Phúc âm đời đời của Đức Chúa Trời
Kinh Thánh Nghiên Cứu: Khải Huyền 14:6–12; Ma-thi-ơ 24:14; Truyền đạo 12:13, 14; Xuất. 20:2–11; Ê-sai 21:9;34:8–10
"Đây tỏ ra sự nhịn nhục của các thánh đồ: Chúng giữ điều răn của Đức Chúa Trời và giữ lòng tin Đức Chúa Giê-su" — Khải Huyền 14:12
Sa-bát Phúc Âm Đời Đời Của Đức Chúa Trời
Kinh Thánh nghiên cứu
Khải Huyền 14:6–12; Ma-thi-ơ 24:14; Truyền đạo 12:13, 14; Xuất. 20:2–11; Ê-sai 21:9;34:8–10.
Câu gốc
“Đây tỏ ra sự nhịn nhục của các thánh đồ: Chúng giữ điều răn của Đức Chúa Trời và giữ lòng tin Đức Chúa Giê-su” (Khải Huyền 14:12).
Khải Huyền cho thấy sự lừa dối trong thời kỳ cuối cùng của Sa-tan sẽ thành công đến nỗi cả thế giới đều chọn để thờ phượng con thú và nhận dấu của nó.Tuy nhiên Khải Huyền 14:1-5 cho biết Đức Chúa Trời vẫn còn những người còn sót lại, họ là những người giữ vững niềm tin trong Chúa trong khi hầu hết thế gian đều không.
Cuối cùng, mọi người phải chọn lựa, hoặc thờ phượng hoặc không (mọi người luôn luôn thờ phượng một điều gì đó), nhưng, đúng hơn, thờ phượng ai. Những người tôn thờ con thú sẽ nhận lãnh dấu của nó trên trán và trên tay phải của họ, biểu tượng của việc chọn lựa của họ là phục vụ cho một hệ thống bội giáo bằng việc làm và trong trí của họ.
Đồng thời, thế giới sẽ làm chứng về phúc âm, kể từ khi lễ Ngũ Tuần cho đến nay chưa có sự làm chứng nào lớn đến như vậy. Trước khi phán xét loài người phản nghịch, Đức Chúa Trời sẽ gởi những sứ điệp cảnh báo. Những hành động của Sa-tan lan tỏa trên toàn thế giới; cũng vậy phúc âm về thời kỳ cuối cùng cũng sẽ được giảng ra khắp đất. Đức Chúa Trời không muốn một ai bị chết mất, nhưng muốn mọi người được cứu, đó là lý do tại sao Đấng Cơ-đốc đã chết cho toàn nhân loại. Vấn đề là ai sẽ chấp nhận tin và ai sẽ không.
Thứ Nhất Sứ Điệp Ba Thiên Sứ
Ngay trước khi chấm dứt, Đức Chúa Trời gửi những sứ điệp cảnh báo, biểu tượng được mô tả bởi hình ảnh ba thiên sứ đang bay giữa trời và loan báo. Từ Hy-lạp thiên sứ (angelos) nghĩa là “sứ giả”. Trong Kinh Thánh, các thiên sứ thường đại diện cho những người phục vụ Đức Chúa Trời (Ma-la-chi 2:7; Ma-hti-ơ 11:10). Căn cứ vào Khải Huyền cho thấy ba thiên sứ tượng trưng cho dân sự Đức Chúa Trời, là những người được giao nhiệm vụ chia sẻ với thế giới về sứ điệp của thời kỳ cuối cùng.
Đọc Khải Huyền 14:6 và Ma-thi-ơ 24:14. Sứ điệp của thiên sứ thứ nhất nói đến “phúc âm đời đời” (Khải 14:6). Điều nầy nói gì với chúng ta về nội dung và mục đích của sứ điệp thiên sứ thứ nhất? Tại sao sứ điệp nầy là trung tâm của tất cả những gì chúng ta tin?
