Bài Học 2 · 5 – 11 Tháng 1

Giữa chân đèn

Kinh Thánh Nghiên Cứu: Khải. 1:9-18, 20; 2:1-7; Công-vụ 7:54-60; Ma-thi-ơ 12:8; Xuất. 20:11; Đa-ni-ên 10:5, 6

"Kẻ nào thắng, Ta sẽ cho ngồi với Ta trên ngôi Ta, như chính Ta đã thắng và ngồi với Cha Ta trên ngôi Ngài" — Khải Huyền 3:21
Sa-bát Giữa Chân Đèn

Kinh Thánh nghiên cứu

Khải. 1:9-18, 20; 2:1-7; Công-vụ 7:54-60; Ma-thi-ơ 12:8; Xuất. 20:11; Đa-ni-ên 10:5, 6.

Câu gốc

“Kẻ nào thắng, Ta sẽ cho ngồi với Ta trên ngôi Ta, như chính Ta đã thắng và ngồi với Cha Ta trên ngôi Ngài” (Khải Huyền 3:21).

Thi-Thiên 73 diễn tả sự bối rối của tác giả Thi-thiên khi người nhìn xem sự tự cao, khoác loác của những kẻ chẳng tin. Họ sống trong sự dư dật và thoải mái, trái ngược hẳn với những sự khổ đau những người công bình phải chịu. Sự không công bằng này làm tác giả Thi-thiên thấy rất phiền muộn (Thi Thiên 73:2-16), và trong sự bối rối của mình, người đã đi đến đền thờ (Thi-Thiên 73:16, 17). Tại nơi đó, trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời, người đã có được sự hiểu biết sâu sắc hơn về vấn đề này.

Nhiều thế kỷ sau, một môn đồ lớn tuổi vì sự làm chứng trung tín của ông đã bị cầm tù ngoài một hòn đảo. Trong lúc khốn cùng ấy, ông lại nhận được tin rằng các Hội Thánh trước đây ông chăm sóc đang gặp nhiều khó khăn. Dù vậy, ngay chính thời điểm quan trọng đó, ông đã trải qua một sự hiện thấy trong đó ông nhìn thấy Đấng Cơ-đốc đã phục sinh đang ở trong đền thánh ở trên trời. Tại đây, cũng giống như với tác giả Thi-thiên, Chúa đã tỏ cho Giăng thấy một vài sự mầu nhiệm của cuộc sống và những sự tranh đấu cuộc sống đem lại cho mỗi người. Quang cảnh đền thờ làm cho Giăng cảm nhận được sự chắc chắn về sự hiện diện và chăm sóc của Đấng Cơ-đốc-một sự chắc chắn mà Giăng sau đó đã truyền lại cho các Hội Thánh những thế hệ Cơ-đốc nhân kế tiếp xuyên suốt các thế kỷ cho đến ngày cuối cùng của lịch sự thế giới nầy.

Thứ Nhất Tại Đảo Bát-mô

Đọc Khải Huyền 1:9. Giăng, nhà khải thị, đã nói gì với chúng ta về những hoàn cảnh mà ông đang gánh chịu khi ông nhận được các sự hiện thấy ghi lại trong Khải Huyền?

Bát-mô là một hòn đảo trơ trọi đầy sỏi đá ở vùng biển; nó dài 10 dặm và bề ngang rộng nhất là 6 dặm. Người La Mã sử dụng nó cùng với những hòn đảo xung quanh để làm một khu nhà tù dành cho những tội phạm chính trị bị lưu đày. Những tác giả Cơ-đốc sống gần thời điểm viết sách Khải Huyền đều nhất trí cho rằng chính quyền La Mã đã lưu đày Giăng ra đảo Bát-mô vì sự trung tín của ông đối với phúc âm. Vị sứ đồ cao tuổi chắc chắc đã phải chịu đựng tất cả những gian khổ trong tù của người La Mã ở đảo Bát-mô. Chắc chắn ông đã bị đối xử như một tên tội phạm, bị xiềng xích, thiếu ăn, và bị buộc phải làm việc nặng nhọc dưới làn roi của những tên lính canh La Mã tàn nhẫn.

