Bài Học 3 · 12 – 18 Tháng 1

Dân sự của Đức Chúa Trời trong các thành phố

Kinh Thánh Nghiên Cứu: Khải Huyền 2:8–11, 3:7–11, 2:12–17, 14:12, 2:18–29, 3:1–6, 3:14–22, Ê-sai 61:10

"Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội Thánh." — Khải Huyền 3:22
Sa-bát Dân Sự Của Đức Chúa Trời Trong Các Thành Phố

Kinh Thánh nghiên cứu

Khải Huyền 2:8–11, 3:7–11, 2:12–17, 14:12, 2:18–29, 3:1–6, 3:14–22, Ê-sai 61:10.

Câu gốc

“Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội Thánh.” (Khải Huyền 3:22).

Từ đảo Bát-mô, thông qua Giăng, Đức Chúa Giê-su gửi một bức thư với bảy sứ điệp cho dân sự Ngài. Trong khi những sứ điệp ấy nguyên bản gửi cho những Hội Thánh ở xứ A-si trong thời của Giăng, thì chúng cũng đươc viết cho tất cả những Cơ-đốc nhân trong suốt thời kỳ lịch sử.

Khi đặt những sứ điệp này để so sánh, chúng ta có thể nhận thấy chúng có cùng một bố cục bao gồm 6 phần. Mỗi phần mở đầu với việc Đức Chúa Giê-su gọi tên từng Hội Thánh. Phần thứ hai bắt đầu với câu: ‘Nầy là lời phán của Đấng…’ trong đó Đức Chúa Giê-su tự giới thiệu mình với mỗi Hội Thánh bằng cách nhắc đến những nét mô tả đặc trưng về Ngài đã được ghi lại trong đoạn 1. Những lời mô tả về Đức Chúa Giê-su phù hợp với những nhu cầu cụ thể của mỗi Hội Thánh. Sau đó, Đức Chúa Giê-su chỉ cho thấy khả năng của Ngài có thể đáp ứng những tình huống và sự khó khăn khác nhau của họ. Và rồi, Đức Chúa Giê-su nhận xét về Hội Thánh và đưa ra lời khuyên cho Hội Thánh làm sao để thoát khỏi tình trạng này. Cuối cùng, mỗi sứ điệp đều kết thúc với một lời kêu gọi hãy nghe lời Đức Thánh Linh và một lời hứa để chiến thắng.

Khi phân tích những sứ điệp này, chúng ta sẽ thấy rằng Đức Chúa Giê-su có thể đáp ứng mọi nhu cầu của mỗi Hội Thánh, bất kể tình trạng của họ ra sao. Vậy nên chắc chắn Ngài cũng có thể đáp ứng nhu cầu của chúng ta ngày nay.

Thứ Nhất Sứ Điệp Của Đấng Cơ-đốc Cho Hội Thánh Si-miệc-nơ Và Hội Thánh Phi-la-đen-phi

Bức thư thứ hai và thứ sáu của Đức Chúa Giê-su ban đầu được gởi cho Hội Thánh ở Si-miệc-nơ và Phi-la-đen-phi. Hai Hội Thánh này không bị Đức Chúa Giê-su quở trách.

Thành phố Si-miệc-nơ là một thành phố xinh đẹp và giàu có, nhưng cũng là nơi hoàng đế ra lệnh cưỡng chế thờ phượng. Hậu quả của việc từ chối tuân theo mệnh lệnh này có thể làm mất địa vị hợp pháp, bị bắt bớ, và thậm chí là tử vì đạo.

Hãy đọc Khải Huyền 2:8–11. Cách mà Đức Chúa Giê-su tự giới thiệu về Ngài có liên quan như thế nào đến tình trạng của Hội Thánh? Tình trạng của Hội Thánh ở đây là gì? Lời cảnh báo nào được Đức Chúa Giê-su ban cho Hội Thánh về những gì sắp xảy ra?

