Bài Học 3 · 14 – 20 Tháng 7

Trong thời kỳ Hội Thánh ban đầu

Kinh Thánh Nghiên Cứu: Công-vụ 2:42–46; 3:1–26; 4: 1–18,34,35; 5:1–11,34–39

"Ngày nào cũng vậy, cứ chăm chỉ đến đền thờ; còn ở nhà, thì bẻ bánh và dùng bữa chung với nhau cách vui vẻ thật thà, ngợi khen Đức Chúa Trời và được đẹp lòng cả dân chúng" — Công-vụ 2:46,47
Sa-bát Trong Thời Kỳ Hội Thánh Ban Đầu

Kinh Thánh nghiên cứu

Công-vụ 2:42–46; 3:1–26; 4: 1–18,34,35; 5:1–11,34–39.

Câu gốc

“Ngày nào cũng vậy, cứ chăm chỉ đến đền thờ; còn ở nhà, thì bẻ bánh và dùng bữa chung với nhau cách vui vẻ thật thà, ngợi khen Đức Chúa Trời và được đẹp lòng cả dân chúng” (Công-vụ 2:46,47).

Mục đích cấp bách của Hội Thánh ban đầu không thể bị phá hỏng. Cách thức mà Đức Chúa Giê-su trả lời câu hỏi liên quan đến sự thành lập nước của Đấng Mê-si, Ngài mở ngõ cho vấn đề thời gian (Công-vụ 1:6–8), có thể hiểu điều đó có nghĩa rằng mọi chuyện đều phụ thuộc vào sự đến của Đức Thánh Linh và sự hoàn thành của chức vụ sứ đồ. Vì vậy, khi đến ngày Lễ Ngũ Tuần, những người tin kính ban đầu nghĩ rằng mọi việc đã được trọn: họ đã nhận được Đức Thánh Linh và rao truyền phúc âm cho toàn thế gian. Không phải các sứ đồ đã rời khỏi thành Giê-ru-sa-lem và đi khắp nơi trên thế gian mà là cả thế gian đã đến cùng họ (Công-vụ 2:5–11).

Kế đến là việc Hội Thánh tách rời khỏi những của cải vật chất. Cảm thấy rằng thời gian rất ngắn ngủi, nên họ đã bán hết tất cả những tài sản của mình và hiến dâng chính mình để học hỏi và thông công cùng nhau trong khi vẫn tiếp tục làm chứng về Đức Chúa Giê-su, nhưng chỉ ở trong nội thành Giê-ru-sa-lem mà thôi. Cuộc sống cộng đồng mà họ phát triển, mặc dù rất hiệu quả trong việc giúp đỡ những người nghèo khổ, chẳng bao lâu sau trở thành một nan đề, và Chúa đã phải can thiệp để giữ cho Hội Thánh được hiệp nhất. Đây cũng là lúc mà các sứ đồ bắt đầu thấy mình phải đương đầu với những sự chống đối. Dù vậy, sau tất cả những khó khăn đó, đức tin của họ vẫn không hề lay chuyển.

Thứ Nhất Dạy Dỗ Và Thông Công

Sau Lễ Ngũ Tuần, Lu-ca đã chuyển từ lối tường thuật sang lối mô tả chung về đời sống nội tâm của Hội Thánh tại thành Giê-ru-sa-lem. “Vả, những người ấy bền lòng giữ lời dạy của các sứ đồ, sự thông công của anh em, lễ bẻ bánh, và sự cầu nguyện” (Công-vụ 2:42). Bốn mục được được xem như cơ bản là dạy dỗ và thông công. Theo như câu 46, sự dạy dỗ được diễn ra trong đền thờ, và sự thông công là ở nhà riêng.

