Bài Học 7 · 11 – 17 Tháng 8

Cuộc hành trình truyền giáo đầu tiên của Phao-lô

Kinh Thánh Nghiên Cứu: Công-vụ 13; 2 Cô-rinh-tô 4:7-10; Rô-ma 10:1-4; Rô-ma 3:19; Công-vụ 14:1-26; Rô-ma 9-11

"Vậy, hỡi anh em, khá biết rằng nhờ Đấng đó mà sự tha tội được rao truyền cho anh em; lại nhờ Ngài mà hễ ai tin thì được xưng công bình về mọi điều theo luật pháp Môi-se chẳng có thể được xưng công bình" — Công-vụ 13:38-39
Sa-bát Cuộc Hành Trình Truyền Giáo Đầu Tiên Của Phao-lô

Kinh Thánh nghiên cứu

Công-vụ 13; 2 Cô-rinh-tô 4:7-10; Rô-ma 10:1-4; Rô-ma 3:19; Công-vụ 14:1-26; Rô-ma 9-11

Câu gốc

“Vậy, hỡi anh em, khá biết rằng nhờ Đấng đó mà sự tha tội được rao truyền cho anh em; lại nhờ Ngài mà hễ ai tin thì được xưng công bình về mọi điều theo luật pháp Môi-se chẳng có thể được xưng công bình” (Công-vụ 13:38-39).

hắc chắn rằng, tin lành đã đi đến với dân Ngoại cũng như đến với dân Do Thái. Đây là một thông điệp chậm mà chắc mà những Cơ đốc nhân Do Thái thời kỳ đầu đã bắt đầu thấu hiểu.

Báo cáo đầu tiên và rất rõ ràng của chúng tôi về việc số lượng lớn dân Ngoại tin đạo cho thấy có liên quan đến thành An-ti-ốt. Nói cách khác, thành An-ti-ốt là nơi mà Hội Thánh đầu tiên của dân Ngoại được thành lập, ngay cả khi ở nơi đó có một số lượng lớn người Do Thái (Ga-la-ti 2:11-13). Nhờ vào lòng nhiệt huyết truyền giáo của những người thành lập Hội Thánh, và sự thúc đẩy của Ba-na-ba và Phao-lô thì Hội Thánh đã phát triển một cách nhanh chóng và trở thành trung tâm Cơ đốc quan trọng đầu tiên ngoài vùng Giu-đê. Trên thực tế, nơi này còn vượt qua Hội Thánh ở Giê-ru-sa-lem một số mặt.

Với việc các sứ đồ vẫn trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem, An-ti-ốt đã trở thành cái nôi của sứ mạng truyền giáo của Cơ đốc nhân. Chính từ đó, với sự hỗ trợ ban đầu của tín hữu địa phương, nơi Phao-lô đã khởi hành cả ba chuyến truyền giáo của mình. Đó là bởi vì cam kết của họ là Cơ đốc giáo trở thành như những gì Đức Chúa Giê-su đã dự định: một tôn giáo trên toàn thế giới, tôn giáo mà tin lành sẽ được truyền bá ra cho “mọi nước, mọi chi phái, mọi tiếng, và mọi dân tộc” (Khải Huyền 14:6).

Thứ Nhất Thành Sa-la-min Và Thành Ba-phô

Trong Công-vụ đoạn 13, Lu-ca chuyển cảnh quay về thành An-ti-ốt để giới thiệu về chuyến hành trình truyền giáo đầu tiên của Phao-lô trong hai đoạn 13 và 14. Từ đây đến hết sách Công-vụ, trọng tâm sẽ được đặt trên Phao-lô và truyền giáo cho người Ngoại.

Đây là nỗ lực truyền giáo đầu tiên trong sách Công-vụ được hoạch định cẩn thận bởi một Hội Thánh. Tuy nhiên, Lu-ca cẩn trọng khi nhấn mạnh rằng nỗ lực đó xuất phát từ Đức Chúa Trời, không phải bởi ý riêng của các tín hữu. Tuy nhiên, điểm chính là Đức Chúa Trời chỉ có thể hoạt động khi chúng ta sẵn sàng phó thác mình vào vị trí mà Ngài có thể sử dụng chúng ta.

Đọc Công-vụ 13:1-12. Những ý chính mà Lu-ca muốn nhấn mạnh liên quan đến các hoạt động của Ba-na-ba và Phao-lô ở đảo Chíp-rơ là gì?