“Bát-mô, một hòn đảo trơ trọi đầy sỏi đá trong vùng biển Aegean, được chính quyền La Mã lựa chọn để trở thành một nơi để lưu đày những tên tội phạm; nhưng đối với tôi tớ Đức Chúa Trời, nơi cư trú u ám này lại trở thành cánh cửa cho thiên đàng. Tại đây, xa cách khỏi cảnh bận rộn của cuộc sống và những việc làm tích cực trong quá khứ, giờ đây ông được bầu bạn bởi Đức Chúa Trời, Đấng Cơ-đốc và các thiên sứ nơi thiên đàng, và từ họ, ông nhận được sự hướng dẫn dành cho Hội Thánh ở tất cả các thời điểm trong tương lai.”—Ellen G. White, sách Công Vụ Các Sứ Đồ, trang 570, 571.

Những nhân vật Kinh Thánh nào khác phải chịu đựng gian khổ, mặc dù (hoặc bởi vì) họ trung tín với Đức Chúa Trời? Xem Đa-ni-ên 3:16–23, Công-vụ Các Sứ-đồ 7:54–60.

Những người theo Đấng Chirst đừng bao giờ quên rằng bất cứ khi nào họ thấy mình ở trong hoàn cảnh tương tự như Giăng, thì họ cũng không bị bỏ một mình. Chính Đức Chúa Giê-su, Đấng đã đến với Giăng với những lời hy vọng và khích lệ trong lúc ông chịu gian khổ ở đảo Bát-mô, cũng hiện diện với dân sự Ngài để duy trì và hỗ trợ họ trong những hoàn cảnh khó khăn.

Làm sao chúng ta có thể hiểu được sự khác biệt giữa việc chịu đựng gian khổ vì Đấng Cơ-đốc hay chịu đựng gian khổ vì những điều khác, bao gồm vì những sự lựa chọn của chúng ta, hoặc vì những thứ dường như chẳng có ích lợi cho bất cứ ai? Làm sao để chúng ta học được cách tin tưởng nơi Đức Chúa Trời trong mọi hoàn cảnh?

Thứ Hai Vào Ngày Của Chúa

Đọc Khải. 1:10, Xuất 31:13, Ê-sai 58:13, và Ma-thi-ơ 12:8. Theo những câu Kinh Thánh này, ngày nào được Kinh Thánh nói rõ là ngày của Đức Chúa Trời? Ngày này có ý nghĩa như thế nào đối với Giăng trong cơn gian khổ của ông?

“Chúa hiện ra trong vinh hiển cho vị sứ đồ bị lưu đày vào ngày Sa-bát. Ngày Sa-bát là ngày được Giăng thành kính tuân giữ khi ông ở trên đảo Bát-mô cũng như khi ông rao giảng ở những thị trấn và thành phố ở xứ Giu-đa. Ông nhận lãnh những lời hứa quý báu được ban cho liên quan đến ngày này.”—Ellen G. White, Công Vụ của các Sứ Đồ, trang 581.

Chính câu Kinh Thánh đã nói rõ rằng sứ đồ Giăng nhận được sự hiện thấy trong ngày thứ Bảy Sa-bát. Mặc dù đang nhìn thấy những sự kiện trong tương lai, thậm chí là sự đến lần thứ hai của Đấng Cơ-đốc (so sánh với Khải Huyền 1:7), cũng được gọi là “Ngày của CHÚA” (Ê-sai 13:6–13; 2 Phi-e-rơ 3:10), nhưng Giăng đang nói về thời điểm mà chính ông có được sự hiện thấy về những sự kiện trong tương lai ấy, và nó xảy ra vào ngày Sa-bát, “ngày của Chúa”.

Trong cơn gian lao, không còn nghi ngờ gì nữa, ngày Sa-bát đầy tràn sự hiện thấy đã cho ông nếm trước một cuộc đời không còn đau khổ, những điều mà ông và các Cơ-đốc nhân trung tín trong suốt mọi thời đại sẽ trải qua sau khi Đức Chúa Giê-su đến lần thứ hai. Quả thật, trong tư tưởng của người Do Thái, ngày Sa-bát được xem là một phần nhỏ của olam haba, nghĩa là “thế giới sắp đến”.