Sân đền thờ được bao quanh bởi những mái vòm là nơi thường được sử dụng để cho các giáo sĩ Do Thái giảng dạy. Việc những người tin kính hết lòng nghe theo những sự dạy dỗ của các sứ đồ cho thấy rằng ân tứ của Đức Thánh Linh không phải đưa dắt họ đến với một tôn giáo trầm lắng nhưng là một quá trình học hỏi đầy nhiệt huyết theo gương các sứ đồ với những sự dạy dỗ đầy uy quyền được minh chứng bởi những phép lạ (Công-vụ 2:43).

Sự thông công tâm linh là một dấu ấn đặc biệt khác của những Cơ đốc nhân thuở ban đầu. Những tín hữu luôn ở cùng nhau, không chỉ trong đền thờ mà còn ở nhà riêng nữa, họ chia sẻ với nhau những bữa ăn, Tiệc Thánh, và cầu nguyện cùng nhau (Công-vụ 2:42,46). Bởi những cơ hội gặp gỡ mỗi ngày, những Cơ đốc nhân thuở ban đầu bày tỏ niềm hy vọng của họ nơi sự trở lại nhanh chóng của Đức Chúa Giê-su, khi sự thông công của Ngài với họ sẽ được phục hồi lại trong nước của Đấng Mê-si (Ma-thi-ơ 26:29).

Nhà riêng đóng một vai trò quan trọng trong đời sống của Hội Thánh ban đầu. Những người tin kính vẫn tham dự các nghi lễ hàng ngày tại đền thờ (Công-vụ 3:1) và vào những ngày Sa-bát họ đương nhiên cũng sẽ vào trong các nhà hội cùng với những người Do Thái khác (Gia-cơ 2:2), nhưng những yếu tố đặc biệt của lòng thành kính Cơ đốc giáo được thực hiện tại nhà riêng.

Đọc Công-vụ 2:44,45; 4:34,35. Một khía cạnh đặc biệt trong sự thông công của các Cơ đốc nhân thuở ban đầu là gì?

Tin tưởng rằng thời kỳ cuối cùng đã gần kề, họ quyết định rằng tất cả những tài sản vật chất, những “của cải cá nhân” không còn quan trọng nữa. Vì thế, việc góp của cải để sử dụng chia sẻ chung dường như là cách thích hợp nhất. Không có lý do gì để lo lắng về ngày mai, như thể chính Đấng Mê-si sẽ cung cấp những sự cần dùng cho họ trong vương quốc Mê-si (Lu-ca 22:29,30). Sự san sẻ này đã mang lại cho họ một kinh nghiệm sâu sắc hơn về sự hiệp nhất, ngoài việc trở thành một tấm gương tuyệt vời về sự rộng rãi của Cơ đốc nhân.

Bạn rộng rãi thế nào với những gì mà mình đã nhận được từ Chúa?

Thứ Hai Sự Chữa Lành Người Què

Trong Công-vụ 3:1, Phi-e-rơ và Giăng đi đến đền thờ để dự buổi lễ lúc ba giờ. Điều này cho thấy đức tính cơ bản của người Do Thái về đức tin của Hội Thánh trong thời kỳ ban đầu. Tức là, các sứ đồ không phải chỉ đi đến đền thờ để giảng dạy hoặc tìm thêm những người cải đạo mới mà thôi, mà bởi vì Phi-e-rơ và Giăng vẫn là người Do Thái và vì thế, vẫn vâng giữ theo những lẽ nghi tôn giáo của người Do Thái (Công-vụ 20:16; 21:17–26), ít ra là cho đến thời điểm này. Tại nơi đó, họ đã thực hiện một phép lạ kinh ngạc (Công-vụ 3:1–10), và điều đó đã mang lại cho Phi-e-rơ một cơ hội để giảng một bài giảng khác.

Đọc Công-vụ 3:12–26. Một vài điểm chính mà Phi-e-rơ đã nhấn mạnh trong bài giảng của ông là gì?

Năm điểm chính trong sự giảng dạy Cơ đốc nhân thuở ban đầu: Đức Chúa Giê-su là Đấng Mê-si chịu đau đớn (Công-vụ 3:18); Đức Chúa Trời đã phục sinh Ngài (Công-vụ 3:15); Đức Chúa Giê-su đã thăng thiên về trời (Công-vụ 3:13); Ngài sẽ trở lại (Công-vụ 3:20); và cần phải ăn năn để được tha thứ tội lỗi (Công-vụ 3:19).

