Sự biến đổi của Phao-lô
Kinh Thánh Nghiên Cứu: Công-vụ 26:9-11, Phục-truyền 21:23, Công-vụ 9: -20, Ga-la-ti 1:1, Công-vụ 9:20-30
"Nhưng Chúa phán rằng: Hãy đi, vì ta đã chọn người nầy làm một đồ dùng ta, để đem danh ta đồn trước mặt các dân Ngoại, các vua, và con cái Y-sơ-ra-ên" — Công-vụ 9:15
Sa-bát Sự Biến Đổi Của Phao-lô
Kinh Thánh nghiên cứu
Công-vụ 26:9-11, Phục-truyền 21:23, Công-vụ 9: -20, Ga-la-ti 1:1, Công-vụ 9:20-30
Câu gốc
“Nhưng Chúa phán rằng: Hãy đi, vì ta đã chọn người nầy làm một đồ dùng ta, để đem danh ta đồn trước mặt các dân Ngoại, các vua, và con cái Y-sơ-ra-ên” (Công-vụ 9:15).
Sự biến đổi của Sau-lơ tại Tạt-sơ [Tarsus là một thành phố nằm của Thổ Nhĩ Kỳ] (người sau này trở thành Phao-lô) là một trong những sự kiện được đánh dấu trong lịch sử về các sứ đồ của Hội Thánh. Tuy nhiên, tầm quan trọng của Sau-lơ đã vượt qua khỏi quá trình biến đổi, vì Phao-lô chắc chắn không chỉ là kẻ thù của Hội Thánh để trở thành một Cơ đốc nhân chân chính. Thay vào đó, yếu tố liên kết với những gì ông làm là vì lợi ích của phúc âm. Phao-lô đã từng là đối thủ chống đối kịch liệt với những tín đồ đầu tiên, và ông đã làm tổn hại vô cùng to lớn đến Hội Thánh ban đầu. Tuy nhiên, trên đường đến thành Đa-mách [ Damascus là thủ đô và là thành phố lớn nhất của Syria], ông đã nhận sự kêu gọi của Đức Chúa Trời với đức tin trọn vẹn và trở thành một sứ đồ quan trọng trong số các sứ đồ. Từ trong những người bắt bớ Hội Thánh của Đấng Chirst, đã nổi lên một người bảo vệ quyền uy, và là người loan báo phúc âm thành công nhất” - Ellen G. White, Phỏng trích sách Sơ Lược về Cuộc Đời của Phao-lô trang 9.
Những hành động bắt bớ Hội Thánh ban đầu của Phao-lô ở quá khứ sẽ luôn làm ông cảm thấy bản thân mình thật không xứng đáng, mặc dù ông có thể nói một cách sâu sắc hơn rằng ân điển của Đức Chúa Trời không phải là vô ích đối với ông. Với sự biến đổi của Phao-lô, Cơ đốc giáo đã biến đổi mãi mãi.
Thứ Nhất Kẻ Bắt Bớ Hội Thánh
Phao-lô là người Hy Lạp gốc Giu-đa. Ông sinh ra tại Tạt-sơ, thủ đô của Si-li-si (Công-vụ 21:39). Bấy giờ, ở một mức độ nào đó, ông đã đi lệch khỏi khuôn mẫu của nền văn hóa cổ đại, vì ông đã được đưa đến thành Giê-su-sa-lem, nơi ông đã học Ga-ma-li-ên, là giáo sư người Pha-ri-si có tầm ảnh hưởng lớn nhất. Là một người Pha-ri-si chính thống, mặc dù sự sốt sắng của ông quá đỗi (Ga-la-ti 1:14). Đây là lý do tại sao ông khiến cho Ê-tiên phải chết và trở thành sự kiện then chốt cho sự bắt bớ đạo theo sau.
Hãy đọc Công-vụ 26:9-11. Phao-lô mô tả hành động chống lại Hội Thánh của ông như thế nào?
Phao-lô nói rằng phúc âm là sự cản trở của người Do Thái (1 Cô-rinh-tô 1:23). Bên cạnh đó yếu tố mà Đức Chúa Giê-su không phù hợp với mong đợi của người Do Thái về Đấng Mê-si, là vua. Họ không chấp nhận tư tưởng Đấng Mê-si của Đức Chúa Trời chết trên thập tự giá, vì Kinh Thánh nói rằng bất cứ ai bị treo chịu sự rủa sả của Đức Chúa Trời (Phục-truyền 21:23). Cho nên, với người Do Thái, việc đóng đinh trên thập tự giá là vô cùng mâu thuẫn, bằng chứng rõ ràng nhất về lời tuyên bố của Hội Thánh về Đức Chúa Giê-su là sai.
