Chuyến truyền giáo lần thứ ba
Kinh Thánh Nghiên Cứu: Công-vụ 18:24–28; Công-vụ 19; Công-vụ 20:7–12, 15–27; 2 Cô-rinh-tô 4:8–14; Công-vụ 21:1–15
"Nhưng tôi chẳng kể sự sống mình làm quý, miễn chạy cho xong việc đua tôi và chức vụ tôi đã lãnh nơi Đức Chúa Giê-su, để mà làm chứng về Tin lành của ơn Đức Chúa Trời" — Công-vụ 20:24
Sa-bát Chuyến Truyền Giáo Lần Thứ Ba
Kinh Thánh nghiên cứu
Công-vụ 18:24–28; Công-vụ 19; Công-vụ 20:7–12, 15–27; 2 Cô-rinh-tô 4:8–14; Công-vụ 21:1–15.
Câu gốc
“Nhưng tôi chẳng kể sự sống mình làm quý, miễn chạy cho xong việc đua tôi và chức vụ tôi đã lãnh nơi Đức Chúa Giê-su, để mà làm chứng về Tin lành của ơn Đức Chúa Trời” (Công-vụ 20:24).
Lu-ca kể về chuyến thứ ba của Phao-lô bắt đầu khá bất ngờ. Câu Kinh Thánh cho biết sau khi trải qua một thời gian ở An-ti-ốt, trọng tâm những cuộc truyền giáo của Phao-lô, vị sứ đồ khởi hành một cuộc hành trình khác, đi liên tục “trải lần lần khắp trong xứ Ga-li-lê và xứ Phi-ri-gi, làm cho hết thảy môn đồ đều vững lòng” (Công-vụ 18:23). Cho nên, 2.400 cây số đầu tiên của cuộc hành trình chỉ nằm trong một câu trên.
Điểm trọng tâm của cuộc hành trình là ở Ê-phê-sô, nơi Phao-lô dành nhiều thời gian hơn so với những thành phố khác trong các cuộc hành trình của ông. Lập trường của ông là rao giảng tin lành, nên dẫn đến cuộc truyền giáo ở Ê-phê-sô rất có kết quả; sức ảnh hưởng về lời giảng của Phao-lô lan đến toàn cõi A-si (Công-vụ 19:10,26). Có thể suốt thời gian này các Hội Thánh ở Cô-lô-se, Hi-ê-ra-bô-li, và Lao-đi-xê được hình thành, có lẽ bởi Ê-pháp-ra (Cô-lô-se 4:12,13), một trong những người đồng công với Phao-lô (Cô-lô-se 1:7, Phi-lê-môn đoạn 23).
Điều đáng chú ý trong cuộc hành trình này là: đó là chuyến đi cuối cùng Phao-lô được tường thuật trong sách Công-vụ. Phao-lô thực hiện điều đó khi còn là một người tự do. Tuy nhiên, Lu-ca kể về một cuộc hành trình khác, lần này đến Rô-ma, nhưng là một tù nhân.
Thứ Nhất Ê-phê-sô: Phần I
Công-vụ 18:24–28 cho biết trong khi Phao-lô vẫn còn trên đường đến Ê-phê-sô, có một tín đồ Do Thái tên là A-bô-lô đến thành phố đó. Ông là người có tài hùng biện và hiểu Kinh Thánh. A-bô-lô là một người tin Đức Chúa Giê-su, Lu-ca mô tả ông một cách rõ ràng như sau: “Người đã học đạo Chúa; nên lấy lòng rất sốt sắng mà giảng và dạy kỹ càng về những điều về Đức Chúa Giê-su” (Công-vụ 18:25). Tuy nhiên, ông chỉ biết về phép báp-têm của Giăng mà thôi. Được Giăng Báp-tít làm báp têm, A-bô-lô chỉ biết cuộc đời Đức Chúa Giê-su khi Ngài còn ở dương thế, nhưng ông phải rời khỏi nơi mình đang ở - có thể trở về A-léc-xan-tri – trước khi những sự kiện Đức Chúa Giê-su bị khổ hình/Lễ Ngũ tuần xảy ra.
Điều này giải thích tại sao A-qui-la và Bê-rít-sin hướng dẫn thêm cho ông. Mặc dầu có thể dùng Kinh Thánh bày tỏ Đức Chúa Giê-su là Đấng Mê-si của Y-sơ-ra-ên (Công-vụ 18:28), nhưng A-bô-lô cần biết thêm những sự phát triển của Cơ đốc giáo qua công việc truyền giáo của Đức Chúa Giê-su. Tuy nhiên, A-qui-la và Bê-rít-sin đã giúp đỡ thêm cho A-bô-lô: với những tín hữu khác ở Ê-phê-sô, họ viết thư giới thiệu ông đến những Hội Thánh ở A-chai (Công-vụ 18:27), cho phép ông truyền giáo mạnh mẽ tại Cô-rinh-tô (1 Cô-rinh-tô 3:4–6; 4:6; 16:12).
Đọc Công-vụ 19:1-7. Điều gì đã xảy ra với Phao-lô khi ông đến Ê-phê-sô?