Một giai đoạn khẩn thiết cầu nguyện xưng tội và kiêng ăn ra đời trước sự khởi hành truyền giáo. Trong bối cảnh này, việc đặt tay chúc phước căn bản là một hành động dâng hiến hay ca tụng ân điển của Đức Chúa Trời (Công-vụ 14:26) cho các nhiệm vụ đang diễn ra.

Đảo Chíp-rơ nằm ở góc đông bắc của Địa Trung Hải, cách thành An-ti-ốt không xa. Đó là một nơi dĩ nhiên phải bắt đầu, vì không chỉ có mỗi Ba-na-ba đến từ Chíp-rơ mà tin lành cũng đã đến được đảo này. Tuy nhiên, chắc chắn vẫn còn nhiều việc cần phải làm.

Một lần ở Chíp-rơ, Ba-na-ma và Phao-lô và Giăng Mác, bà con của Ba-na-ma (Công-vụ 15:39, Cô-lô-se 4:10), người đã cùng họ rao giảng tin lành ở các Hội Thánh ở Sa-la-min [Salamis một hòn đảo ở Vịnh Saronic ở Hy Lạp, phía tây Athens]. Đây là sự rao giảng thực tiễn chính thức của Phao-lô: ở các nhà hội trước khi rao giảng cho dân Ngoại. Bởi vì Đức Chúa Giê-su là Đấng Mê-si nên trước tiên phải giảng cho người Do Thái trước hết.

Sau thành Sa-la-min, họ di chuyển về hướng tây, rao giảng trên đường họ đi cho đến khi họ đến được thủ đô Ba-phô [Paphos nằm ở phía tây nam Cộng hòa Síp - nước Cộng hoà Síp là một đảo quốc tại phần phía đông của Địa Trung Hải, và là đảo có diện tích và dân số lớn thứ ba tại trong biển này. Síp nằm về phía nam của Thổ Nhĩ Kỳ, phía tây của Syria và Liban]. Câu chuyện xoay quanh hai cá nhân: một tay thuật sĩ tên là Ba-Giê-su, còn được gọi là Ê-ly-ma; và Sê-giút Phau-lút, quan trấn thủ địa phương. Câu chuyện đưa ra một ví dụ điển hình về việc phúc âm đã được đáp ứng như thế nào với phản ứng tương phản: một mặt là phản đối, mặt khác thì chấp nhận trung tín thậm chí bởi những người Ngoại có uy tín cao. Công-vụ 13:12 ám chỉ sự biến đổi rất rõ ràng.

Hãy suy nghĩ, trong trường hợp này, một người Do Thái chống lại sự thật trong khi người Ngoại lại chấp nhận nó. Làm thế nào điều này có thể giúp chúng ta hiều được tại sao đôi khi các Cơ đốc nhân khác lại khó đạt được “lẽ thật hiện tại” hơn những người không có đức tin?

Thứ Hai Thành An-đi-ốt Xứ Bi-si-đi: Phần 1

Từ Chíp-rơ, Phao-lô và những người bạn đồng hành bằng thuyền đến Bẹt-giê [Perga hoặc Perge là một thành phố Hy Lạp cổ đại tại Anatolia, từng là thủ đô của Pamphylia] trong xứ Bam-phi-ly [Pamphylia], ngày nay thuộc phía tây nam của Thổ Nhĩ Kỳ. Trước khi chuyển đến thành An-ti-ốt xứ Bi-si-đi, Lu-ca tường thuật hai thay đổi quan trọng: Phao-lô trở thành nhân vật lãnh đạo (cho đến giờ, Ba-na-ba luôn luôn là người được đề cập trước) và Lu-ca ngừng sử dụng tên Do Thái của Phao-lô (Sau-lơ) và bắt đầu đề cập đến ông là “Phao-lô” mà thôi (Công-vụ 13:9). Điều này có lẽ là vì từ bấy giờ Phao-lô nhận thấy mình là một người Hy Lạp - La Mã.