Sứ điệp gửi cho Hội Thánh Si-miệc-nơ cũng áp dụng cho Hội Thánh trong thời kỳ hậu các sứ đồ, khi Cơ-đốc nhân bị bắt bớ dữ dội bởi Đế quốc La Mã. “Mười ngày” được nhắc đến trong Khải Huyền 2:10 tức là mười năm bắt bớ khởi đầu từ năm 303 bởi Hoàng đế Diocletian và tiếp tục cho đến năm 313 khi Constantine Đại đế ban hành Sắc lệnh Milan nhằm ban cho những Cơ-đốc nhân quyền tự do tôn giáo.

Hội Thánh thứ sáu được Đức Chúa Giê-su giới thiệu nằm ở thành phố Phi-la-đen-phi (nghĩa là “tình huynh đệ”). Thành phố nằm trên con đường thương mại nối tất cả các phần phía đông với các phần phía tây trong khu vực. Nơi này là trung tâm quảng bá ngôn ngữ và văn hóa Hy Lạp trong vùng Ly-đi và Phi-ri-si

Hãy đọc Khải Huyền 3:7–13. Cách mà Đức Chúa Giê-su tự giới thiệu Ngài trong bức thư này liên quan như thế nào đến tình trạng của Hội Thánh? Lời phán “Ngươi có ít năng lực” (Khải Huyền 3:8) của Đức Chúa Giê-su nói gì về tình trạng của Hội Thánh? Lời hứa nào được Đức Chúa Giê-su hứa ban cho Hội Thánh?

Bức thư gửi cho Hội Thánh này được áp dụng cho sự phục hưng to lớn của Cải Chánh giáo trong suốt thế kỷ thứ mười tám và mười chín. Quả thật, họ đã chiếu ra ánh sáng mà họ đã được ban cho và tìm cách để giữ “đạo Ta” (Khải Huyền 3:8). Hội Thánh của thời kỳ này được thúc đẩy bởi một niềm mong ước chân thành để mang phúc âm đến cho cả thế gian. Kết quả là có một sự bùng nổ lớn về phúc âm mà người ta đã chẳng hề trải nghiệm kể từ sau lễ Ngũ Tuần.

Thứ Hai Sứ Điệp Của Đấng Cơ-đốc Cho Hội Thánh Bẹt-găm

Pergamos, hay còn gọi là Bẹt-găm, là trung tâm của việc thờ cúng các thần ngoại, bao gồm cả việc thờ thần Asclepius, vị thần chữa lành của Hy Lạp, người được gọi là “Đấng Cứu Chuộc” và được tượng trưng bởi một con rắn. Người ta từ khắp nơi đổ xô đến đền thờ Asclepius để được chữa lành. Thành phố Bẹt-găm có vai trò dẫn dắt trong việc phổ biến việc thờ cúng các thần, trong khi đó lại là một sự cưỡng ép ở thành phố Si-miệc-nơ. Không còn nghi ngờ gì khi Kinh Thánh nói rằng những Cơ-đốc nhân ở thành phố Bẹt-găm đang sống trong một thành phố nơi “Sa-tan ở” và ngai của nó ngự trị tại đó.

Hãy đọc Khải Huyền 2:12–15. Đức Chúa Giê-su tự giới thiệu về Ngài như thế nào đối với Hội Thánh này? Ngài đánh giá tình trạng tâm linh của nó ra sao?

Bị bao quanh bởi việc thờ cúng tà giáo và những ngôi đền đồ sộ, những Cơ-đốc nhân ở thành phố Bẹt-găm phải đối diện với những cám dỗ cả trong lẫn ngoài Hội Thánh. Trong khi hầu hết trong số họ vẫn giữ được sự trung tín, thì một số người khác, là những kẻ theo đạo Ni-cô-la, lại ủng hộ việc thỏa hiệp với tà giáo để tránh bị bắt bớ. Họ liên kết với một nhóm dị giáo khác, tên là Ba-la-am, người đã dụ dỗ dân Y-sơ-ra-ên trên đường đến Vùng Đất Hứa (Dân-số Ký 31:16). Hai nhóm này ủng hộ việc tuân thủ những lễ nghi của tà giáo để tránh sự bất lợi khi bị bắt bớ.

