Bài Học 11 · 8 – 14 Tháng 9

Bị bắt tại Giê-ru-sa-lem

Kinh Thánh Nghiên Cứu: Công-vụ 21; Rô-ma 2:28, 29; Ga-la-ti 5:6; Công-vụ 22; Công-vụ 23:1–30; Ma-thi-ơ 22:23–32

"Qua đêm sau, Chúa hiện đến cùng người mà phán rằng: Hãy giục lòng mạnh mẽ, ngươi đã làm chứng cho ta tại thành Giê-ru-sa-lem thể nào, thì cũng phải làm chứng cho ta tại thành Rô-ma thể ấy" — Công-vụ 23:11
Sa-bát Bị Bắt Tại Giê-ru-sa-lem

Kinh Thánh nghiên cứu

Công-vụ 21; Rô-ma 2:28, 29; Ga-la-ti 5:6; Công-vụ 22; Công-vụ 23:1–30; Ma-thi-ơ 22:23–32.

Câu gốc

“Qua đêm sau, Chúa hiện đến cùng người mà phán rằng: Hãy giục lòng mạnh mẽ, ngươi đã làm chứng cho ta tại thành Giê-ru-sa-lem thể nào, thì cũng phải làm chứng cho ta tại thành Rô-ma thể ấy” (Công-vụ 23:11).

Chẳng bao lâu sau chuyến hành trình truyền giáo thứ nhất của Phao-lô, có sự bất đồng xảy ra trong Hội Thánh về cách người Ngoại được tiếp nhận đức tin (Công-vụ 15:1-5). Có lẽ cảm nhận được một sự xung đột sẽ xảy ra, nên Phao-lô đã lập một kế hoạch để đẩy mạnh sự hiệp nhất trong Hội Thánh. Bởi vì tại hội nghị ông được nhắc nhở phải nhớ đến người nghèo (Ga-la-ti 2:10), nên ông quyết định mời những Hội Thánh người Ngoại đóng góp tài chánh để giúp đỡ những anh em ở Giu-đê: “Về việc góp tiền cho thánh đồ” (1 Cô-rinh-tô 16:1), ông hy vọng có thể việc này là cầu nối giữa hai nhóm trong Hội Thánh.

Điều này có thể giải thích về việc ông quyết định đi đến Giê-ru-sa-lem trong cuối chuyến hành trình thứ ba, dù sẽ gặp những rủi ro. Một mặt, ông yêu mến tha thiết những anh em người Giu-đa (Rô-ma 9:1-5); mặt khác, ông khao khát sự hiệp nhất trong Hội Thánh (Ga-la-ti 3:28; 5:6). Cả người Giu-đa và người Ngoại đều được cứu bởi đức tin chứ không phải bởi việc làm của luật pháp (Rô-ma 3:28-30), nếu vì những đòi hỏi của luật pháp mà có bất cứ sự phân biệt nào giữa họ, thì điều đó đi ngược lại với tính chất của phúc âm (Ê-phê-sô 2:11-22).

Hãy theo Phao-lô khi ông bước vào giai đoạn mới của cuộc sống và công việc truyền giáo của ông.

Thứ Nhất Gặp Các Lãnh Đạo Ở Giê-ru-sa-lem

Khi Phao-lô đến Giê-ru-sa-lem, ông được những tín hữu cùng cộng tác với Ma-na-sôn đón tiếp nồng nhiệt, ông ở nhà của Ma-na-sôn cùng với họ (Công-vụ 21:16,17).

Trong Công-vụ 21:18-22, Gia-cơ và các trưởng lão bày tỏ sự lo lắng về tai tiếng của Phao-lô trong vòng các tín hữu Giu-đa tại quê hương, họ là những người rất sốt sắng về luật pháp Môi-se. Họ được thông báo rằng ông dạy cho những người Giu-đa cải đạo đang sống ở hải ngoại bỏ luật pháp Môi-se, dạy họ “chớ nên làm phép cắt bì cho con mình, hay là ăn ở theo thói tục mình nữa” (Công-vụ 21:21).