Sứ điệp đầu tiên cho thời đại cuối cùng là phúc âm. Phúc âm là tin tốt lành nói về Đức Chúa Trời, Đấng đã cứu nhân loại qua những gì Đấng Cơ-đốc đã làm cho chúng ta. Sứ điệp của thiên sứ thứ nhất là phúc âm “đời đời”, bởi vì nó là một phần của sự nỗ lực liên tục của Đức Chúa Trời để giành lại loài người sa ngã. Một kế hoạch được thiết lập ngay cả trước khi có con người (2 Ti 1:9; Tít 1:2). Phúc âm bao gồm cả sự cứu rỗi và sự phán xét. Đó là tin tốt lành về sự cứu rỗi cho những ai tiếp nhận nó, nhưng đó cũng là sự cảnh báo cho những ai từ chối niềm hy vọng trong nó.
Ba thiên sứ được mô tả đang rao truyền sứ điệp bằng “tiếng lớn” (Khải 14:7, 9). Sứ điệp rất khẩn cấp và quan trọng; tất cả mọi người phải được nghe sứ điệp nầy vì nó liên quan đến sự sống đời đời của họ. Như vậy, nó được tuyên bố cho mọi nước, mọi chi phái, mọi tiếng và mọi dân tộc. Điều nầy đặc biệt có ý nghĩa thiết thực vào thời kỳ cuối cùng, con thú sẽ thực hiện thẩm quyền của Sa-tan trên “mọi chi phái, mọi tiếng và mọi dân tộc” (Khải 13:7). Vì sự lừa dối của Sa-tan trải khắp toàn cầu, nên đó cũng là lời tuyên bố trong thời kỳ cuối cùng của phúc âm.
Dân sự của Đức Chúa Trời rao truyền sứ điệp ba thiên sứ để chống lại ba tà thần giống như ếch nhái được phát ra từ miệng của bộ tam của Sa-tan (Khải 16:13, 14). Những sứ điệp của chúng giống như các sứ điệp của ba thiên sứ. Do đó, vào thời kỳ cuối cùng, thế giới sẽ được trình bày hai thông điệp đối nghịch nhau, mục đích của mỗi thông điệp nhằm chiếm được lòng trung thành của người dân trên đất.
Là tín hữu Cơ-đốc Phục Lâm, chúng ta được gọi để rao truyền phúc âm cho thế gian. Bạn (vâng, chính bạn) đang làm gì để giúp cho điều ấy? Bạn còn có thể làm điều gì hơn nữa?
Thứ Hai Sứ Điệp Thiên Sứ Thứ Nhất Phần 1
Đọc Khải Huyền 14:7 và Truyền đạo 12:13, 14. “Kính sợ Đức Chúa Trời” nghĩa là gì? Khái niệm kính sợ Đức Chúa Trời liên quan đến phúc âm như thế nào, và phúc âm có liên quan gì với việc giữ điều răn của Đức Chúa Trời? (xem Rô-ma 7:7-13). Sự liên kết giữa kính sợ Đức Chúa Trời và tôn vinh Ngài là gì?
Sự kêu gọi “Hãy kính sợ Đức Chúa Trời, và tôn vinh Ngài” (Khải 14:7) là lời tuyên bố trong ngữ cảnh của “phúc âm đời đời”. Khi nhận biết những gì Đấng Cơ-đốc đã làm để cứu chúng ta thì chúng ta phải đáp lại tình yêu của Ngài một cách tích cực.
Trong Khải Huyền, kính sợ Đức Chúa Trời và tôn vinh Ngài phải liên kết nhau (Khải 11:13; 15:4). Trong khi phần đầu cho thấy một sự liên kết đúng với Đức Chúa Trời (Gióp 1:8), thì phần sau bày tỏ sự vâng phục Ngài.