Công-vụ 13:13 ghi lại rằng Giăng Mác đang trở lại Giê-ru-sa-lem. Chúng ta không được biết về việc bỏ rơi Giăng Mác trong Kinh Thánh. Ellen G. White đã viết rằng: đối mặt với sự sợ hãi và nản lòng bởi những khó khăn trước mắt họ, “Mác đã bị dọa và đánh mất lòng dũng cảm, từ chối đi xa hơn và đã trở về Giê-ru-sa-lem” – Phỏng trích Ellen White, Công Vụ Các Sứ Đồ, trang 170). Đức Chúa Trời không bao giờ hứa rằng mọi việc sẽ dễ dàng. Ngược lại, Phao-lô đã biết ngay từ đầu rằng phục vụ công việc Đức Chúa Giê-su sẽ rất khó khăn (Công-vụ 9:16), nhưng mà ông đã học được cách trông cậy hoàn toàn vào quyền năng của Đứa Chúa Trời, và đó là nơi mầu nhiệm về sức mạnh của ông (2 Cô 4:7-10).

Đọc Công-vụ 13:38. Tính chất quan trọng trong sứ điệp của Phao-lô ở nhà hội thành An-ti-ốt là gì?

Công-vụ 13:16-41 chứa đựng bài giảng đầu tiên của Phao-lô đươc ghi lại trong Tân ước. Dĩ nhiên, đó không phải là bài giảng đầu tiên của Phao-lô, và không có một câu hỏi nào mà nó tiêu biểu cho sự lược ngắn về những gì mà ông đã nói.

Bài giảng được chia thành ba phần chính. Nó bắt đầu với việc chia sẻ những niềm tin về việc Chúa chọn Y-sơ-ra-ên và vương quyền của Đa-vít (Công-vụ 13:17-23); phần này nhằm mục đích thiết lập điểm kết nối với người Do Thái. Tiếp theo, ông trình bày rằng Đức Chúa Giê-su là sự hoàn thành lời hứa của Đức Chúa Trời về một hậu tự của Đa-vít là Đấng có thể mang lại sự cứu rỗi cho dân Y-sơ-ra-ên (Công-vụ 13:24-37). Phần kết là sự cảnh báo về việc từ chối sự cứu rỗi được ban cho bởi Đức Chúa Giê-su (Công-vụ 13:38-41).

Đỉnh điểm của bài giảng ở câu 38, 39, trong đó bao hàm cốt lõi sứ điệp của Phao-lô về sự xưng công bình. Tha thứ và sự xưng công bình chỉ có bởi Đức Chúa Giê-su chứ không phải bởi luật pháp của Môi-se. Đoạn này không nói rằng luật pháp đã bị bãi bỏ. Nó chỉ làm nổi bật sự không có khả năng của nó [việc thực hiện theo luật pháp để được xưng công bình] mà người Do Thái dự định làm (Rô-ma 10:1-4). Đặc quyền như vậy duy chỉ thuộc về Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc (Ga-la-ti 2:16).

“Sự cứu rỗi chỉ được thực hiện thông qua Đức Chúa Giê-su mà thôi” có nghĩa là gì? Làm thế nào bạn có thể dung hòa sự cần thiết của việc giữ gìn luật pháp của Chúa với sự thật rằng luật pháp không thể xưng công bình?

Thứ Ba Thành An-đi-ốt Xứ Bi-si-đi: Phần 2

Công-vụ 13:38-39 trình bày vấn đề luật pháp không thể xưng công bình là một giáo lý quan trọng. Mặc dù có những điểm ràng buộc của các điều răn luân lý, luật pháp không thể mang lại sự xưng công bình bởi nó không thể tạo ra sự vâng phục hoàn toàn của những người tuân theo (Công-vụ 15:10, Rô-ma 8:3). Thậm chí nếu luật pháp có thể tạo ra sự vâng phục hoàn hảo trong chúng ta, thì sự vâng phục hoàn hảo đó cũng không thể thay thế tội lỗi trong quá khứ (Rô-ma 3:19; Ga-la-ti 3:10,11). Đó là lý do tại sao sự xưng công bình, thậm chí là một phần, không thể tìm kiếm được [bởi việc làm]. Chúng ta có thể nhận được nó [sự xưng công bình] duy nhất bởi đức tin bởi trong hy sinh chuộc tội của Đức Chúa Giê-su (Rô-ma 3:28, Ga-la-ti 2:16), một sự ban cho mà chúng ta không xứng đáng. Tuy nhiên, trọng tâm có thể là đời sống của Cơ đốc nhân, sự vâng phục không thể tìm kiếm sự cứu rỗi cho chúng ta.

Đọc Công-vụ 13:42-49. Làm thề nào mà các nhà hội nhận được sứ điệp của Phao-lô?