Dĩ nhiên, thật sự không phải là như vậy. Những gì Phao-lô dạy là: về sự cứu rỗi thì chịu cắt bì hay không chịu cắt bì thì cũng không có ý nghĩa gì, cả người Giu-đa hay người Ngoại đều được cứu bởi đức tin trong Đức Chúa Giê-su (Rô-ma 2:28,29; Ga-la-ti 5:6; Cô-lô-se 3:11). Điều này hoàn toàn khác với việc khuyến khích người Giu-đa xem thường luật pháp và những yêu cầu của luật pháp. Dĩ nhiên, vâng phục tự nó không có nghĩa là vâng giữ luật pháp một cách mù quán, mặc dầu nó có thể cố tình bị bóp méo để phù hợp với ý như vậy.

Đọc Công-vụ 21:23-26. Phao-lô giải thích ông vẫn là người Giu-đa trung thành như thế nào?

Phao-lô được khuyên phải hành động một cách khôn ngoan. Ông nên chứng tỏ những tin đồn về ông là sai sự thật bằng cách làm điều gì đó rất Giu-đa như là: bảo lãnh lời thề Na-xi-rê cho vài tín hữu Giu-đa. Lời thề này là một hành vi đặc biệt của một người mộ đạo, qua đó một người Giu-đa dâng hiến chính mình cho Đức Chúa Trời.

Thật không may, Phao-lô đã nhượng bộ. Những anh hùng, kể cả những anh hùng đức tin, vẫn có những sai lầm, chúng ta có thể thấy trong đời sống của Áp-ra-ham, Môi-se, Phi-e-rơ, và nhiều người khác. Cũng có thể cho rằng Phao-lô làm theo những nguyên tắc cư xử giống như một người Giu-đa khi đối xử với những người Giu-đa (1 Cô 9:19-23), hoặc chính ông đã mắc lời thề trước đó không lâu (Công-vụ 18:18), mặc dầu tính chính xác của lời thề này không rõ ràng. Tuy nhiên, lần này đó là một sự thỏa hiệp, nó cho thấy ông đã tán thành những hành động cậy luật pháp nằm phía sau lời đề nghị ấy. Một quan điểm kết hợp như vậy là điều mà vị sứ đồ phản đối mãnh liệt: như vậy là có hai phúc âm, một dành cho người Ngoại, được cứu bởi đức tin, và một dành cho người Giu-đa, được cứu bởi việc làm. “Đức Chúa Trời không cho phép ông (Phao-lô) nhượng bộ như vậy” - Ellen G. White, Công Vụ Các Sứ Đồ, trang 405.

Trong những nỗ lực của chúng ta để được hòa hợp, chúng ta phải cẩn thận như thế nào để tránh phạm lỗi lầm giống như vậy?

Thứ Hai Náo Loạn Trong Đền Thờ

Chấp nhận lời đề nghị của những người lãnh đạo, Phao-lô cần phải trải qua bảy ngày tẩy sạch theo nghi lễ để hoàn thành lời thề nguyện (Dân-số Ký 19:11-13). Theo truyền thống, người Giu-đa quy định bất cứ người nào đến từ vùng đất của dân Ngoại thì được xem như bị ô uế và không được phép vào đền thờ. Đó là lý do tại sao Phao-lô phải thanh tẩy mình trước khi đến gặp các thầy tế lễ để cho họ biết về sự việc tinh sạch của ông theo luật Na-xi-rê (Công-vụ 21:26).

Đọc Công-vụ 21:27-36. Sau thời kỳ bảy ngày làm lễ tinh sạch, điều gì đã xảy đến với Phao-lô?