Hãy đọc Khải Huyền 2:16, 17. Đức Chúa Giê-su thúc giục Hội Thánh làm gì để giúp cải thiện tình trạng tâm linh của họ? Đức Chúa Giê-su đã ban cho họ lời hứa nào?

Sứ điệp dành cho Hội Thánh Bẹt-găm cũng áp dụng cho tình trạng của Hội Thánh vào khoảng thời gian sau năm 313. Mặc dù Cơ-đốc giáo đã chiến thắng trong cuộc đấu tranh với ngoại giáo, nhưng nhiều Hội Thánh đã thỏa hiệp. Dẫu cho một số người vẫn đứng vững và trung tín với phúc âm, thế kỷ thứ tư và thứ năm đã chứng kiến nhiều sự sa sút tâm linh và bội đạo, trong khi Hội Thánh đang vật lộn—và rõ ràng là đã sa ngã—với những cám dỗ để thỏa hiệp.

Việc không từ chối “đạo Ta” (Khải Huyền 2:13, cũng xem trong Khải Huyền 14:12) có nghĩa là gì? Điều này cho chúng ta biết gì về nguồn gốc của đức tin và nhiệm vụ thiêng liêng của chúng ta khi phải giữ chặt lấy “đạo” ấy, cho dù có bị đe dọa đến tính mạng, hoặc thậm chí còn nguy hiểm hơn, sự đe dọa phải thỏa hiệp?

Thứ Ba Sứ Điệp Của Đấng Cơ-đốc Cho Hội Thánh Thi-a-ti-rơ

So với những thành phố khác, thành phố Thi-a-ti-rơ không có những điểm nổi bật về chính trị hoặc văn hóa trong lịch sử cổ đại mà ngày nay chúng ta biết đến. Nó nổi tiếng về thương mại nhiều hơn. Để bắt đầu kinh doanh hoặc kiếm việc làm, người ta phải thuộc về những hiệp hội thương mại. Những thành viên phải tham gia vào những lễ hội nghề nghiệp, và thực hiện những lễ nghi trong đền thờ, và thường bao gồm những hoạt động trái luân lý. Những ai từ chối sẽ bị đuổi ra khỏi hội và những bảo trợ về kinh tế. Các Cơ-đốc nhân trong thành phố này phải lựa chọn giữa việc thỏa hiệp và gìn giữ sự trung tín đối với đức tin.

Hãy đọc Khải Huyền 2:18–29. Đức Chúa Giê-su tự giới thiệu về Ngài như thế nào với những người này (cũng xem trong Đa-ni-ên 10:6)? Đức Chúa Giê-su ngợi khen những phẩm chất nào của Hội Thánh, và Hội Thánh đang gặp phải những nan đề nào?

Cũng giống như Hội Thánh Bẹt-găm, mối đe dọa của Hội Thánh Thi-ra-ti-ơ là sự thỏa hiệp với môi trường ngoại giáo. Cái tên “Giê-sa-bên” ám chỉ đến vợ của vua A-háp, người đã dẫn dắt dân Y-sơ-ra-ên đến chỗ bội đạo (I Các-vua 16:31–33). Đức Chúa Giê-su khắc họa bà như một người tà dâm về thuộc linh. Những ai làm theo những sự dạy dỗ của bà nghĩa là phạm tội tà dâm về mặt thuộc linh với bà.

Tình trạng được mô tả trong Hội Thánh Thi-a-ri-ơ áp dụng cho tình trạng của Hội Thánh trong khoảng thời gian dài suốt thời kỳ Trung Cổ. Mối hiểm họa đối với Hội Thánh không đến từ bên ngoài, mà lại từ những người tuyên xưng nhận lãnh uy quyền từ Đức Chúa Trời. Trong suốt thời kỳ ấy, truyền thống thay thế Kinh Thánh, một thầy tế lễ bởi con người và những vật thánh lại thay thế cho chức vụ tế lễ của Đấng Cơ-đốc, và việc làm lại được xem như là phương thức của sự cứu rỗi. Những ai không làm theo những ảnh hưởng thối nát của Hội Thánh thì sẽ bị bắt bớ, thậm chí là bị giết chết. Trong nhiều thế kỷ (xem Đa-ni-ên 7:25) phúc âm đã biến mất hoàn toàn.