“Ngày Sa-bát mà Đức Chúa Trời đã thiết lập trong vườn Ê-đen… rất quý giá đối với Giăng trên hòn đảo cô đơn…

“Thật là một ngày Sa-bát phước hạnh cho người tù cô đơn, là một ngày quý giá trong mắt Đấng Cơ-đốc, nhưng giờ đây nó trở nên cao quý hơn bao giờ hết! Chưa bao giờ ông biết nhiều về Đức Chúa Giê-su đến vậy. Chưa bao giờ ông nghe đến lẽ thật cao quý đến thế”—Ellen G. White, Sách Giải Nghĩa Kinh Thánh, quyển 7, trang 955.

Hãy so sánh hai phiên bản của Mười điều răn trong Xuất Ê-díp-tô Ký 20:11 và Phục-truyền 5:15. Những câu Kinh Thánh này chỉ ra rằng ngày thứ bảy Sa-bát là một đài tưởng niệm cho cả sự tạo hóa và cứu chuộc, nhắc nhở chúng ta rằng chính Đức Chúa Trời đã tạo nên chúng ta và giải cứu chúng ta. Làm sao để vào mỗi ngày Sa-bát, chúng ta có thể ghi nhớ rằng chính Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa và là Đấng Cứu Chuộc của chúng ta?

Thứ Ba Gặp Đấng Cơ-đốc Tại Đảo Bát-mô

Đọc Khải Huyền 1:12–18. Hãy so sánh mô tả của Giăng về Đấng Cơ-đốc với Đấng Thánh được nhắc đến trong Đa-ni-ên 10:5, 6. Đức Chúa Giê-su xuất hiện trong sự hiện thấy như thế nào? Ngài đang làm gì?

Giăng nhìn thấy Đức Chúa Giê-su mặc áo tế lễ đi lại giữa những chân đèn. Sự hiện thấy phản ánh đền thờ của dân Y-sơ-ra-ên ngày xưa với những chân đèn cung cấp ánh sáng (xem 1 Các Vua 7:49).

Hình ảnh Đức Chúa Giê-su đi lại giữa những ngọn đèn chỉ đến lời hứa của Đức Chúa Trời dành cho dân Y-sơ-ra-ên ngày xưa rằng Ngài sẽ đi giữa họ, làm Đức Chúa Trời của họ (Lê-vi Ký 26:12). Trong Khải Huyền, những chân đèn đại diện cho bảy Hội Thánh ở xứ A-si nhận được sứ điệp trong sách Khải Huyền (Khải Huyền 1:20). Khi đi lại giữa các chân đèn, Đức Chúa Giê-su làm trọn lời hứa giao ước được ban cho dân Y-sơ-ra-ên: Chúa sẽ tiếp tục ở với dân sự Ngài cho đến khi Ngài mang họ đến với ngôi nhà đời đời.

Hơn thế nữa, hình ảnh Đức Chúa Giê-su là thầy tế lễ đang đi giữa các chân đèn được vẽ lại từ nghi thức trong đền thánh Giê-ru-sa-lem. Nhiệm vụ hằng ngày của một thầy tế lễ là phải giữ cho những ngọn đèn trong Nơi Thánh cháy sáng. Người phải chăm sóc và đổ thêm dầu vào những ngọn đèn đang lụi tàn, thay thế tim đèn của những ngọn đèn đã cháy hết, đổ thêm dầu, và châm lửa lại. Bởi phương cách này, thầy tế lễ trở nên quen thuộc với mỗi ngọn đèn. Tương tự như vậy, Đức Chúa Giê-su cũng biết rõ những nhu cầu và hoàn cảnh, không chỉ của những Hội Thánh này, mà là của tất cả những Hội Thánh Ngài.

Đọc Khải Huyền 2:2, 9, 13, 19; 3:1, 8, 15. Lời phán “Ta biết” nói gì về sự quen thuộc của Đức Chúa Giê-su với những tình huống và nhu cầu của dân sự Chúa trong những Hội Thánh ấy?