Công-vụ 9:1,2 cho thấy Sau-lơ ở xứ Tạt-sơ chống đối những người tin Đức Chúa Giê-su. Đa-mách là một thành phố quan trọng cách Giê-ru-sa-lem 135 dặm [khoảng 218 km] về phía bắc, và đông dân Giu-đa sống ở đó. Người Giu-đa sống ngoài xứ Giu-đa được tổ chức theo hệ thống, trụ sở tại Giê-ru-sa-lem, với các nhà hội có chức năng là trung tâm hỗ trợ cho các cộng đồng địa phương. Có một mối liên kết giữa tòa án Do Thái tối cao với các cộng đồng qua những bức thư thường được truyền bởi shaliah, “người được gửi đến” (từ Do Thái shaliah có nghĩa là người gửi đến). Người gửi đến là một đại diện được đặt cách bởi Tòa Công Luận để thực hiện những trách nhiệm của tôn giáo.
Khi Phao-lô yêu cầu thầy tế lễ cả về những lá thư gửi các nhà hội tại thành Đa-mách, ông trở thành người gửi đến, có quyền bắt bớ các môn đồ của Đức Chúa Giê-su và đưa họ về Giê-ru-sa-lem (so sánh với Công-vụ 26:12). Trong tiếng Hy Lạp, từ shaliah cũng có nghĩa là môn đồ, từ môn đồ bắt nguồn từ đó. Vậy nên trước khi trở thành môn đồ của Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc, Phao-lô là môn đồ của tòa công luận.
Lần cuối bạn chống đối lại điều gì đó rồi sau đó thay đổi suy nghĩ là khi nào? Bạn học được những bài học nào từ trải nghiệm đó?
Thứ Hai Trên Đường Đến Thành Đa-mách
Hãy đọc Công-vụ 9:3-9. Điều gì đã xảy ra khi Phao-lô đến thành Đa-mách? Lời của Đức Chúa Giê-su trong Công-vụ 9:5 có nghĩa gì? (Cũng hãy xem Công-vụ 26:14).
Khi Phao-lô và những người đi cùng gần đến thành Đa-mách, điều không mong muốn đã xảy ra: vào buổi trưa, họ bị một ánh sáng chói lòa từ thiên đàng chiếu xuống cùng một giọng nói. Điều này không chỉ đơn thuần là sự hiện thấy trong tâm trí của nhà tiên tri mà là một sự bày tỏ thiêng liêng, chỉ nhằm vào một mình Phao-lô. Những người đi cùng Phao-lô cũng thấy ánh sáng và nghe giọng nói phát ra, nhưng chỉ có Phao-lô bị mù và hiểu được lời đó. Ánh sáng là sự vinh hiển thiêng liêng của Đức Chúa Giê-su, là Đấng chỉ xuất hiện với Phao-lô trong phút chốc (Công-vụ 22:14). Mặt khác, Phao-lô ngụ ý rằng ông đã thấy Đức Chúa Giê-su, và khiến ông ngang bằng với mười hai môn đồ để làm chứng về sự sống lại của Ngài và có quyền phép của môn đồ (1 Cô-rinh-tô 9:1; 15:8)
Cuộc đối thoại với Đức Chúa Giê-su đã chinh phục Phao-lô nhiều hơn ánh sáng. Phao-lô đã bị thuyết phục hoàn toàn bởi việc bắt bớ con cái của Đức Chúa Giê-su thành Na-xa-rét. Ông đã làm những việc của Đức Chúa Trời trong việc rửa sạch người Do Thái khỏi những dị giáo nguy hiểm và khủng khiếp đó. Tuy nhiên, trong sự cố đó, ông không chỉ học được rằng Đức Chúa Giê-su đã sống mà còn được biết rằng chính ông đang bắt bớ Đấng Cơ-đốc qua việc bắt bớ dân sự của Ngài.