Bằng nhiều cách khác nhau, đây cũng chính là sứ điệp mà ngày nay chúng ta đang rao truyền trên toàn thế giới, ngay cả khi thời cuộc thay đổi. Các sứ đồ ngày ấy vẫn đang trong bối cảnh Do Thái. Khi mà thay vì phải đổi sang tôn giáo khác, cơ bản họ chỉ cần “di trú” từ giao ước cũ sang giao ước mới. Là một phần của dân sự Chúa, họ phải chấp nhận Đấng Mê-si và trải qua sự tái sanh dẫn đến sự thật lòng chấp nhận Đức Chúa Giê-su.

Ngày nay, tuy rằng tình thế đã khác đi, nhưng thông điệp về cơ bản vẫn là như vậy: Đấng Cơ-đốc đã chết vì tội lỗi của chúng ta, đã được phục sinh và Ngài sẽ trở lại. Vậy thì, điều này có nghĩa là chúng ta có thể tìm thấy được sự cứu rỗi ở trong Ngài. Ngay trong nội dung của sứ điệp Ba Thiên Sứ trong Khải Huyền đoạn 14, Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc chịu đóng đinh, Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc đã sống lại, và Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc sẽ trở lại phải là trọng tâm của những sứ điệp mà chúng ta rao truyền.

“Trong số những người tuyên xưng là Cơ đốc nhân, những người Cơ-đốc Phục Lâm nên dẫn đầu trong việc tôn cao Đấng Cơ-đốc trước thế gian. Việc rao truyền sứ điệp của vị thiên sứ thứ ba đòi hỏi phải đưa rao lẽ thật ngày Sa-bát. Lẽ thật này, cùng với nhiều điều khác trong sứ điệp, phải được rao truyền; nhưng trọng tâm của sức hút là Đức Chúa Giê-su, không được bỏ lỡ. Chính tại thập tự giá của Đấng Cơ-đốc mà lòng nhân từ và lẽ thật gặp nhau, cũng như sự công bình và sự bình an khẽ chạm vào nhau. Tội nhân phải được dẫn dắt để nhìn lên đồi Sọ; với niềm tin đơn sơ của một đứa trẻ, người phải tin tưởng nơi công trạng của Đấng Cứu Chuộc, chấp nhận sự công bình của Ngài, tin vào sự nhân từ Ngài” - Ellen G. White, Gospel Workers, trang 156, 157.

Thứ Ba Sự Chống Đối Dấy Lên

Không lâu sau, sự thành công của Hội Thánh đã dấy lên sự chống đối của một vài nhà lãnh đạo Giê-ru-sa-lem. Đền thánh Giê-ru-sa-lem được điều hành bởi thầy cả thượng phẩm và những kẻ theo người, hầu hết là người Sa-đu-sê. Thầy cả thượng phẩm cũng là trưởng tòa công luận, thành phần đa số là người Sa-đu-sê và Pha-ri-si trong thời bấy giờ. Người Sa-đu-sê không tin vào sự phục sinh, vậy nên họ bối rối rất nhiều khi Phi-e-rơ và Giăng giảng dạy rằng Đức Chúa Giê-su đã phục sinh từ cái chết. Các sứ đồ bị bắt giam cho đến ngày hôm sau, khi họ được mang đến trước tòa công luận (Công-vụ 4:1–7).

Đọc Công-vụ 4:1–18. Khi được hỏi họ làm những điều này bởi những quyền phép nào, Phi-e-rơ đã trả lời ra sao? Sứ điệp nào mà Phi-e-rơ nhấn mạnh làm các nhà lãnh đạo run sợ?