Kính sợ Đức Chúa Trời không có nghĩa là sợ hãi Ngài nhưng phải kính trọng Ngài và đặt Ngài ở vị trí xứng đáng trong cuộc sống chúng ta. Dân sự của Đức Chúa Trời trong thời kỳ cuối cùng là những người kính sợ Ngài (xem Khải 11:18, 19:5). Một người kính sợ Đức Chúa Trời thì tôn vinh Ngài bằng sự vâng phục (Phục truyền 5:29; Truyền đạo 12:13) và phản ảnh tính cách của Ngài (Sáng-thế ký 22:12).
Động cơ để kính sợ Đức Chúa Trời và tôn vinh Ngài là: “giờ phán xét của Ngài đã đến” (Khải 14:7). Giờ phán xét xảy ra trước Sự Đến Lần Thứ Hai. Mục đích của sự phán xét là hoàn tất việc chọn lựa của chúng ta có thật sự phụng sự Đức Chúa Trời hay không (sự chọn lựa chứng tỏ bởi việc làm của chúng ta). Khi sự phán xét chấm dứt, số phận của mỗi người được quyết định (Khải 22:11), và Đức Chúa Giê-su sẽ đến đem phần thưởng cho mỗi người tùy theo việc làm của họ (Khải 22:12).
Sự phán xét trong Khải Huyền 14 là một phần của phúc âm. Với những người có mối quan hệ đúng với Đức Chúa Trời, thì sự phán xét là tin tốt lành; điều đó có nghĩa là được xác minh, được cứu rỗi, và tự do. Tuy nhiên, đó là tin xấu cho những người không trung tín. Sứ điệp về sự phán xét sẽ đến là sự kêu gọi họ hãy ăn năn và trở lại với Đức Chúa Trời, vì Đức Chúa Trời không muốn một ai bị chết mất, nhưng muốn mọi người đến và ăn năn (2 Phi 3:9).
Bạn có thể đứng, một mình, trong giờ phán xét như thế nào? Lời phán quyết nào có thể bảo đảm cho bạn bởi những việc làm của mình? Câu trả lời của bạn cho bạn biết gì về nhu cầu của phúc âm, và tại sao nó liên kết chặt chẽ với sứ điệp thiên sứ thứ nhất?
Thứ Ba Sứ Điệp Của Thiên Sứ Thứ Nhất Phần 2
Sách Khải Huyền cho thấy những vấn đề trọng tâm trong sự khủng hoảng cuối cùng của lịch sử thế giới sẽ là việc thờ phượng và vâng phục Đức Chúa Trời, được bày tỏ qua việc vâng giữ luật pháp của Ngài (Khải 14:12). Thế giới sẽ chia ra làm hai nhóm: Những người kính sợ và thờ phượng Đức Chúa Trời, và những người kính sợ và thờ phượng con thú.
Xem lại bốn điều răn đầu của bản luật pháp Mười Điều Răn (Xuất 20:2-11). Sau đó xem Khải Huyền 13. Bắt phải thờ phượng con thú (Khải 13:15), tạc tượng con thú được thờ phượng (Khải 13:14, 15), phạm đến Đức Chúa Trời và danh Ngài (Khải 13:5, 6), và nhận dấu của con thú (Khải 13:16, 17) cho thấy các cuộc tấn công của Sa-tan đối với bốn điều răn đầu trong cuộc khủng hoảng cuối cùng như thế nào?
Khái niệm chủ yếu của bốn điều răn đầu liên quan đến sự thờ phượng. Khải Huyền cho thấy những điều răn nầy sẽ là tiêu chuẩn cho lòng trung thành với Đức Chúa Trời trong những cuộc khủng hoảng cuối cùng. Sự xung đột cuối cùng giữa Đấng Cơ-đốc và Sa-tan cũng chỉ xoay quanh vấn đề thờ phượng và bốn điều răn đầu.
Vấn đề then chốt trong sự khủng hoảng cuối cùng được nhấn mạnh trong lời kêu gọi lần thứ hai của sứ điệp thiên sứ thứ nhất. Lời kêu gọi: ‘thờ phượng Đấng dựng nên trời, đất, biển và các suối nước’ (Khải 14:7) là nói đến điều răn thứ tư (Xuất 20:11). Điều nầy cho thấy lời kêu gọi thờ phượng Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa được ban cho trong bối cảnh tuân giữ ngày Sa-bát.