Đức Chúa Giê-su xác nhận Ngài là Đức Chúa Trời, là Đấng “đầu tiên và cuối cùng” (xem Ê-sai 44:6, 48:12). Từ Hy Lạp eschatos nghĩa là “cuối cùng”, xuất phát từ chữ eschatology (“thời kỳ cuối cùng”). Điều này cho thấy trọng tâm của thời kỳ cuối cùng là vào Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc, Đấng đã có lời cuối cùng tại những sự kiện sau rốt. Ngài là “Đấng Sống” và đang cầm giữ “chìa khóa của sự chết và âm phủ” (Khải Huyền 1:18). Chìa khóa là một biểu tượng cho quyền hạn và thẩm quyền. Những kẻ trung tín theo Chúa không cần phải sợ hãi, bởi ngay cả cái chết cũng ở dưới sự cai quản của Ngài. Và ngay cả với cái chết đã thế, thì sự sống còn phụ thuộc vào Chúa đến dường nào? Xem Ma-thi-ơ 22:32.

Thứ Tư Sứ Điệp Của Đấng Cơ-đốc Dành Cho Bây Giờ Và Mai Sau

Đọc Khải Huyền 1:11, 19, 20. Đức Chúa Giê-su cũng ban cho Giăng sứ điệp riêng biệt dành cho những Hội Thánh ở xứ A-si. Thật ra trong xứ có hơn bảy Hội Thánh, điều này nói gì về ý nghĩa biểu tượng của những sứ điệp này dành cho Cơ-đốc nhân nói chung?

Những sứ điệp mà Đức Chúa Giê-su ủy thác cho Giăng để gửi cho bảy Hội Thánh được ghi lại trong sách Khải Huyền đoạn 2 và 3. Ý nghĩa của chúng được áp dụng trong ba mức độ:

Mức độ lịch sử. Những sứ điệp này nguyên bản được gửi cho bảy Hội Thánh ở những thành phố giàu có ở xứ A-si vào thế kỷ thứ nhất. Những Cơ-đốc nhân ở đây phải đối mặt với những nan đề nghiêm trọng. Nhiều thành phố tổ chức thờ phượng hoàng đế trong những ngôi đền của họ để chứng tỏ lòng trung thành với Đế quốc La Mã. Thờ phượng hoàng đế trở thành bắt buộc. Những công dân được trông đợi sẽ tham gia vào các sự kiện chung và lễ hội thờ phượng tà thần. Bởi vì nhiều Cơ-đốc nhân từ chối dự phần vào những hành động này, họ phải đối mặt với ngục tù, thậm chí là tử vì đạo. Được chính Đấng Cơ-đốc ủy thác, Giăng viết bảy bức thư để giúp họ đối mặt với những khó khăn này.

Về mặt tiên tri. Sách Khải Huyền là một sách tiên tri, nhưng chỉ có bảy Hội Thánh được chọn để nhận những sứ điệp này, điều này cho thấy đặc tính tiên tri trong những sứ điệp. Những tình trạng thuộc linh của bảy Hội Thánh trùng khớp với những tình trạng thuộc linh của Hội Thánh Đức Chúa Trời trong những giai đoạn lịch sử khác nhau. Bảy sứ điệp nhằm mang đến một cái nhìn chung bao quát—từ quan điểm của thiên đàng—về tình trạng thuộc linh của Cơ-đốc giáo từ thế kỷ thứ nhất cho đến cuối cùng.

Về mặt phổ quát. Mặc dù ban đầu là được gửi cho những Hội Thánh ở xứ A-si, nhưng bảy sứ điệp cũng chứa những bài học có thể áp dụng cho những Cơ-đốc nhân khác nhau ở mọi thời đại. Chúng được gửi chung với nhau trong một bức thư, và phải được đọc trong tất cả các Hội Thánh (Khải Huyền 1:11). Như vậy, chúng đại diện cho những Cơ-đốc nhân ở những nơi và thời điểm khác nhau. Ví dụ, trong khi đặc điểm chung của Cơ-đốc nhân ngày nay là giống Hội Thánh Lao-đi-xê, thì có một vài Cơ-đốc nhân khác có thể nhận dạng bản thân với những đặc điểm giống những Hội Thánh khác. Tin tốt lành là bất kể tình trạng tâm linh của chúng ta ra sao, Đức Chúa Trời luôn “gặp những người sa ngã tại nơi họ đang ở” –Ellen G. White, Những Thông Điệp Chọn Lọc, q. 1, tr.22.