Một cuộc nổi loạn đã xảy ra, một số người xúi giục đám đông chống đối Phao-lô, kết tội ông đã tấn công những lễ vật thánh của Giu-đa giáo, cụ thể là đã xúc phạm đến đền thờ. Vì một trong những người cùng đi với Phao-lô là tín hữu người Ngoại đến từ Ê-phê-sô, tên là Trô-phim (Công-vụ 21:29). Họ nghĩ Phao-lô đã dẫn ông ấy vào phía trong đền thờ, nơi chỉ có người Giu-đa mới được vào. Nếu sự buộc tội là hợp pháp, thì Phao-lô phạm một trong những tội trọng nhất. Dọc theo bức tường ngăn cách giữa bên ngoài và bên trong, có những bảng hiệu bằng tiếng Hy Lạp và tiếng La-tinh cảnh báo người Ngoại không được bước vào bên trong, nếu không họ phải chịu trách nhiệm cá nhân về cái chết của mình.

“Theo luật pháp của người Giu-đa, những người không chịu cắt bì mà bước vào bên trong sân đền thánh sẽ bị xử tử. Người ta thấy Phao-lô trong thành phố cùng với Trô-phim, người Ê-phê-sô, và họ cho rằng ông đã đưa người Ngoại vào đền thờ. Ông không hề làm điều này; còn phần ông, chính ông là người Giu-đa, nên hành động ông bước vào đền thờ không hề phạm luật. Mặc dầu những lời buộc tội hoàn toàn sai, nhưng nó cũng thổi phồng thành kiến đã có sẵn. Khi tiếng la hét vang lên và xuyên qua các sân của đền thờ, khiến cho đám đông tụ tập ở đó trở nên phấn khích một cách cuồng nhiệt” - Ellen G. White, Công Vụ Các Sứ Đồ, trang 407.

Khi tin tức về cuộc nổi loạn lan truyền đến đồn của người La Mã, thì quan quản cơ, Cơ-lốt Ly-sia (Công-vụ 21:31,32; 23:26), cùng với quân lính đến và giải cứu Phao-lô khỏi đám đông đang định giết ông.

Vì là mục tiêu của những sự tấn công, nên Phao-lô bị bắt và bị trói bằng xích, trong khi đó thì quan quản cơ cố gắng điều tra những gì đang xảy ra. Trong tiếng la cuồng loạn của đám đông, ông ra lệnh đưa vị sứ đồ về đồn.

Những tin đồn, những lời chứng giả dối đã châm ngòi cho cuộc nổi loạn này. Tại sao chúng ta phải cẩn thận khi nghe, hoặc thậm chí tệ hơn, loan truyền những tin đồn như vậy?

Thứ Ba Trước Đám Đông

Công-vụ 21:37-40 cho biết những gì xảy ra sau đó. Khi Phao-lô đang bị đưa đến đồn quân La Mã để chất vấn, thì ông yêu cầu viên quan cho phép nói chuyện với đám đông, những người vẫn đang điên cuồng la hét đòi giết ông.

Khi Phao-lô nói với viên quan quản cơ bằng tiếng Hy Lạp, ông nghĩ Phao-lô là một người Giu-đa nào đó, đến từ Ai-cập cách đó vài năm đã gây náo loạn tại Giê-ru-sa-lem để chống lại sự đô hộ của người La Mã, nhưng cuộc nổi loạn đã bị dập tắt bởi quân đội La Mã; nhiều người trong cuộc nổi loạn đã bị giết và bị bắt, trong khi người Ai-cập đó trốn thoát.

Sau khi Phao-lô nói mình là người thành Tạt-sơ, không phải đến từ Ai-cập, thì ông được phép nói. Trong khi nói, ông không đưa ra chi tiết để bác bỏ những lời buộc tội chống lại ông (Công-vụ 21:28), mà kể cho họ về chuyện cải đạo của ông, ông nhấn mạnh ông đã từng là người sùng kính Do Thái giáo, bức hại những tín đồ tin Đức Chúa Giê-su, nhưng khi đối diện với một số sự khải thị từ Chúa, thì ông không có sự chọn lựa nào khác ngoài sự vâng phục. Điều này giải thích sự thay đổi hoàn toàn trong cuộc đời ông, và ông được kêu gọi để đi ra rao giảng cho người Ngoại. Thay vì tham gia vào sự tranh cải về thần học, Phao-lô nói về kinh nghiệm của chính ông, và tại sao ông làm những điều mình đã làm.