Trong Mười điều răn, cũng như trong phần còn lại của Kinh Thánh, sự thờ phượng thật liên quan đến ngày đúng để thờ phượng. Ngày Sa-bát thứ bảy là dấu đặc biệt của sự tương giao của chúng ta với Đức Chúa Trời (Xuất 31:13; Ê-xê-chi-ên 20:12). Sứ điệp của thiên sứ thứ nhất cho thấy vào thời kỳ cuối cùng các dân trên thế giới sẽ được kêu gọi để trở lại thờ phượng Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa thật và đặt Ngài vào vị trí chính đáng trong cuộc sống của họ. Sứ điệp nầy đối lập với những hành động dối trá của Sa-tan trong thời kỳ cuối cùng để kéo thế gian vào tôn giáo giả hầu phục vụ và thờ phượng thần giả mạo. Điều răn thứ tư, ngày Sa-bát thứ bảy, sẽ là điểm tấn công chính của nó.
“Trong khi việc giữ ngày sa-bát giả theo luật của nhà nước, trái với điều răn thứ tư, là bày tỏ lòng trung thành với thế lực chống lại Đức Chúa Trời, thì việc giữ ngày Sa-bát thật, vâng phục luật pháp Đức Chúa Trời, là bằng chứng trung thành với Đấng Tạo Hóa. Trong khi những người chấp nhận dấu của con thú, là bằng chứng chấp nhận dấu của sự tuân phục những thế lực của thế gian, thì những người khác chọn trung thành với quyền năng thánh, chấp nhận dấu của Đức Chúa Trời”. —Ellen G. White, Sự Tranh Đấu Khốc Liệt, trang 605.
Thứ Tư Sứ Điệp Của Thiên Sứ Thứ Hai
Trong khi sứ điệp của thiên sứ thứ nhất kêu gọi kính sợ và thờ phượng Đức Chúa Trời thật, thì thiên sứ thứ hai loan báo sự sụp đổ của Ba-by-lôn trong thời kỳ cuối cùng như là một hệ thống tôn giáo giả mạo.
Đọc Khải Huyền 14:8 cùng với Khải Huyền 18:2 và Ê-sai 21:9. Sự lặp lại hai lần từ “đổ rồi” cho thấy sự cuối cùng của Ba-by-lôn là chắc chắn. Tại sao Ba-by-lôn được mô tả như đã sụp đổ rồi, mặc dầu sự sụp đổ của nó sẽ xảy ra vào tương lai?
Ba-by-lôn ở đây nói về một thành phố lớn. Lý do cho điều nầy là vì biểu tượng của Ba-by-lôn trong Khải Huyền bắt nguồn từ Ba-by-lôn trong lịch sử là một quyền lực đầy tội lỗi chống lại Đức Chúa Trời và đàn áp dân sự của Ngài. Ê-sai 14:12-15 cho thấy Ba-by-lôn cũng như Sa-tan nỗ lực làm cho mình bằng với Đức Chúa Trời. Ba-by-lôn trong thời kỳ cuối cùng trong Khải Huyền là tên của bộ ba của Sa-tan liên kết với những tôn giáo giả của nó (Khải 17:5). Chúng sẽ liên kết với nhau trong việc phục vụ Sa-tan chống lại dân sự Đức Chúa Trời (xem Khải 13:11-18). Sự kết hợp tôn giáo giả nầy sẽ bày tỏ sự kiêu ngạo của Ba-by-lôn xưa trong việc tôn mình lên bằng với Đức Chúa Trời và thay thế vị trí của Ngài trong thế gian nầy. Sứ điệp của thiên sứ thứ hai khẳng định với dân sự của Đức Chúa Trời rằng hệ thống xấu xa nầy sẽ chấm dứt cũng như Ba-by-lôn cổ đã bị sụp đổ.