Hãy nghĩ đến những lời trong Khải Huyền 2:25: “‘Khá bền giữ những điều mình đã có, cho tới chừng Ta đến’”. Những lời này có ý nghĩa như thế nào đối với chúng ta, về cả tập thể lẫn cá nhân? Chúng ta nhận được gì từ Đức Chúa Giê-su để rồi phải bền giữ những điều ấy?

Thứ Tư Sứ Điệp Của Đấng Cơ-đốc Gửi Cho Hội Thánh Sạt-đe

Sạt-đe có một lịch sử huy hoàng. Nhưng trong thời kỳ La Mã, thành phố này đã mất đi thanh thế của nó. Trong lúc thành phố vẫn đang tận hưởng sự giàu có, vinh quang của nó gắn chặt với lịch sử đã qua chứ không phải thực tế hiện tại. Thành phố được xây trên đỉnh một ngọn đồi dốc, và do vậy, nó gần như không thể xâm nhập được. Cư dân cảm thấy an toàn đến nỗi những bức tường thành không được canh gác cẩn thận.

Hãy đọc Khải Huyền 3:1–6 cùng với Ma-thi-ơ 24:42–44 và I Tê-sa-lô-ni-ca 5:1–8. Ba điều mà Đức Chúa Giê-su thúc giục các Cơ-đốc nhân ở Hội Thánh Sạt-đe phải làm để sửa lại tình trạng tâm linh của họ là gì? Lời cảnh báo phải “tỉnh thức” của Đức Chúa Trời phù hợp với bối cảnh lịch sử của thành phố như thế nào?

Trong khi Đức Chúa Giê-su công nhận một vài Cơ-đốc nhân trong Hội Thánh Sạt-đe vẫn còn trung tín, thì hầu hết trong số họ đã chết về mặt thuộc linh. Hội Thánh không bị buộc tội vì những tội lỗi công khai hoặc bội đạo (như các tín hữu ở Hội Thánh Bẹt-găm và Thi-ra-ti-rơ), nhưng bởi tình trạng lãnh đạm thuộc linh.

Sứ điệp cho Hội Thánh Sạt-đe thích hợp để áp dụng cho tình trạng thuộc linh của những người Cải Chánh giáo trong giai đoạn sau Cải Chánh, khi Hội Thánh dần dần suy thoái đi theo chủ nghĩa hình thức vô hồn và tình trạng tự mãn về mặt thuộc linh. Dưới ảnh hưởng của xu hướng đang dâng cao của chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa thế tục, trọng tâm dành cho ân điển cứu rỗi của phúc âm và lời hứa nguyện dành cho Đấng Cơ-đốc bị suy tàn, nhường chỗ cho chủ nghĩa duy lý và những cuộc tranh luận triết lý vô vị. Mặc dù Hội Thánh trong thời kỳ này trông có vẻ sống động, nhưng thật ra đang trong tình trạng chết mất về thuộc linh.

Sứ điệp cũng gửi đến cho tất cả các thế hệ Cơ-đốc nhân. Có những Cơ-đốc nhân luôn nói bằng những ngôn từ vẻ vang về sự trung tín của họ đối với Đấng Cơ-đốc trong quá khứ. Không may thay, họ lại chẳng có gì nhiều để chia sẻ về những trải nghiệm hiện tại của bản thân đối với Đấng Cơ-đốc. Tôn giáo của họ chỉ có trên danh nghĩa, họ thiếu đức tin thật sự nơi tấm lòng và sự hứa nguyện chân thành đối với phúc âm.

Hãy giữ vững lẽ thật vĩ đại về sự cứu rỗi chỉ bởi đức tin trong Đấng Cơ-đốc, bằng cách nào chúng ta nói về công việc của chúng ta “bất toàn” trước Chúa? Điều đó có nghĩa là gì, và làm sao chúng ta có thể làm cho công việc mình “trọn vẹn” trước Ngài? Xem Ma-thi-ơ 5:44–48.

