xét đoán là một tin tốt lành? Tại sao lẽ thật này lại quan trọng đến thế?
Thứ Năm Hai Nhân Chứng
Đọc Khải Huyền 11:3–6. Hai nhân chứng đã phản ánh hình ảnh của Xô-rô-ba-bên và Giê-hô-sua trong vai trò hoàng gia và thầy tế lễ cả theo cách nào? Xem Xa-cha-ri 4:2, 3, 11–14.
Ý tưởng về hai nhân chứng đến từ hệ thống pháp luật của người Do Thái, trong đó đòi hỏi ít nhất phải có hai nhân chứng để chứng minh một điều gì đó là đúng sự thật (Giăng 8:17). Hai nhân chứng tượng trưng cho Kinh Thánh; nhưng họ cũng có thể tượng trưng cho dân sự của Đức Chúa Trời vì họ làm chứng cho Kinh Thánh. Cả hai không thể tách rời, vì dân sự của Chúa là những người được gọi để rao truyền Kinh Thánh ra khắp thế gian.
Các nhân chứng được hình dung như là các tiên tri mặc vải gai trong giai đoạn tiên tri 1.260 năm (538–1798 sau CN). Điều này hướng đến Khải Huyền 10:11, khi Giăng được bảo phải nói tiên tri. Điều này cho thấy sự kêu gọi làm tiên tri cho Chúa mở rộng ra đến Hội Thánh, và sẽ phải tiếp tục rao truyền lẽ thật của Chúa cho cả thế gian. Áo bằng bao gai là loại trang phục mặc trong lúc tang chế (Sáng-thế Ký 37:34); ám chỉ đến thời kỳ khó khăn mà dân sự của Chúa phải chịu đựng khi họ “tiên tri một lần nữa”.
Đọc Khải Huyền 11:7–13. Bạn hãy dùng từ của mình, diễn tả lại điều gì đã xảy ra với hai nhân chứng vào cuối thời kỳ tiên tri 1.260 ngày?
Con thú đã giết hai nhân chứng, nó đến từ chính nơi trú ngụ của Sa-tan. Việc giết hại các nhân chứng nầy theo lịch sử tương ứng với cuộc tấn công vô thần về Kinh Thánh và việc bãi bỏ tôn giáo liên quan đến những sự kiện của cuộc cách mạng Pháp. Hệ thống chống tôn giáo này sở hữu sự sa đọa đạo đức tại Sô-đôm, sự kiêu ngạo vô thần của Ai-Cập, và sự nổi loạn tại thành Giê-ru-sa-lem. Những gì đã xảy đến với Đức Chúa Giê-su tại thành Giê-ru-sa-lem giờ đây xảy ra với Kinh Thánh bởi chính hệ thống chống tôn giáo này.
Sự phục sinh của các nhân chứng hướng đến sự phục hưng lớn trong việc yêu quý Kinh Thánh sau hậu quả của cuộc cách mạng Pháp, dẫn đến việc thành lập các Thánh Kinh Hội và nhiều phong trào truyền giáo với mục đích truyền bá Kinh Thánh.
Ngay trước khi kết thúc, thế gian sẽ chứng kiến sự rao giảng toàn cầu về Kinh Thánh như chưa từng có trước đây trong lịch sử. Lời tuyên bố cuối cùng này cũng sẽ có hiệu ứng buồn vui lẫn lộn, vì nó sẽ kích động sự chống đối mạnh mẽ bằng nhiều hành động của ma quỷ, ma quỷ sẽ thực hiện những phép lạ để lôi kéo thế gian vào trận chiến cuối cùng chống lại các nhân chứng trung tín của Đức Chúa Trời (xem Khải Huyền 16:13–16).