Khi nói chuyện với Sau-lơ, Đức Chúa Giê-su đã sử ngôn ngữ gốc của người Gờ-réc [Greek: người Hy Lạp] mà Phao-lô rất thông thạo: “Ngươi đá đến ghim nhọn thì khó chịu cho ngươi vậy” (Công-vụ 26:14). Hình ảnh cái ách cố gắng di chuyển trên thanh sắc dùng để điều khiển con bò. Khi điều đó xảy ra, con vật chỉ tự làm đau mình hơn.
Lời nói này có thể nói lên sự mâu thuẫn trong suy nghĩ của Phao-lô - Kinh Thánh đề cập đến điều này như việc làm của Đức Thánh Linh (Giăng 16:8–11) - có thể quay lại những điều đã xảy ra với Ê-tiên. “\Những bằng chứng nổi bật về sự hiện diện của Đức Chúa Trời với những kẻ tử vì đạo đã khiến cho Sau-lơ nghi ngờ về sự công bình với lý do ông đã cương quyết chống lại các tín đồ. Tư tưởng của ông đã được khuấy động cách sâu sắc. Trong sự bối rối, ông đã khẩn khoản yêu cầu những người hiểu biết những điều đó giúp hán xét mà ông tin cậy. Những lập luận của các thầy tế lễ và dạy luật cuối cùng đã cáo trách Ê-tiên là kẻ lộng ngôn, môn đồ đã tử vì Đấng Cơ-đốc là kẻ mạo danh, và những người đang hầu việc nơi thánh phải luôn đúng” – Phỏng trích bà Ellen G. White, Công-vụ, trang 112, 113.
Tại sao chú ý đến lương tâm của mình là khôn ngoan?
Thứ Ba Sự Viếng Thăm Của A-na-nia
Khi nhận ra mình đang hầu chuyện với chính Đức Chúa Giê-su, Sau-lơ đã hỏi một câu hỏi mà nó tạo cơ hội cho Đức Chúa Giê-su về điều Ngài đang tìm kiếm: “Lạy Chúa, tôi phải làm chi?” (Công-vụ 22:10). Câu hỏi cho thấy sự ăn năn theo quan điểm về hành động của ông đến thời điểm đó, nhưng quan trọng hơn hết, điều đó thể hiện sự sẵn sàng vô điều kiện để Đức Chúa Giê-su hướng dẫn cuộc sống của ông ngay lúc đó. Sau-lơ được dẫn đến thành Đa-mách để chờ đợi cho sự hướng dẫn sau đó.
Trong Công-vụ 9:10-19, Kinh Thánh cho thấy Chúa đã hành động để chuẩn bị cho Sau-lơ xứ Tạt-sơ trong đời sống mới để ông trở thành sứ đồ Phao-lô. Trong sự hiện thấy, Đức Chúa Giê-su đã giao cho A-na-nia nhiệm vụ thăm viếng Sau-lơ và đặt tay lên người để phục hồi thị giác của Sau-lơ. Tuy nhiên, A-na-nia đã biết Sau-lơ là ai, cũng như bao nhiêu anh em đồng công đã chịu đựng, và thậm chí mất mạng sống của họ vì sự bắt bớ của ông. Ông cũng được thông báo rõ ràng về lý do tại sao Sau-lơ ở Đa-mách, và thế là chắc chắn ông ta không muốn trở thành nạn nhân đầu tiên của Sau-lơ. Sự do dự của A-na-nia là điều dễ hiểu.
Nhưng A-na-nia không biết rằng Sau-lơ đã có một cuộc gặp gỡ riêng với Đức Chúa Giê-su, và điều đó đã thay đổi cuộc đời của ông mãi mãi. Ông không biết rằng, thay vì vẫn làm việc cho Tòa Công Luận, Sau-lơ – đến để A-na-nia xức dầu – đã được Đức Chúa Giê-su kêu gọi làm việc cho Ngài, nghĩa là Sau-lơ không còn làm việc cho Tòa Công Luận nữa, mà trở thành Công-vụ được Đức Chúa Giê-su chọn để mang phúc âm đến cho cả người Do Thái và dân Ngoại.
Hãy đọc Ga-la-ti 1:1,11,12. Những lời tuyên bố đặc biệt mà Phao-lô đưa ra về chức vụ sứ đồ của ông là gì?