Mặc cho phần kết sứ điệp của Phao-lô kết thúc khắc nghiệt nhưng phản ứng của nhà hội là rất tán thành. Tuy nhiên, trong ngày Sa-bát sau đó đã có nhiều thứ thay đổi một cách quyết liệt. Rất có thể là “những người Do Thái” đã từ chối sứ điệp phúc âm là những người lãnh đạo nhà hội, những người đại diện cho đạo Do Thái chính thức. Lu-ca gán cho thái độ lạnh nhạt của họ về Phao-lô để tỏ sự ghen ghét.

Trong thế giới cổ đại, một số khía cạnh của Do Thái giáo như độc thần, cách sống, và thậm chí là ngày Sa-bát, đã gây ra sự thu hút mạnh mẽ giữa những người Ngoại và nhiều người trong số họ đã gia nhập đức tin Do Thái như những người tiên phong. Tuy nhiên, cắt bì là một trở ngại nghiêm trọng bởi vì nó được coi như là một hành động dã man và ghê tởm. Do vậy, nhiều người Ngoại tham gia vào các nhà hội để thờ phượng nhưng mà không chính thức chuyển sang Do Thái giáo. Những người này được gọi là “những người kính sợ Chúa”, và có thể những người này đã kính sợ Chúa, cũng như những người mới cải đạo của nhà hội An-ti-ốt (Công-vụ 13:16,43) là những người đã giúp truyền bá rộng rãi sứ điệp của Phao-lô đến mọi người với số lượng rất đông. Khả năng trải nghiệm sự cứu rỗi mà không cần phải tuân theo Do Thái giáo đã thu hút rất nhiều người.

Điều này có thể giúp giải thích sự ghen ghét của những người lãnh đạo Do Thái. Trong bất kỳ trường hợp nào, việc từ chối phúc âm không những đã mang họ ra khỏi sự cứu rỗi của Chúa mà còn hướng Phao-lô và Ba-na-ba toàn lực chú ý đến những người Ngoại, những người vui mừng và ca tụng Chúa vì đã đem họ vào kế hoạch cứu rỗi của Ngài.

Thứ Tư Thành Y-cô-ni

Dưới sự xúi giục của các nhà lãnh đạo Do Thái ở thành An-ti-ốt, các nhà cầm quyền địa phương đã kích động một đám đông chống lại Phao-lô và Ba-na-ba và đuổi họ ra khỏi thành (Công-vụ 13:50). Tuy nhiên, “các môn đồ lại đầy sự vui mừng và Đức Thánh Linh” (Công-vụ 13:52). Các nhà truyền giáo sau đó đi đến Y-cô-ni [Iconium (tiếng Latin) hay Konya (tiếng Thổ Nhĩ Kỳ) là thành phố chính ở rìa tây nam của Trung tâm Cao nguyên Anatolia ở Thổ Nhĩ Kỳ]

Đọc Công-vụ 14:1-7. Kết quả từ những hoạt động của Phao-lô và Ba-na-ba ở thành Y-cô-ni là gì?

Tại thành Y-cô-ni, Phao-lô và Ba-na-ba đã tiếp tục công việc của họ là rao giảng cho người Do Thái trước khi truyền bá cho dân Ngoại. Bài giảng của Phao-lô ở An-ti-ốt (Công-vụ 13:16-41) đưa ra lý do chính đằng sau sự ưu tiên của người Do Thái trong các sứ mạng của họ: sự lựa chọn của dân Do Thái, với tất cả những gì liên quan (Rô-ma 3:2; 9:4,5), và của Đức Chúa Trời hoàn thành lời hứa của Ngài về Đấng Cứu Thế từ dòng dõi Đa-vít. Mặc dù nhiều người Do Thái đã từ chối việc nhận phúc âm, nhưng Phao-lô vẫn không đánh mất hy vọng về sự cải đạo của dân Do Thái.

Trong Rô-ma 9-11, Phao-lô nói rất rõ rằng “không phải ai thuộc dòng dõi Y-sơ-ra-ên đều là dân Y-sơ-ra-ên” (Rô-ma 9:6) và điều đó chỉ duy nhất bởi lòng thương xót của Đức Chúa Trời mà một số người Do Thái tin tưởng. Đức Chúa Trời đã không từ bỏ dân sự Ngài, nhưng “ngày nay vẫn còn một phần còn sót lại theo sự lựa chọn bởi ân điển” (Rô-ma 11:5). Phao-lô tiếp tục giảng phúc âm cho người Ngoại, mặc dù ông tin rằng sẽ có một ngày nhiều người Do Thái tin Đức Chúa Giê-su hơn.