Đọc Công-vụ 22:22-29. Đám đông phản ứng như thế nào khi Phao-lô nói rằng ông là sứ đồ của dân Ngoại?

Việc quyết định cho phép Phao-lô nói đã không đi đến kết thúc tốt đẹp. Bằng cách đề cập đến sự tận tụy của ông đối với người Ngoại, Phao-lô dường như xác nhận sự thật về những điều cáo buộc chống lại ông (Công-vụ 21:28), và đám đông lại nổi giận.

Có thể viên quan quản cơ không hiểu mọi điều Phao-lô đã nói; vì thế ông quyết định tra tấn bằng roi. Tuy nhiên, ngoài việc mang trong người dòng máu Do Thái (Phi-líp 3:5), Phao-lô còn có quyền công dân La Mã, và khi ông đề cập đến điều này thì quan quản cơ phải ngưng lại. Vì là một công dân La Mã, Phao-lô không thể bị tra tấn như vậy.

Đọc bài diễn thuyết của Phao-lô (Công-vụ 22:1-21). Bạn thấy trong đó có bằng chứng nào ngoài việc tự bảo vệ, Phao-lô còn giảng cho dân Giu-đa nữa? Tại sao ông lại kể về việc đầu phục Chúa của mình? Câu chuyện ông được cải đạo ấy có nhiều sức mạnh như thế nào?

Thứ Tư Trước Tòa Công Luận

Khi quan quản cơ La Mã nhận ra Phao-lô không đại diện cho bất kỳ mối đe dọa nào cho đế chế; vấn đề chỉ liên quan đến cuộc tranh cãi nội bộ của người Giu-đa, nên ông yêu cầu Tòa công luận giải quyết (Công-vụ 22:30; 23:29).

Đọc Công-vụ 23:1-5. Phao-lô bắt đầu bảo vệ mình trước Tòa công luận như thế nào?

Lời giới thiệu mở đầu của Phao-lô đã bị một cái tát vào miệng, có lẽ vì là một tù nhân nên khi nói đến Đức Chúa Trời thì bị xem như là một lời phạm thượng. Phản ứng hấp tấp của ông cho chúng ta cái nhìn về tính khí của ông. Gọi thầy tế lễ thượng phẩm là “bức tường tô trắng” (Công-vụ 23:3), có thể ông lập lại lời phê phán của Đức Chúa Giê-su về sự giả hình của những người Pha-ri-si trong Ma-thi-ơ 23:27. Nhưng vì Phao-lô thật sự không biết ông ấy là thầy tế lễ thượng phẩm, có thể thị lực của ông bị kém.

Đọc Công-vụ 23:6-10. Phao-lô đã khéo léo cố gắng phá vỡ vụ kiện như thế nào?

Tòa công luận bao gồm cả người Sa-đu-sê và người Pha-ri-si, họ chống đối nhau về một số vấn đề, trong đó có giáo lý. Ví dụ, người Sa-đu-sê chỉ giữ năm sách của Môi-se (năm quyển đầu của Kinh Thánh Cựu ước), không tin vào sự phục sinh của người chết (Ma-thi-ơ 22:23-32).