Thứ Sáu Nghiên Cứu Bổ Túc
NGHIÊN CỨU BỔ TÚC
Tiếng loa thứ bảy (Khải Huyền 11:15–18) báo hiệu sự kết thúc của lịch sử trái đất. Giờ đã đến để Đức Chúa Trời tỏ ra quyền năng và sự cai trị của Ngài. Hành tinh nổi loạn này, vốn đã chịu dưới sự thống trị của Sa-tan hàng ngàn năm qua, giờ sắp được trở lại dưới sự cai quản và trị vì của Đức Chúa Trời. Sau sự chết của Đấng Cơ-đốc trên thập tự giá và sau sự thăng thiên về trời của Ngài mà Sa-tan, kẻ chiếm ngôi, đã bị cấm vĩnh viển khỏi thiên đàng, và Đấng Cơ-đốc được xưng là nhà cầm quyền hợp pháp của trái đất (Khải Huyền 12:10), ngay cả nếu như Sa-tan tiếp tục trả thù với tất cả mọi khả năng phá hoại của nó, nó biết rằng thời gian còn lại cho nó rất ít (Khải Huyền 12:12). Tiếng loa thứ bảy báo hiệu rằng những thế lực xâm chiếm đã bị phán xử và rằng thế gian này cuối cùng cũng được trở về dưới quyền lực thống trị hợp pháp, công bằng của Ngài.
Tiếng loa thứ bảy phát họa nội dung của nửa còn lại của quyển sách, mà có liên quan đến những sự kiện cuối cùng: (1) Các quốc gia giận dữ: Khải Huyền 12–14 mô tả Sa-tan đầy sự giận dữ (Khải Huyền 12:17), nó cùng với hai đồng minh của mình — con thú dưới biển và con thú trên đất — sửa soạn cho các quốc gia trên thế gian chống lại dân sự của Đức Chúa Trời. (2) Cơn thạnh nộ của Ngài đã đến: Đức Chúa Trời đáp trả lại sự giận dữ của các quốc gia với bảy tai nạn sau cùng, được đề cập đến như cơn thạnh nộ của Chúa (xem Khải Huyền 15:1). (3) Thời giờ cho những người đã chết chịu xét đoán được diễn tả trong Khải Huyền 20:11–15. (4) Và để ban thưởng cho các tôi tớ của Đức Chúa Trời được phát họa trong Khải Huyền 21–22. (5) Hủy diệt những kẻ đã phá hoại trái đất: Khải Huyền 19:2 nói rõ rằng thời gian kết thúc Ba-by-lôn đã được xét đoán bởi vì nó đã hủy diệt trái đất. Sự tiêu diệt dành cho Sa-tan, các sứ nó, và hai kẻ đồng minh của nó là màn cuối cùng của vở kịch thiện ác đấu tranh (Khải Huyền 19:11–20:15).
Câu hỏi thảo luận
1. Có những lúc chúng ta nhận thấy rằng việc rao giảng tin lành có thể có phần cay đắng (Khải Huyền 10:10); lời chúng ta nói ra bị từ chối, chế giễu, và bản thân chúng ta cũng bị giễu cợt, chối bỏ. Đôi khi sự giảng dạy cũng có thể khuấy động sự chống đối. Bạn có thể nghĩ đến nhân vật nào trong Kinh Thánh cũng trải qua hoặc đối mặt với những thử thách tương tự, và từ những kinh nghiệm của họ chúng ta có thể học được điều gì cho bản thân mình?
2. Hãy suy gẫm câu nói sau: “Hết lần này đến lần khác tôi đã được cảnh báo về việc đưa ra những mốc thời gian. Sẽ không bao giờ có thêm một mạng lệnh nào nữa dành cho dân sự Đức Chúa Trời mà dựa trên thời gian. Chúng ta không được cho biết về thời gian xác định của sự tuôn đổ ơn Thánh Linh cũng như sự đến của Đấng Cơ-đốc.”—Ellen G. White, Những Thông Điệp Chọn Lọc, quyển 1, trang 188. Bạn thấy được những vấn đề nào trong việc soạn thảo chi tiết các biểu đồ của lời tiên tri về các sự kiện cuối cùng sau năm 1844? Làm cách nào để chúng ta có thể tự bảo vệ mình chống lại những cạm bẫy dường như không thể tránh khỏi do các biểu đồ này đưa đến?