Thứ Năm Những Cơ-đốc Nhân Ở Hội Thánh Lao-đi-xê

Hội Thánh cuối cùng được Đức Chúa Giê-su giới thiệu nằm ở thành phố Lao-đi-xê, một thành phố giàu có nằm trên con đường buôn bán chính. Nó nổi tiếng về ngành công nghiệp sản xuất len, ngân hàng (dự trữ rất nhiều vàng), và một trường y khoa sản xuất thuốc xoa mắt. Sự giàu có làm cho những cư dân trở nên tự mãn. Khoảng năm 60, một trận động đất đã phá hủy thành phố, các cư dân từ chối sự giúp đỡ từ Rô-ma, nói rằng họ đã có đủ mọi thứ để làm việc. Không có đủ nước cho thành phố, nên người ta làm một đường ống dẫn nước để lấy nước từ những suối nước nóng ở Hierapolis. Suối nước nóng này ở xa thành phố Lao-đi-xê, nên nước chỉ còn hơi ấm khi đến nơi.

Hãy đọc Khải Huyền 3:14–17 cùng với Ô-sê 12:8. Hãy vạch ra những nét giống nhau giữa đặc tính lịch sử của thành phố và sự đánh giá của Đấng Cơ-đốc dành cho Hội Thánh này. Tinh thần tự mãn của thành phố đã ảnh hưởng đến tư tưởng của những Cơ-đốc nhân trong Hội Thánh Lao-đi-xê như thế nào?

Đức Chúa Giê-su không quở trách những Cơ-đốc nhân ở Hội Thánh Lao-đi-xê vì những tội trọng, dị giáo hoặc bội đạo. Nan đề của họ là sự tự mãn dẫn đến việc thờ ơ về thuộc linh. Cũng giống như dòng nước khi đến thành phố, nó không lạnh hoặc nóng, mà là âm ấm (hâm hẩm). Họ nói rằng mình giàu và không cần chi nữa, nhưng thật ra họ đang nghèo ngặt, lõa lồ, và đui mù về tình trạng thuộc linh của mình.

Hội Thánh ở thành phố Lao-đi-xê thích hợp để đại diện cho tình trạng tâm linh của Hội Thánh trong thời kỳ kết thúc của lịch sử thế gian này. Điều này được thể hiện bởi những liên kết mạnh mẽ với Khải Huyền 16:15, liên quan đến việc chuẩn bị cho những khủng hoảng cuối cùng, cho thấy Hội Thánh Lao-đi-xê là hình mẫu của Hội Thánh trong thời kỳ cuối cùng. Hội Thánh cuối cùng sẽ tồn tại trong những lúc biến đổi to lớn về chính trị cũng như tôn giáo, và sẽ phải đối mặt với những khó khăn mà không một thế hệ đi trước nào gặp phải. Nhưng Hội Thánh này tự mãn và đấu tranh bởi sự tin cậy vào bản thân. Lời cảnh báo của Đấng Cơ-đốc dành cho Hội Thánh có một ẩn ý có ảnh hưởng sâu rộng cho những ai ở trong Hội Thánh cuối cùng của Ngài.

Đức Chúa Giê-su đảm bảo với các cư dân ở thành phố Lao-đi-xê rằng Ngài yêu họ, và Ngài sẽ không từ bỏ họ (Khải Huyền 3:19). Đức Chúa Giê-su kết thúc lời kêu gọi bằng cách khắc họa bản thân như người yêu trong Nhã-ca 5:2–6, đứng trước cửa, gõ cửa và nài xin được vào trong (Khải Huyền 3:20). Những ai mở cửa và để Ngài vào thì được hứa sẽ cùng ăn bữa tối với Ngài. Lời kêu gọi này không nên bị bỏ lỡ.

Hãy đọc Khải Huyền 3:18–22. Đức Chúa Giê-su ban cho Hội Thánh Lao-đi-xê những lời khuyên nào? Vàng, áo trắng và thuốc xức mắt tượng trưng cho cái gì? (xem 1 Phi-e-rơ. 1:7; Ê-sai 61:10; Ê-phê-sô 1:17, 18)? Tất cả những thứ này nói gì với chúng ta, những người Cơ-đốc Phục Lâm nhận thấy bản thân mình đang ở trong Hội Thánh Lao-đi-xê?