Ở Ga-la-ti, Phao-lô nhấn mạnh rằng ông đã trực tiếp nhận được sứ điệp và chức vụ từ Đức Chúa Giê-su chứ không phải từ bất kỳ một người nào khác. Điều này không nhất thiết mâu thuẫn với vai trò của A-na-nia trong sự kêu gọi của ông. Khi thăm viếng Phao-lô, A-na-nia chỉ xác nhận nhiệm vụ mà Sau-lơ đã nhận được từ Đức Chúa Giê-su trên đường đến thành Đa-mách.
Thực ra, sự thay đổi về cuộc đời của Phao-lô là một sự kiện mà con người không thể nào chỉ định được. Chỉ có sự can thiệp của Đức Chúa Giê-su mới có thể giải thích được cách mà kẻ chống nghịch đột nhiên từ bỏ mọi thứ: niềm tin, danh tiếng, sự nghiệp, để tôn Ngài là Đấng Cứu Rỗi, là Chúa để trở thành sứ đồ tận tâm và sốt sắng.
Sự biến đổi của Sau-lơ đã minh họa cách hoạt động của ân điển tuyệt vời của Đức Chúa Trời như thế nào? Bạn có thể học được gì từ câu chuyện trên với những người mà bạn cho rằng sẽ chẳng bao giờ tỉnh ngộ được đức tin thật?
Thứ Tư Khởi Đầu Chức Vụ Của Phao-lô
Trong Công-vụ 9:19-25 cho thấy sau khi được biến đổi thành môn đồ, Phao-lô vẫn ở thành Đa-mách một thời gian, rồi trở về thành Giê-ru-sa-lem (Công-vụ 9:26). Tuy nhiên, Ga-la-ti 1:17, Phao-lô nói thêm rằng, ông đã đi đến thành A-ra-bi [một bán đảo ở tây nam châu Á, phần lớn là sa mạc, nằm giữa Biển Đỏ và Vịnh Ba Tư và được bao bọc ở phía bắc bởi Jordan và Iraq. Quê hương ban đầu của người Ả Rập và trung tâm lịch sử của Hồi giáo, nó bao gồm các tiểu bang Ả Rập Saudi, Yemen, Oman, Bahrain, Kuwait, Qatar và Các tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất], nơi mà ông sống tách biệt [ẩn cư] trong một thời gian dài “Ở đây, tại sa mạc, Phao-lô có nhiều cơ hội để học hỏi và suy gẫm” – Phỏng trích bà Ellen G. White Công Vụ Các Sứ Đồ, trang 125).
Hãy đọc Công-vụ 9:20-25. Lu-ca mô tả về sứ mạng truyền giáo của Phao-lô tại thành Đa-mách như thế nào? Việc đó diễn biến tốt như thế nào?
Mục tiêu ban đầu của Phao-lô khi rời khỏi thành Giê-ru-sa-lem với những bức thư từ các thấy tế lễ thượng phẩm là tìm bắt những người Do Thái bị bắt bớ đang lánh nạn trong các nhà hội tại Đa-mách (Công-vụ 9:2). Giờ đây, sau khi trở lại A-ra-bi, ông đã đến các nhà hội, không phải để bắt bớ dân sự mà bằng sự gia nhập vào; không phải để nhạo báng Đức Chúa Giê-su như kẻ lộng ngôn, mà để giới thiệu Ngài là Đấng Mê-si của Y-sơ-ra-ên. Những người đã nghe nói ông là kẻ bắt bớ, giờ đây lại nghe ông làm chứng về Đức Chúa Giê-su nghĩ gì? Ngoài kinh ngạc về người mà Sau-lơ thành Tạt-xơ đã trở thành và những điều ông làm cho Hội Thánh thì họ có thể làm gì? (Họ có thể không có ý kiến gì về ảnh hưởng của sự biến đổi mới này!)
Không thể chống lại Phao-lô, một số kẻ chống đối đã âm mưu giết ông (2 Cô-rinh-tô 11:32,33). Câu chuyện của Phao-lô cho thấy những kẻ chống đối đã tố cáo ông với chính quyền địa phương để đạt mục đích của họ. Tuy nhiên với sự giúp đỡ của các tín đồ, Phao-lô đã trốn thoát bằng một cái giỏ được thòng qua cửa sổ của một nhà xây trên tường thành.