Lời nói của Phao-lô (Công-vụ 23:6) là một phương kế khôn ngoan để làm sao lãng Tòa công luận. Việc ông được chạm trán với Đức Chúa Giê-su đã phục sinh trên đường Đa-mách là nền tảng cho sự thay đổi và chức vụ sứ đồ của ông, niềm tin vào sự phục sinh là vấn đề ông đang bị xét xử (Công-vụ 24:20,21; 26:6-8). Không điều gì khác có thể giải thích, tại sao trước đây ông từng là một người sốt sắng chống đối Chúa mà đã được biến cải như hiện nay. Nếu Đức Chúa Giê-su không sống lại từ kẻ chết, vậy chức vụ truyền giáo của ông vô ích, và ông cũng biết điều đó (1 Cô 15:14-17).

Tối hôm đó, khi Phao-lô ở trong đồn, Chúa đã hiện đến với ông và khích lệ: “Hãy giục lòng mạnh mẽ, ngươi đã làm chứng cho ta tại thành Giê-ru-sa-lem thể nào, thì cũng phải làm chứng cho ta tại thành Rô-ma thể ấy” (Công-vụ 23:11). Lời hứa như vậy rất có ý nghĩa đối với Phao-lô trong những tình huống ông được ban cho. Lòng khao khát từ lâu được rao giảng tại Rô-ma (Công-vụ 19:21, Rô-ma 1:13–15, 15:22–29) vẫn có thể thực hiện được.

Thứ Năm Chuyển Đến Sê-sa-rê

Sự xáo trộn khiến họ không trừ khử được Phao-lô một cách hợp pháp, một nhóm người quyết định lập kế hoạch tổ chức mai phục và chính họ sẽ giết ông.

Đọc Công-vụ 23:12-17. Kế hoạch của họ là gì, và nó bị cản trở như thế nào? Điều này dạy cho chúng ta gì về những người quá nhiệt tình có thể gây ra những sai trái?

Có hơn bốn mươi người Giu-đa âm mưu chống lại Phao-lô và cùng thề rằng phải chứng tỏ sự hận thù mà Phao-lô đã gây ra tại Giê-ru-sa-lem. Lu-ca không cho chúng ta biết danh tính của những người này, nhưng họ là những người cực đoan, sẵng sàng làm bất cứ điều gì để bảo vệ niềm tin của người Giu-đa khỏi những kẻ bị cho là phản bội và kẻ thù. Mức độ cuồng tín như vậy, cùng với sự nhiệt tình về dân tộc, không phải là chuyện thường thấy ở thế kỷ thứ nhất tại Giu-đê và những vùng lân cận.

Tuy nhiên, theo cách nào đó, tin tức về âm mưu đã đến tai cháu của Phao-lô. Thật đáng tiếc, chúng ta hầu như không biết gì về gia đình của Phao-lô, nhưng có thể ông và chị gái đã được nuôi dạy tại Giê-ru-sa-lem (Công-vụ 22:3), tại đó cô đã kết hôn và có ít nhất một con trai. Dù sao đi nữa thì cháu của Phao-lô, một trai trẻ (the diminutive neaniskos) (Công-vụ 23:18,22), và việc cậu ta bị kéo “bằng tay” (23:19) cho thấy cậu ta là một thiếu niên – đã có thể thăm ông tại đồn và kể cho ông nghe về mọi việc.

Đọc Công-vụ 23:26–30. Quan quản cơ Ly-sia gởi cho quan tổng đốc Phê-lít thông tin gì về Phao-lô?

Lá thư gởi cho Phê-lít là một báo cáo đầy đủ về sự việc. Ngoài ra, nó cũng nói đến việc Phao-lô được hưởng quốc tịch Rô-ma như thế nào. Luật pháp Rô-ma hoàn toàn bảo vệ công dân của mình, ví dụ: Trong một phiên tòa, người dân đứng trước tòa có quyền bào chữa cho chính mình (Công-vụ 25:16), và có quyền kháng cáo lên hoàng đế trong trường hợp tòa xử bất công (Công-vụ 25:10,11).

Không quan tâm đến danh tiếng của Phê-lít, ông đối xử với Phao-lô đúng theo pháp luật. Sau khi thẩm vấn sơ bộ, ông ra lệnh giam Phao-lô cho đến khi nguyên cáo đến.