Thứ Sáu Nghiên Cứu Bổ Túc

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC

Đọc Ellen G. White, chương “Khải Huyền” trang 578–592, trong sách Công Vụ Các Sứ Đồ.

Bảy sứ điệp dành cho những Hội Thánh chỉ ra sự sa sút thuộc linh của bảy Hội Thánh. Hội Thánh ở thành phố Ê-phê-sô vẫn trung tín, dù cho đã mất đi tình yêu thuở ban đầu. Những Hội Thánh ở thành phố Si-miệc-nơ, Bẹt-găm, và Phi-la-đen-phi vẫn trung tín, chỉ một số ít tín đồ ương ngạnh là không trung tín. Hội Thánh Thi-a-ti-rơ là một Hội Thánh chia rẽ thành hai nhóm trong sự trung tín với Đấng Cơ-đốc. Hội Thánh ở thành phố Sạt-đe nằm trong tình trạng rất nghiêm trọng. Đa số các tín đồ của Hội Thánh này không còn hòa hợp với phúc âm, trong khi chỉ một số ít vẫn còn giữ lại sự trung tín. Hội Thánh ở thành phố Lao-đi-xê nằm trong trình trạng chẳng có gì tốt để nói về bản thân mình.

Kết thúc mỗi sứ điệp, Đức Chúa Giê-su đưa ra lời hứa cho những ai chấp nhận lời khuyên của Ngài. Tuy nhiên, chúng ta có thể quan sát thấy rằng cùng với sự sa sút thuộc linh rõ ràng trong mỗi Hội Thánh, thì có một sự gia tăng tương xứng trong lời hứa được ban ra. Bắt đầu từ Hội Thánh Ê-phê-sô, nơi chỉ nhận được một lời hứa, và mỗi Hội Thánh có xu hướng đi xuống về mặt thuộc linh, mỗi Hội Thánh sau lại nhận lãnh nhiều lời hứa hơn Hội Thánh trước. Cuối cùng, Hội Thánh Lao-di-xê chỉ nhận được một lời hứa, nhưng đó lại là lời hứa vĩ đại nhất: ngồi với Đức Chúa Giê-su trên ngôi Ngài. (Khải Huyền 3:21).

Câu hỏi thảo luận

1. Sự gia tăng trong lời hứa, cùng với sự suy giảm về thuộc linh trong các Hội Thánh, phản ánh như thế nào về tình trạng tội lỗi gia tăng nhưng ân điển lại thậm chí còn đầy dẫy hơn (Rô-ma 5:20)? Hãy nghĩ về điều này trong sự hiểu biết về lời phát biểu sau, “Mặc dù Hội Thánh yếu ớt và nhiều khuyết điểm, nhưng lại là đối tượng duy nhất ở trên đất được Đức Chúa Giê-su ban cho sự quan tâm nhiều nhất. Ngài vẫn luôn theo dõi Hội Thánh với sự quan ngại, và thêm sức cho Hội Thánh qua Đức Thánh Linh”—Ellen G. White, Những Thông Điệp Chọn Lọc, quyển 2, trang 396.

2. Thường thì các Cơ-đốc nhân nói rằng thật khó để trở thành Cơ-đốc nhân trong những thành phố thủ đô, thương mại và công nghiệp. Chúng ta có thể học được gì từ sự thật rằng trong những thành phố thịnh vượng của xứ A-si vẫn có những Cơ-đốc nhân trung tín với phúc âm, và kiên định giữa vòng áp lực của môi trường tà giáo? Hãy nghĩ đến những Cơ-đốc nhân ở xứ A-si đó trong sự hiểu biết về lời cầu nguyện của Đức Chúa Giê-su trong Giăng 17:15-19. Làm sao khái niệm “ở trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian” có thể áp dụng cho Cơ-đốc nhân ngày nay, đặc biệt là cho những ai sống trong những thành phố lớn?

3. Là những người Cơ-đốc Phục Lâm, làm sao chúng ta lưu ý nhiều hơn đến những lời được ban cho chúng ta trong sứ điệp dành cho Hội Thánh Lao-đi-xê?