Các nhà lãnh đạo Do Thái đưa ra việc thách thức thẩm quyền nhằm dấy lên một mối quan tâm về quyền lực. Tuy nhiên, Phi-e-rơ tuyên bố rằng không chỉ phép lạ được thực hiện trong danh Đức Chúa Giê-su mà sự cứu rỗi cũng đến từ Ngài. Các sứ đồ đang đứng trước những người Do Thái quyền lực nhất, nhưng họ đang phụng sự một quyền lực cao hơn nhiều. Những người này là những người đánh cá bình dị, dốt nát ở Ga-li-lê; thế nhưng lòng can đảm và tài hùng biện của họ làm những người có mặt ở đó kinh ngạc. Các nhà lãnh đạo không nhận ra được rằng các môn đồ đều tràn đầy Đức Thánh Linh, chính xác như những gì Đức Chúa Giê-su đã nói trước đó (Ma-thi-ơ 10:16–20).

Không thể phủ nhận phép lạ - người què được chữa lành đã trình diện để tất cả mọi người đều có thể nhìn thấy ông - tòa công luận ra lệnh cho các sứ đồ ngừng rao giảng. Họ sợ hãi sứ điệp, e ngại lòng yêu mến của mọi người đối với các sứ đồ ngày một gia tăng. Thất bại trong việc ước định các bằng chứng một cách đúng đắn, họ để định kiến và ước muốn phòng vệ điều khiển hành động của mình.

Những lời sau cùng của Phi-e-rơ là một trong những hạt châu quý giá trong sách Công-vụ: “Chính các ông hãy suy xét, trước mặt Đức Chúa Trời có nên vâng lời các ông hơn là vâng lời Đức Chúa Trời chăng? Vì, về phần chúng tôi, không có thể chẳng nói về những điều mình đã thấy và nghe” (Công-vụ 4:19,20).

Hãy nghĩ đến việc khát khao quyền lực và mối nguy hiểm tiềm tàng của nó ở bất cứ mức độ nào và trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Là những Cơ đốc nhân được kêu gọi phụng sự, tại sao chúng ta phải cẩn thận về bẫy quyền lực?

Thứ Tư A-na-nia Và Sa-phi-ra

Việc chia của cải trong Hội Thánh thuở ban đầu không phải là điều bắt buộc; đó không phải là một tình thế bắt buộc cho các tín hữu. Thế nhưng chắc chắn có nhiều tấm gương tự nguyện rộng rãi đã truyền hứng khởi cho cả cộng đồng. Một trong những tấm gương ấy là Ba-na-ba (Công-vụ 4:36,37), người sau này sẽ đóng một vai trò quan trọng trong quyển sách.

Tuy nhiên, cũng có những tấm gương tiêu cực đe dọa sự hiệp nhất của Hội Thánh từ bên trong, ngay khi những tấn công từ phía ngoài vừa bắt đầu.

Đọc Công-vụ 5:1–11. Chúng ta rút ra được những bài học gì trong câu chuyện này?

Mặc dù Lu-ca không nói chi tiết, nhưng chẳng có sự nghi vấn nào về việc vấn đề chính của A-na-nia và Sa-phi-ra không phải là nỗ lực giữ lại tiền bạc, mà là sự lừa dối trong cộng đồng. Tội lỗi của họ không phải là kết quả của một hành động bốc đồng, nhưng là một kế hoạch được lên cẩn thận, một hành động cố tình “thử Thánh Linh của Chúa” (Công-vụ 5:9). Họ không có bổn phận phải bán tài sản để dâng cho Hội Thánh. Vì vậy, khi họ hứa nguyện sẽ thực hiện điều này, có lẽ họ đang hành động chỉ vì quyền lợi của mình, có thể là cố gắng thu hút nhiều sự ảnh hưởng trong vòng anh em với hành động từ thiện mà trông có vẻ đáng được tuyên dương.