“Lập luận của Phao-lô trong Rô-ma 9-11 đưa ra một lời giải thích thêm về chiến lược truyền giáo mà ông theo đuổi trong sách Công-vụ và đương đầu với nhiều thế hệ Cơ đốc nhân với giáo lý quan trọng về việc làm chứng cho những người Do Thái không tin” –David G. Peterson, Công Vụ Các Sứ Đồ (Grand Rapids: Eerdmans, 2009), trang 401.

Tình hình không khác nhiều so với lúc ở thành An-ti-ốt. Phản ứng đầu tiên của người Giu-đa và dân Ngoại đối với phúc âm của Phao-lô là rất tích cực, nhưng một lần nữa những người Do thái không tin, có lẽ là những người lãnh đạo cộng đồng người Do Thái địa phương đã khuấy động dân Ngoại và đầu độc tâm trí của họ chống lại các nhà truyền giáo, gây chia rẽ dân sự. Khi những người chống đối đang lên kế hoạch tấn công và hành hình Phao-lô và Ba-na-ba, hai nhà truyền giáo đã quyết định rời thành và đi đến thành kế tiếp.

Không chỉ nghe phúc âm mà thôi, người Do Thái cần phải thấy phúc âm sống giữa những người xưng danh Đức Chúa Giê-su. Nếu bạn hiểu biết về người Do Thái, bạn sẽ trình bày cho họ kiểu làm chứng nào?

Thứ Năm Thành Lít-trơ Và Thành Đẹt-bơ

Điểm đến kế tiếp của Phao-lô và Ba-na-ba là thành Lít-trơ [Lystra là một thành phố ở miền trung Anatolia, ngày nay là một phần của Thổ Nhĩ Kỳ], một ngôi làng ít người biết đến cách 18 dặm (khoảng 29km) về phía tây nam thành Y-cô-ni. Mặc dù họ dành một khoảng thời gian ở đó (Công-vụ 14:6,7,15), nhưng Lu-ca chỉ viết về diễn biến của câu chuyện: chữa bệnh cho một người bại, có lẽ là một người ăn xin, bị què từ lúc mới sanh ra.

Đọc Công-vụ 14:5-19. Phản ứng của họ đối với Phao-lô bày tỏ điều gì về sự ngu muội của những người này?

Đám đông rất ấn tượng với phép lạ nên họ xưng Ba-na-là thần Giu-bi-Tê, vị thần tối cao của đền thờ Hy Lạp, và Phao-lô là thần Mẹt-cu-rơ, người phục vụ và phát ngôn của Zeus. Trên thực tế, dân chúng muốn hiến tế cho họ.

Trước đó, nhà thơ Latin là Ovid (43 TCN- 17/18 SCN) đã ghi lại một huyền thoại về hai vị thần này, họ giả trang thành con người ghé thăm một thị trấn trong cùng khu vực (“những ngọn đồi của Phrygia”) và tìm kiếm nơi nghỉ ngơi. Theo truyền thuyết, một đôi vợ chồng già, khiêm tốn đã đối xử tử tế với họ; những người dân còn lại thì đều thờ ơ. Vì lòng tốt và hiếu khách của họ đối với những người khách qua đường ẩn danh, ngôi nhà của họ đã trở thành một ngôi đền và họ trở nên thầy tế lễ, trong khi những người còn lại trong thành phố đã bị tiêu diệt hoàn toàn (Metamorphoses 611-724).

Với một câu chuyện như vậy lan truyền trong khu vực này, phản ứng của người dân với phép lạ của Phao-lô không có gì đáng ngạc nhiên. Câu chuyện cũng giúp giải thích tại sao đám đông thừa nhận rằng các nhà truyền giáo là hai vị thần đó, chứ không phải là thần khác, ví dụ như Asclepius, thần chữa bệnh. Tuy nhiên, Phao-lô và Ba-na-ba đã có thể dừng lại sự thờ phượng sai lầm của họ. Cuối cùng, một số đối thủ từ An-ti-ốt và Y-cô-ni đã làm đảo ngược hoàn toàn tình hình, và Phao-lô đã bị ném đá và tưởng như đã chết.

Đọc Công-vụ 14:20-26. Phao-lô và Ba-na-ba đã đi đâu sau khi kết thúc chuyến hành trình? Và họ đã làm gì trên đường về?