Ngay từ đầu Phao-lô đã biết rằng ông sẽ phải đối diện với nhiều thử thách (Công-vụ 9:16). Sự chống đối, bắt bớ và sự chịu đựng từ nhiều khía cạnh khác nhau liên tục xảy ra trong chức vụ của ông nhưng không gì có thể làm lay động đức tin và nghĩa vụ của ông, bất chấp những khó khăn và thử thách mà thực tế ông đã đối mặt trong mỗi bước đi của đời sống mới trong Đấng Cơ-đốc (2 Cô-rinh-tô 4:8,9)
Bất chấp những sự chống đối và đấu tranh, Phao-lô đã không bỏ cuộc. Chúng ta có thể học để được giống như Phao-lô khi liên quan đến đức tin như thế nào? Làm thế nào để kiên trì trước những sự chống đối và cản trở?
Thứ Năm Trở Về Thành Giê-ru-sa-lem
Trốn thoát khỏi thành Đa-mách, Pha-lô trở về thành Giê-ru-sa-lem lần đầu tiên kể từ khi ông rời khỏi để đi bắt bớ. Điều này xảy ra ba năm sau khi ông được biến đổi (Ga-la-ti 1: 18). Thật không dễ để trở về, ông đã đối diện với nhiều khó khăn từ trong và ngoài Hội Thánh.
Hãy đọc Công-vụ 9: 26-30. Điều gì đã xảy ra với Phao-lô khi ông trở lại thành Giê-ru-sa-lem?
Tại Giê-ru-sa-lem, Phao-lô đã cố gắng kết hợp với các sứ đồ. Mặc dù lúc bấy giờ, ông đã trở thành Cơ đốc nhân ba năm, tin đồn về sự biến đổi của ông vẫn khiến cho các môn đồ không thể tin được. Giống như A-na-nia trước đây, họ cũng hoài nghi. Họ sợ rằng đó chỉ là một phần của một kế hoạch hoàn chỉnh cẩn thận. Đó là Ba-na-ba, người Lê-vi từ Chíp-rơ [Cyprus là một quốc đảo ở đông nam châu Âu, ở Biển Đông Địa Trung Hải, khoảng 50 dặm (80 km) về phía nam bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ; ngôn ngữ chính thức: tiếng Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ].(Công-vụ 4:36,37). Một người Hê-lê-nít, người đã phá vỡ sự chống đối của các sứ đồ, và giới thiệu Phao-lô cho họ. Họ cũng ngạc nhiên với những gì Đức Chúa Trời đã làm với Phao-lô. Đó là khi họ nhận thấy rằng ông thật là thành thật.
Tuy nhiên, sự chống đối như vậy sẽ không bao giờ biến mất hoàn toàn, nếu không phải do những hành động ở quá khứ của Phao-lô trong việc bắt bớ Hội Thánh thì ít nhất là vì phúc âm mà ông rao giảng. Như trường hợp của Ê-tiên, những tín đồ người Giu-đa, kể cả các sứ đồ, khá chậm trong việc hiểu toàn bộ niềm tin Cơ đốc giáo, một niềm tin không còn dựa vào hệ thống lễ nghi của Cựu ước, đặc biệt là trong hệ thống dâng sinh tế đã mất tính hợp pháp vì sự chết của Đức Chúa Giê-su trên thập tự giá. Mối liên hệ mật thiết giữa Phao-lô với các Hội Thánh ở Giu-đê luôn là những tín đồ Hê-lê-nít: ngoài Ba-na-ba, còn có Phi-líp, một trong bảy thầy phó tế (Công-vụ 21:8), và Ma-na-sôn, quê tại Chíp-rơ (Công-vụ 21:16). Vài năm sau đó, những người lãnh đạo Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem vẫn buộc tội Phao-lô vì giảng dạy tín lý mà Ê-tiên đã giảng trước đó (Công-vụ 21:21)
Phao-lô đã ở tại Giê-ru-sa-lem suốt 15 ngày (Ga-la-ti 1:18). Phao-lô dường như đã quyết định chia sẻ phúc âm cho những người Do Thái, là những người không tin mà trước đó ông đã xúi giục họ chống lại Ê-tiên. Tuy nhiên, như với Ê-tiên, những nỗ lực của ông đã gặp phải sự phản đối mạnh mẽ, đưa ra một mối đe dọa với cuộc sống của mình. Trong sự hiện thấy, Đức Chúa Giê-su bảo ông hãy rời khỏi Giê-ru-sa-lem vì sự an toàn của bản thân (Công-vụ 22:17-21).Với sự giúp đỡ của các anh em đồng công, ông đã đi xuống thành phố cảng Cê-sê-ra [Caesarea là một cảng cổ trên bờ biển Địa Trung Hải của Israel, một trong những thành phố chính của Roman Palestine], và từ đó trở về quê hương của ông là xứ Si-li-si, nơi ông sẽ ở lại vài năm trước khi bắt đầu cuộc hành trình của mình.