Điều này dường như giúp chúng ta hiểu được tại sao Chúa lại phạt họ nặng đến vậy. Cho dù đời sống cộng đồng của Hội Thánh là kết quả của sự tin chắc rằng Đức Chúa Giê-su sắp trở lại, thì một hành động như của A-na-nia và Sa-phi-ra trong giai đoạn sớm như thế này là sự coi rẻ tầm quan trọng của sự trung tín với Đức Chúa Trời và trở nên một tấm gương xấu trong vòng tín hữu. Kinh Thánh không đề cập đến việc A-na-nia được cho cơ hội để ăn năn như trong trường hợp của Sa-phi-ra (Công-vụ 5:8).

Tóm lại là từ đầu đến cuối, họ đã phạm tội, và tội lỗi là một vấn đề nghiêm trọng trong mắt Đức Chúa Trời (Ê-xê-chi-ên 18:20, Rô-ma 6:23), mặc dù Ngài không phải lúc nào cũng trừng phạt ngay lập tức. Sự thật là hình phạt thường hay được trì hoãn để liên tục nhắc nhở chúng ta rằng Chúa nhân từ dường nào (2 Phi-e-rơ 3:9).

Tại sao phải luôn cẩn thận về việc chạm đến giới hạn của ân điển, như hai tín hữu của Hội Thánh thuở ban đầu đã làm?

Thứ Năm Sự Bắt Bớ Lần Thứ Hai

Nếu các sứ đồ có thể được sử dụng để mang sự xét đoán của Chúa đối với tội lỗi, như trong trường hợp của A-na-nia và Sa-phi-ra, thì họ cũng được sử dụng để mang ân điển Đức Chúa Trời đến cho các tội nhân. Chức vụ chữa lành đầy quyền năng của họ (Công-vụ 5:12–16) là một bằng chứng xác thực rằng Thánh Linh Đức Chúa Trời đang làm việc qua họ. Thậm chí cái bóng của Phi-e-rơ cũng sẽ chữa lành người bệnh. Sách phúc âm Lu-ca cũng kể về một người phụ nữ được chữa lành bởi sờ vào áo của Đức Chúa Giê-su (Lu-ca 8:43, 44). Tuy nhiên, Lu-ca không nói rằng cái bóng của Phi-e-rơ thật sự có quyền năng chữa bệnh, nhưng những người thời bấy giờ tin là như vậy. Dù vậy, ngay cả khi sự mê tín của dân chúng dấy lên, Đức Chúa Trời vẫn ban phát ân điển của Ngài.

Ấy thế mà, càng nhiều sứ đồ được dầy dẫy Đức Thánh Linh, những dấu hiệu và phép lạ tăng lên gấp bội, thì những nhà lãnh đạo tôn giáo lại càng ghen ghét. Điều này khiến họ bắt bớ các sứ đồ lần thứ hai (Công-vụ 5:17,18). Ngay sau khi họ trốn thoát đầy nhiệm mầu lần trước (Công-vụ 5:19–24) và một bài giảng mạnh mẽ khác của Phi-e-rơ, nhấn mạnh rằng họ nên “thà phải vâng lời Đức Chúa Trời còn hơn là vâng lời người ta” (Công-vụ 5:29), một vài nhà cầm quyền bắt đầu nói rằng có lẽ một quyền lực siêu nhiên nào đó đang hành động.

Đọc Công-vụ 5:34–39. Ga-ma-li-ên đã can ngăn tòa công luận như thế nào để họ khỏi giết các sứ đồ?

Toà công luận được điều hành bởi những người Sa-đu-sê, với những người Pha-ri-si chiếm thiểu số. Ga-ma-li-ên là một người Pha-ri-si và là một luật sư. Ông được tôn trọng trong vòng dân Do Thái đến nỗi người ta gọi ông là “Ra-ban” (thầy của chúng ta) thay vì chỉ đơn giản là “Ra-bi” (thầy của tôi). Phao-lô là một trong những học trò của ông (Công-vụ 22:3).