Đọc Khải Huyền 14:8 lần nữa cùng với 17:2 và 18:3. Ba-by-lôn cho thế gian uống rượu tà dâm của nó như thế nào? Rượu nầy là gì?
Ba-by-lôn bị buộc tội vì cho tất cả các quốc gia uống rượu thạnh nộ gian dâm của nó. Giê-rê-mi nói Ba-by-lôn làm các nước trên thế gian say sưa (Giê-rê-mi 51:7). Khải Huyền 17 mô tả Ba-by-lôn trong thời kỳ cuối cùng như là một dâm phụ mời các dân trên thế gian uống rượu tà dâm với nó (xem Khải 17:2). Điều nầy cho thấy trong Khải Huyền 13 nơi bộ ba của Sa-tan quyến rủ các dân trên đất thờ lạy con thú và tượng nó (Khải 13:11-18).
Rượu của Ba-by-lôn liên quan đến những sự dạy dỗ giả dối và phúc âm giả được rao truyền bởi hệ thống bội giáo. Người say không thể suy nghĩ một cách đúng đắn. Khi các dân bị say về tâm linh bởi rượu của Ba-by-lôn, thì Ba-by-lôn sẽ kiểm soát lương tâm họ lôi kéo họ thờ lạy con thú và nhận dấu của con thú. Khi những ảnh hưởng của việc say sưa chấm dứt, họ sẽ nhận ra những quyết định và hành động của mình, nhưng đã quá trễ (Khải 17:15-17).
Có phải người ta phải sống trong Ba-by-lôn để uống rượu của nó? Một người có thể uống rượu của Ba-by-lôn bằng cách nào?
Thứ Năm Sứ Điệp Của Thiên Sứ Thứ Ba
Khải Huyền 14:12 mô tả những người trung thành của Đức Chúa Trời như thế nào?
Tương phản với những người nầy, Khải Huyền 14:9, 10 cảnh báo về số phận của những người chịu sự thạnh nộ của Đức Chúa Trời. Trong Cựu Ước, sự tuôn đổ cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời được mô tả như là uống rượu từ chén (Giê-rê-mi 25:15, 16). Sự nghiêm trọng của việc phán xét trên những người thờ phượng con thú được mô tả như việc uống rượu thạnh nộ không pha của Đức Chúa Trời được đổ trong cái chén. Người xưa thường pha rượu với nước để giảm độ mạnh của việc say rượu. Để tăng thêm mức độ mạnh của rượu, rượu không pha được pha với thảo mộc và gia vị. Sự pha trộn các chất với rượu nguyên chất tượng trưng cho cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời đổ xuống dữ dội và không có sự khoan dung (xem Thi Thiên 75:8).
Đọc Khải Huyền 14:10, 11 cùng với Khải Huyền 20:10-15. Ê-sai 34:8-10 và Giu-đe 7 làm sáng tỏ câu “khói của sự đau đớn chúng nó bay lên đời đời” như thế nào?
Lời tuyên bố về sự đau đớn vì lửa và lưu huỳnh nói đến sự hủy diệt đời đời. Lửa và lưu huỳnh chỉ về sự phán xét (Sáng 19:24; Ê-sai 34:8-10). Khói của sự hủy diệt bay lên là hình ảnh được nói đến rất nhiều trong Kinh Thánh. Ê-sai tiên tri về sự hủy diệt trong tương lai của thành Ê-đôm bằng lửa và bằng lưu huỳnh: nó trở thành hồ lửa “Ngày đêm chẳng tắt, hằng bay lên những luồng khói” (Ê-sai 34:10). Giu-đe mô tả số phận của Sô-đôm và Gô-mô-rơ chịu đựng sự trừng phạt của “lửa đời đời” (Giu-đe 7). Những câu nầy không nói về ngọn lửa không bao giờ tắt, vì ngày nay những thành phố nầy không còn nữa. Hậu quả của nó là mãi mãi, chứ không phải nó bị cháy mãi mãi. “Lửa đời đời” trong Khải Huyền nói đến sự tiêu diệt; việc đốt cháy sẽ đủ lâu để làm cho tiêu hủy hoàn toàn cho đến khi không còn gì nữa.