Hãy tưởng tượng nếu Chúa phải viết một bức thư theo mẫu được viết cho bảy Hội Thánh, gửi cho Hội Thánh địa phương của bạn về những khó khăn mà nơi này đang gặp phải, cũng như về tình trạng thuộc linh của Hội Thánh bạn. Bức thư đó sẽ nói về điều gì?

Thứ Năm Thông Điệp Cho Hội Thánh Tại Ê-phê-sô

Ê-phê-sô là thủ đô và là thành phố lớn nhất của La Mã trong xứ A-si, nó nằm trên trục giao thương chính. Là cảng biển chính của vùng Châu Á, nó là một trung tâm thương mại và tôn giáo rất quan trọng. Cả thành phố ngập tràn những tòa nhà công cộng như đền thờ, nhà hát, phòng tập thể dục, nhà tắm công cộng và nhà chứa. Nó cũng nổi tiếng với nghệ thuật và những trò ma thuật. Thành phố này cũng khét tiếng vì sự đồi bại và mê tín dị đoan. Nhưng Hội Thánh Cơ-đốc giáo có ảnh hưởng nhất xứ này lại nằm ở thành phố Ê-phê-sô.

Đọc Khải Huyền 2:1–4 cùng với Giê-rê-mi 2:2. Đức Chúa Giê-su tự giới thiệu mình với Hội Thánh như thế nào? Đức Chúa Giê-su đã ngợi khen Hội Thánh về những phẩm chất vĩ đại nào? Ngài cũng bày tỏ nỗi băn khoăn về những gì?

Trong thuở ban đầu, những người Ê-phê-sô nổi tiếng về sự trung tín và tình yêu thương của họ (Ê-phê-sô 1:15). Mặc dù bị áp lực cả bên trong lẫn bên ngoài Hội Thánh, những Cơ-đốc nhân ở Ê-phê-sô vẫn vững vàng và trung tín. Họ chăm chỉ và có nền tảng giáo lý vững vàng; quả thật, họ không thể dung thứ cho những giáo sư giả giữa vòng dân sự mình. Tuy nhiên, khi những tín hữu nhấn mạnh về giáo lý và cách ứng xử chính thống, tình yêu của họ dành cho Đấng Cơ-đốc và những anh em đồng công bắt đầu lụi tàn. Mặc dù người ta vẫn vững vàng và trung tín, nhưng sự vắng mặt của tình yêu thương làm cho công việc của họ trở nên lạnh lùng và cứng nhắc.

Đọc Khải Huyền 2:5–7. Ba điều gì được Đức Chúa Giê-su thúc giục Hội Thánh phải thực hiện để phục hồi lại lòng kính mến và những công việc ban đầu của họ đối với Đấng Cơ-đốc và cả những anh em đồng công của mình? Ba điều này liên quan với nhau như thế nào về mặt thứ tự?

Về mặt tiên tri, tình trạng của Hội Thánh Ê-phê-sô tương ứng với tình trạng chung và tình trạng thuộc linh của Hội Thánh trong thế kỷ đầu tiên. Hội Thánh thuở ban đầu được khắc họa bởi tình yêu thương và lòng trung tín với phúc âm. Nhưng vào cuối thế kỷ thứ nhất, Hội Thánh bắt đầu mất đi nhiệt huyết của tình yêu ban đầu ấy, và rồi lìa bỏ sự giản dị và thuần khiết của phúc âm.