Hãy nghĩ đến sự dự phòng của Đức Chúa Trời cho cuộc đời của Phao-lô. Bạn có hạ mình nhìn biết sự quan phòng của Đức Chúa Trời trong cuộc đời bạn, dầu cho những thử thách hay khổ đau mà bạn đã trải qua không?

Thứ Sáu Nghiên cứu bổ túc

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC

“Trong dịp này, Phao-lô và những người bạn đồng hành trình bày cho các lãnh đạo tại Giê-ru-sa-lem những đóng góp mà các Hội Thánh người Ngoại đã giúp cho người nghèo trong vòng anh em người Giu-đa…

Những sự dâng hiến tự nguyện này cho thấy những người Ngoại đã tin Chúa bày tỏ lòng trung thành với công việc của Ngài trên toàn thế giới, và việc này nên được mọi người chấp nhận với lòng biết ơn, thế nhưng, tinh thần bày tỏ tình yêu thương anh em được thể hiện qua những món quà đã không được đánh giá cao, bởi những người đang đứng trước Phao-lô và những người bạn đồng hành của ông” - Ellen G. White, Công Vụ Các Sứ Đồ, trang 399, 400.

“Lòng cảm thương và chấp nhận vị sứ đồ này như một người đặc biệt được Đức Chúa Trời kêu gọi, để rao giảng phúc âm cho người Ngoại, đã biến mất trong những người lãnh đạo của Hội Thánh. Đức Chúa Trời sẽ không để cho công việc của Phao-lô chấm dứt sớm như vậy, nhưng Ngài sẽ không thể hiện phép màu để chống lại hoàn cảnh mà những người lãnh đạo tại Hội Thánh Giê-ru-sa-lem đã gây ra để tôi luyện ông.

Lòng nghĩ như thế nào thì sẽ dẫn đến kết quả như vậy. Không trân trọng và không tận dụng những sự ban cho của ân điển thánh đã đánh mất nhiều ơn phước trong Hội Thánh. Bao nhiêu lần Đức Chúa Trời đã gia hạn cho công việc của vị mục sư trung thành, và những việc làm của ông được đánh giá cao! Nhưng nếu Hội Thánh cho phép kẻ thù của linh hồn làm sai lạc sự hiểu biết, khiến họ bóp méo và giải thích sai lời cũng như những hành động của tôi tớ Đấng Cơ-đốc; nếu họ cho phép mình cản trở năng lực của ông, thì Chúa sẽ cất đi khỏi họ những ơn phước của Ngài…

Sau khi đôi tay khoanh lại trên con tim ngưng đập, tiếng nói cảnh tỉnh và khích lệ (của tôi tớ Chúa) không còn nữa, thì lúc bấy giờ, tính cố chấp sẽ được đánh thức để thấy và đánh giá cao những ơn phước mà họ đã để vụt mất. Cái chết của họ có thể hoàn tất những gì mà sự sống của họ đã không làm được” - Trang 417, 418.

Câu Hỏi Thảo Luận

Mặc dầu biết sẽ không được chào đón tại Giê-ru-sa-lem, nhưng Phao-lô vẫn đi, vì ông đã đặt lợi ích của Hội Thánh trên lợi ích của mình. Chúng ta nên theo gương ông tới mức độ nào?

Chúng ta học gì từ sự thỏa hiệp của Phao-lô tại Giê-ru-sa-lem? Chúng ta có thể dung hòa một cách cẩn thận như thế nào để không bỏ qua những nguyên tắc sống của mình? Hoặc chúng ta có thể không dung hòa được không?

Sự hiệp nhất trong Hội Thánh luôn luôn quan trọng. Làm thế nào chúng ta học cùng làm việc với nhau, và hiệp một, ngay cả khi chúng ta có những quan điểm khác nhau?