Mặc dầu chúng ta có thể biết ơn về lẽ thật tuyệt vời rằng lửa địa ngục không làm cho người bị chết mất đau đớn mãi mãi, nhưng sự trừng phạt vẫn rất khủng khiếp. Điều nầy nói gì với chúng ta về nhiệm vụ thiêng liêng mà chúng ta đã nhận lãnh để cảnh báo cho những người khác về những gì sẽ đến?
Thứ Sáu Nghiên Cứu Bổ Túc
NGHIÊN CỨU BỔ TÚC
Đọc chương “Lời cảnh báo cuối cùng” trang 603-612, trong quyển “Thiện Ác Đấu Tranh” của bà Ellen G. White.
Khải Huyền cho thấy thời cuối cùng, dân sự của Đức Chúa Trời được ủy thác công việc rao giảng phúc âm trong thời kỳ cuối cùng cho thế giới. Công việc trước mắt chúng ta có vẻ như khó khăn, mọi sự dường như không thể được. Tuy nhiên, chúng ta có lời hứa về quyền năng từ Đức Chúa Trời.
“Công việc vĩ đại của phúc âm không phải kết thúc bằng việc ít bày tỏ quyền năng của Đức Chúa Trời hơn khi nó bắt đầu…
“Bởi sự thuyết phục mạnh mẽ của Thánh Linh Đức Chúa Trời thì sứ điệp sẽ được thực hiện nhiều hơn là bởi những tranh luận. Những tranh luận được trình bày, hạt giống được gieo, bây giờ nó nẩy mầm và kết quả” – Ellen G. White, Thiện Ác Đấu Tranh, trang 611, 612.
Sự kết thúc việc rao giảng sứ điệp cuối cùng của Đức Chúa Trời sẽ dẫn đến sự chia rẽ lớn, phân chia các dân tộc trên thế giới thành hai nhóm: những người có mối quan hệ với Đức Chúa Trời và những người chọn theo con thú. Sự phân rẽ nầy được mô tả qua hình ảnh hai vụ thu hoạch: thu hoạch lúa mì đem vào kho (Khải 14:14-16), và nho bị giày đạp trong thùng ép rượu (Khải 14:17-20). Đây là chủ đề của Khải Huyền 17-18.
Câu hỏi thảo luận
1. Nghĩ về điều nầy: Ai là người rao giảng về sứ điệp ba thiên sứ hơn những người Cơ-đốc Phục Lâm? Điều nầy nói gì về sự quan trọng của công việc của chúng ta? Chúng ta thực hiện nó một cách nghiêm túc như thế nào?
2. Bạn nghĩ tại sao nhiều Cơ-đốc nhân không thích khái niệm về sự phán xét? Có sự liên quan gì về quan niệm tiền phán xét đối với Cơ-đốc nhân ngày nay? Bạn giúp cho những tín hữu hiểu rõ hơn ý nghĩa thật của việc tiền phán xét như thế nào?
3. Nghĩ về câu hỏi ngày Sa-bát trong bối cảnh các biến cố cuối cùng. Tại sao ngày Sa-bát thứ bảy, trở về với tuần lễ tạo thế (Sáng 2:2, 3), có nhiều ý nghĩa và đóng vai trò chủ yếu đến như vậy? Vấn đề là chúng ta đang thờ phượng ai, Đấng Sáng Tạo “trời và đất” (Khải 14:7), hay quyền lực của con thú, và nếu ngày Sa-bát thứ bảy là xưa nhất, căn bản nhất và là dấu chắc chắn về sự sáng tạo “trời và đất” của Đức Chúa Trời, vậy, tại sao ngày Sa-bát, một trong những điều răn của Đức Chúa Trời (Khải 14:12), đóng vai trò nổi bật trong cuộc khủng hoảng cuối cùng?