Hãy tưởng tượng bản thân bạn đang ở trong một nhà thờ nơi tình yêu thương đang lụi tàn. Những tín hữu có thể không phạm phải bất kỳ tội lỗi công khai nào. Ở một mức độ nào đó, thậm chí họ còn đang làm những điều đúng đắn; thế nhưng họ đang mắc phải chủ nghĩa hình thức và sự nguội lạnh. Làm thế nào những lời khuyên của Đức Chúa Giê-su ở đây có thể giải phóng Hội Thánh khỏi tình trạng này?

Thứ Sáu Tư Tưởng Bổ Túc

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC

Hãy đọc chương “Bát-mô,” trang 568–577, trong Công Vụ Các Sứ Đồ của bà Ellen G. White.

“Sự bắt bớ của Giăng đã trở thành một phương tiện truyền bá ân điển. Đảo Bát-mô trở nên rực rỡ bởi vinh hiển của Đấng Cứu Chuộc đã sống lại từ cõi chết. Giăng đã nhìn thấy Đấng Cơ-đốc trong hình hài nhân loại, với những dấu đinh trên tay và chân Ngài, những thứ sẽ mãi là niềm vinh quang của Ngài. Giờ đây ông lại được phép nhìn thấy Đấng Cứu Thế đã phục sinh, mặc lấy vinh hiển mà nhân loại có thể chứng kiến được, và Ngài vẫn đang sống.

“Sự xuất hiện của Đấng Cơ-đốc trước mặt Giăng là một bằng chứng cho tất cả mọi người – dù tin hay không tin – rằng chúng ta có một Đấng Cơ-đốc đã phục sinh từ cõi chết. Điều này nên mang lại sức mạnh sống động cho Hội Thánh. Vào những lúc mây mù bao quanh Hội Thánh Đức Chúa Trời. Áp bức và bắt bớ trông như thể sắp hủy diệt họ. Nhưng vào những lúc như vậy, những bài học bổ ích nhất lại được ban ra. Đấng Cơ-đốc thường bước vào ngục tù, bày tỏ Ngài cho những người được chọn. Ngài ở trong lửa với họ khi họ bị thiêu trong lò lửa. Cũng như những ngôi sao sáng nhất vào lúc màn đêm đen tối nhất, những tia sáng chói lòa nhất của vinh quang Đức Chúa Trời được tỏ ra trong màn đêm tăm tối nhất. Bầu trời càng tối, thì những tia sáng của Mặt Trời Công Bình—Đấng Cứu Thế đã phục sinh—lại càng rõ ràng và rực rỡ hơn bao giờ hết.”—Ellen G. White, Thông điệp cho Thanh Niên, ngày 5 tháng 4 năm 1900.

Câu hỏi thảo luận

1. Giăng, nhà khải thị, chia sẻ với các độc giả những gì ông đã thấy và nghe ở đảo Bát-mô. Khi bạn đọc Khải Huyền 1:12-20, bạn thấy và nghe được những gì? Những lời an ủi nào bạn có thể nhận lãnh từ những điều đã được bày tỏ ở đây?

2. Vị thiên sứ đầu tiên trong Khải Huyền 14:7 thúc giục những cư dân trên đất tại thời điểm cuối cùng “hãy thờ phượng Đấng dựng nên trời, đất, biển và các suối nước”. Đây là từ ngữ đã được sử dụng trong Xuất Ê-díp-tô Ký 20:11. Điều này nói gì cho chúng ta biết về tầm quan trọng của ngày Sa-bát trong thời kỳ cuối cùng mà sách Khải Huyền đã bày tỏ?

3. Có một sự châm biếm kì lạ mà nhiều Cơ-đốc nhân phải đối mặt. Họ ở trong Hội Thánh càng lâu, thì đức tin của họ lại càng dễ teo nhỏ lại, hoặc thậm chí chết đi. Tuy nhiên, sự việc nên xảy ra theo chiều hướng ngược lại. Suy cho cùng, chúng ta càng đi với Đức Chúa Giê-su lâu chừng nào, thì chúng ta nên biết rõ hơn về Ngài và tình yêu thương của Ngài đối với chúng ta. Vậy thì làm thế nào để chúng ta giữ cho ngọn lửa đức tin không chỉ cháy lên mà còn ngày càng bừng cháy mạnh mẽ hơn nữa?