Thứ Sáu Nghiên cứu bổ túc
NGHIÊN CỨU BỔ TÚC
“Một vị tướng đã bị chết trong trận chiến thất bại của mình, nhưng cái chết của ông ta không làm tăng thêm sức mạnh của kẻ thù. Khi một người xuất chúng tham gia vào phe đối nghịch, sự phục vụ của người đó không chỉ bị mất đi, mà còn gia tăng thêm lợi thế nhất định cho những người đó. Sau-lơ người Tạt-sơ, trên đường đến thành Đa-mách, có thể dễ dàng bị đánh chết bởi Chúa, và quyền lực bắt bớ sẽ bị giảm sức mạnh đi nhiều. Nhưng Đức Chúa Trời, với sự dự bị của Ngài, không chỉ tha thứ cho Sau-lơ, mà còn biến đổi ông, chuyển sự chiến thắng của kẻ thù thành sự chiến thắng của Đấng Cơ-đốc” – Phỏng trích bà Ellen G. White, sách Công Vụ Các Sứ Đồ, trang 124.
“Đấng Cơ-đốc đã ra lệnh cho các sứ đồ ra đi và dạy dỗ muôn dân; nhưng những sự dạy dỗ mà họ đã nhận được từ Đức Chúa Giê-su trước đó khiến họ gặp khó khăn để hiểu hết lời của Thầy của mình, vì thế họ đã làm theo một cách chậm chạp. Họ đã tự gọi mình là con cháu của Áp-ra-ham, và tự cho mình là những người thừa kế của lời hứa. Vài năm sau khi Đức Chúa Giê-su về trời, điều đó đã không còn xảy ra. Tâm trí của họ đã được mở ra để hiểu được ý định của Đấng Cơ-đốc trong lời của Ngài rằng họ phải làm việc vì sự biến đổi cho cả người Do Thái và dân Ngoại” - Phỏng trích Ellen G. White, sách sơ lược về cuộc đời của Phao-lô, trang 38.
Câu Hỏi Thảo Luận:
Hãy suy ngẫm thêm câu hỏi mà Đức Chúa Giê-su đã hỏi Phao-lô tại thành Đa-mách “sao ngươi bắt bớ ta?” (Công-vụ 9:4). Với Phao-lô, câu hỏi này muốn ám chỉ rằng Đức Chúa Giê-su của Na-xa-rét đã thật sự phuc sinh từ cõi chết. Hơn thế nữa, điều đó cũng chứng minh mối liên kết tâm linh giữa Đức Chúa Giê-su với Hội Thánh của Ngài (xem thêm Ma-thi-ơ 25:34-45). Mối liên quan rõ ràng: những gì làm hại cho Hội Thánh thì cũng làm hại đến chính Ngài. Điều này có ý nghĩa gì với chúng ta ngày nay?
“Làm chứng” về Đức Chúa Giê-su bao gồm chịu khổ vì Ngài. Không phải ngẫu nhiên mà từ “làm chứng” [martys] của tiếng Hy Lạp được kết hợp với “chết vì nghĩa” [martyrdom]. Chịu khổ vì Đức Chúa Giê-su có ý gì?
Châm-ngôn La-tin có câu: “Credo ut intelligam”, có nghĩa là: “Tôi tin rằng hầu cho tôi có thể hiểu”. Ý tưởng này giúp chúng ta hiểu những gì xảy ra với Sau-lơ tại thành Đa-mách như thế nào? Đó là, trước khi được biến đổi, trước khi có đức tin nơi Đức Chúa Giê-su, Phao-lô đã không hiểu. Chỉ sau khi ông trải nghiệm được thì ông mới thấu hiểu. Chúng ta có thể rút ra bài học nào ở đây để áp dụng khi chúng ta thất vọng với những người không tin vào những lẽ thật?