Ga-ma-li-ên nhắc lại hai phong trào nổi loạn mới xảy ra cách đó không lâu trong lịch sử Y-sơ-ra-ên mà đã thu hút rất nhiều người đi theo và gây nên sự náo động. Tuy nhiên, những người lãnh đạo phong trào đã bị giết và những kẻ đi theo đã hoàn toàn bị giải tán. Bài học ông rút ra là nếu phong trào Cơ đốc nhân xuất phát từ con người, nó cũng sẽ sớm biến mất. Mặt khác, nếu đây là một phong trào của Đức Chúa Trời, như các môn đồ đã tuyên bố, thì làm sao mà người ta chống lại được? Lời khuyên của Ga-ma-li-ên đầy sức thuyết phục. Các sứ đồ bị đánh đập và một lần nữa bị cấm nói về danh Đức Chúa Giê-su.

Câu chuyện này cho chúng ta thấy gì về lời khuyên cần thiết và hữu ích? Làm thế nào để chúng ta cởi mở hơn trong việc nhận lấy lời khuyên ngay cả khi có lẽ chúng bao gồm những thứ chúng ta không muốn nghe?

Thứ Sáu Nghiên cứu bổ túc

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC

“Chúng ta là những quản gia, được Chúa ủy thác để coi sóc tài sản và quyền lợi của Ngài trong lúc Ngài đi vắng, đó là những thứ mà Ngài đã đến thế gian để phục vụ. Ngài đã trở về thiên đàng, để lại cho chúng ta đảm trách, và Ngài trông mong chúng ta tỉnh thức và chờ đợi Ngài trở lại. Chúng ta hãy trung tín trong niềm tin của mình, kẻo khi Ngài trở lại thình lình lại thấy chúng ta đang ngủ” - Ellen G. White, Những Lời Chứng Cho Hội Thánh, quyển 8, trang 37.

“Dân sự cần phải khắc sâu sự thiêng liêng của lời hứa nguyện và lời cam kết của bản thân vì duyên cớ Đức Chúa Trời. Những lời cam kết này không phải là một bắt buộc phải tuân giữ như một tờ cam kết giữa con người với nhau. Nhưng liệu một lời hứa có ít thiêng liêng và ràng buộc bởi đó là một lời hứa nguyện với Chúa hay không? Vì thiếu một vài thuật ngữ chuyên môn, và không thể bị cưỡng chế bởi pháp luật, liệu Cơ đốc nhân có thể bất chấp giao ước mà mình đã thốt lên bằng lời nói không? Không một lời cam kết hoặc cầm buộc hợp pháp nào có tính bắt buộc hơn là một giao ước được thực hiện vì duyên cớ Đức Chúa Trời” - Ellen G. White, SDA Kinh Thánh Lược Khảo, quyển 6, trang 1056.

Câu Hỏi Thảo Luận:

Trong các thứ mà Đức Chúa Giê-su để lại, hai di sản ngay trước mắt cho các môn đồ là niềm trông đợi về sự quay trở lại mau chóng của Ngài và một sứ điệp cho toàn thể thế gian. Hai nhân tố này ảnh hưởng như thế nào đến sứ mạng và lời kêu gọi rao giảng phúc âm cho toàn thế gian của chúng ta?

Ai đó đã từng nói, “Chúng ta nên sẵn sàng như thể Đức Chúa Giê-su sẽ đến vào hôm nay, nhưng hãy tiếp tục làm việc trong sứ mạng Hội Thánh như thể Ngài sẽ đến trong vài trăm năm nữa”. Sự khôn ngoan nào chúng ta có thể tìm thấy ở đây? Làm sao chúng ta áp dụng sự kêu gọi này trong đời sống của chính mình?

Tại sao sự sống, sự chết, phục sinh và trở lại của Đức Chúa Giê-su phải là trọng tâm của mọi sự giảng dạy của chúng ta? Hoặc nhìn từ một góc độ khác: Những điều chúng ta rao giảng có ích gì nếu không liên quan đến những sự kiện này?

Tại sao câu chuyện của A-na-nia và Sa-phi-ra lại dạy cho chúng ta rằng việc thấu hiểu tấm lòng của người khác khó khăn đến dường nào?