Phao-lô nói rằng: “Chúng ta phải trải qua nhiều nỗi khó khăn mới vào được nước Đức Chúa Trời” (Công-vụ 14:22). Điều này có nghĩa gì? Bạn có thể đã có những trải nghiệm nào theo như lời ông Phao-lô nói? Quan trọng hơn hết, làm thế nào bạn có thể học cách phát triển trong đức tin từ bất cứ điều gì “khó khăn” mà bạn đang phải đối mặt?

Thứ Sáu Nghiên cứu bổ túc

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC

“Suốt thời gian Đấng Cơ-đốc sống trên trái đất, Chúa đã tìm cách dẫn dắt người Do Thái khỏi đặc quyền của họ. Việc cải đạo của một sĩ quan La Mã và một người đàn bà dân Sy-nô-phê-ni-xi [Syrophenician là một người ngoại bang (người Hy Lạp) sinh ra ở vùng Phoenician của Syria] là những những ví dụ về công việc Ngài trực tiếp làm cho những người ngoài những người được coi là dân Y-sơ-ra-ên. Đã đến lúc để hoạt động và tiếp tục công việc giữa các dân Ngoại, trong đó toàn thể cộng đồng đã nhận phúc âm một cách vui mừng, và họ tôn vinh Đức Chúa Trời vì ánh sáng của một đức tin thông sáng. Sự không tin và hung ác của người Giu-đa đã không chuyển đổi mục đích của Đức Chúa Trời; cho một người Y-sơ-ra-ên mới được ghép vào cây ô-li-ve. Các nhà hội đã bị đóng cửa chống lại các sứ đồ; nhưng các nhà riêng đã được mở ra để sử dụng, và các tòa nhà công cộng của người Ngoại cũng được sử dụng để rao giảng Lời Chúa” - Ellen G. White, (Các bản phác thảo từ cuộc đời của Phao-lô, trang 51).

“Trong tất cả nỗ lực truyền giáo của họ, Phao-lô và Ba-na-ba đã tìm cách làm theo gương của Đấng Cơ-đốc về sự hy sinh và đức tin, sốt sắng làm việc để tìm cứu linh hồn. Hết sức tỉnh táo, sốt sắng, không mệt mỏi, họ đã không tìm kiếm ý kiến sở thích riêng hoặc sự dễ dàng cho cá nhân, nhưng với lòng ước ao cầu nguyện và tích cực không ngừng, họ đã gieo lẽ thật. Và với việc gieo giống, các sứ đồ đã cẩn thận giao cho tất cả những ai đứng lên vì phúc âm, những chỉ dẫn thực tiễn có giá trị không kể xiết. Tinh thần sốt sắng và kính sợ Chúa làm cho tâm hồn các môn đồ mới cảm thấy một ấn tượng lâu dài về tầm quan trọng của sứ điệp phúc âm” - Ellen G. White, Công Vụ Các Sứ Đồ, trang 186.

Câu Hỏi Thảo Luận:

Nhấn mạnh vào câu chuyện về việc chạy trốn của Giăng Mác khi mọi thứ trở nên khó khăn. Phao-lô và Ba-na-ba sau đó đã có tranh cãi về Giăng Mác, khi Ba-na-ba muốn sử dụng ông một lần nữa và Phao-lô đã không đồng ý (xem Công-vụ 15:37). Tuy nhiên, nhiều năm sau, Phao-lô đã viết: “Hãy đem Mác đến với con, vì người thật có ích cho ta về sự hầu việc lắm” (2 Ti-mô-thê 4:11). Những bài học nào ở đây dành cho chúng ta về những người, trong những trường hợp nhất định, chứng minh sự không trung thành với lời kêu gọi của họ?

Xem lại câu trả lời của Phao-lô và Ba-na-ba đối với người Lít-trơ khi họ bị nhầm lẫn với các vị thần (Công-vụ 14:14-18). Làm thế nào chúng ta có thể đáp trả khi bị cám dỗ để bỏ công trạng từ những gì Chúa đã làm?

Đọc Công-vụ 14:21-23. Dựa trên ví dụ của Phao-lô và Ba-na-ba, chúng ta phải làm gì, với vai trò một cá nhân và vai trò một Hội Thánh, để nuôi dưỡng và củng cố niềm tin của những người mới cải đạo?

Làm thế nào chúng ta có thể đảm bảo mình không để những truyền thống, kể cả niềm tin, do loài người tạo nên mà chúng ta đã gìn giữ một thời gian dài, cản trở sự tấn tới trong lẽ thật, như các nhà lãnh đạo tôn giáo đãchống đối Phao-lô?