Câu chuyện của A-bô-lô gắn liền với câu chuyện của mười hai người Phao-lô gặp ở Ê-phê-sô khi đến thành đó, bởi vì hoàn cảnh của họ rất giống nhau. Họ được gọi là “những môn đồ” (Công-vụ 9:1) và câu hỏi của Phao-lô (Công-vụ 19:2) cho thấy rằng họ đã tin Đức Chúa Giê-su. Cùng lúc đó, câu trả lời của họ cũng giống như A-bô-lô, trước đó họ cũng là môn đồ của Giăng Báp-tít, là người tin Đức Chúa Giê-su nhưng không trải nghiệm sự kiện trong ngày lễ Ngũ tuần. Nhưng rồi họ cũng đã có cơ hội tận hưởng kinh nghiệm sâu sắc với Chúa.
“Khi đến Ê-phê-sô, Phao-lô gặp mười hai người anh em, giống như A-bô-lô, họ là những môn đồ của Giăng Báp-tít, và như ông, họ cũng hiểu biết một ít về sứ mạng của Đấng Cơ-đốc. Họ không có khả năng như A-bô-lô, nhưng với lòng chân thật và đức tin họ muốn rao truyền những sự hiểu biết mà họ đã nhận được” - Ellen G. White, Công Các Sứ Đồ, trang 282).
Chúng ta xem lại phép báp-têm mới trong ánh sáng của hoàn cảnh đặc biệt này. Họ không đến từ một giáo phái Cơ đốc khác, cũng không trải nghiệm sự cải đạo. Họ chỉ được hòa nhập vào Cơ đốc giáo chính thống. Việc họ nhận được Thánh Linh và đi rao truyền, có nghĩa họ cũng là những nhà truyền giáo của Đấng Cơ-đốc, cũng như A-bô-lô, bây giờ họ được đầy dẫy quyền năng để làm chứng về Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc bất cứ nơi nào họ đến.
Thứ Hai Ê-phê-sô: Phần II
Ở Ê-phê-sô, trước tiên, Phao-lô giảng dạy trong các nhà hội. Khi sự chống đối nổi lên, ông và những tín hữu mới chuyển đến giảng đường Ti-ra-nu, trong hai năm, mỗi ngày Pha-lô giảng dạy tại đó (Công-vụ 19:8-10). Sự tóm lược của Lu-ca về công việc truyền giáo của Phao-lô tại Ê-phê-sô cho thấy toàn tỉnh được giảng tin lành một cách mạnh mẽ (Công-vụ 19:10- 26).
Trong Công-vụ 19:11-20, Lu-ca thêm vài câu chuyện phép lạ nói về sự chiến thắng bởi quyền năng Đức Chúa Trời trong một thành phố mà phép thuật và những sự mê tín thể hiện khá phổ biến. Không có gì phải nghi ngờ, Đức Chúa Trời dùng Phao-lô để chữa bệnh, ngay cả khăn tay và áo mà người đã mặc cũng có quyền năng chữa bệnh (Công-vụ 19:12), đối với vài người điều này có vẻ lạ, nhưng nó cũng giống như chuyện Đức Chúa Giê-su chữa bệnh cho người phụ nữ bị mất huyết (Lu-ca 8:44). Niềm tin mạnh mẽ ở Ê-phê-sô có thể làm cho Đức Chúa Trời thực hiện những phép mầu “phi thường”, như Lu-ca đã nói (Công-vụ 19:11). Có lẽ, đây là một ví dụ về việc Đức Chúa Trời trả lời cho những nhu cầu của dân sự ở mức độ hiểu biết riêng của họ.
Bằng lòng với những kết quả truyền giáo tại Ê-phê-sô, Phao-lô quyết định đi đến Giê-ru-sa-lem (Công-vụ 19:21). Lu-ca không cho biết lý do của chuyến đi này, nhưng chúng ta biết từ chính những lá thư của Phao-lô, ông muốn giao tiền mà ông đã quyên góp để cứu giúp những tín đồ nghèo tại Hội Thánh Giê-ru-sa-lem (Rô-ma 15:25-27; 1 Cô-rinh-tô 16:1-3). Việc kêu gọi đóng góp của cải trong những năm đầu tiên, và nạn đói trầm trọng trong những ngày của hoàng đế La Mã Claudus, làm cho những tín hữu Giu-đê trở nên nghèo nàn, Phao-lô đã thấy trong lời kêu gọi giúp đỡ (Ga-la-ti 2:10) là cơ hội để làm vững mạnh niềm tin của họ cũng như chức vụ của ông, cùng với sự hiệp nhất trong một Hội Thánh xuyên văn hóa thời bấy giờ, mặc dầu ông biết những rủi ro đang chờ đợi ông (Công-vụ 20:22,23; Rô-ma 15:31).
Đọc Công-vụ 19:23–41. Trong những ngày cuối Phao-lô ở tại Ê-phê-sô có nảy sinh sự chống đối, lý do thật sự của sự việc là gì?
Sự chống đối liên quan đến sự thờ lạy của những người Ngoại giáo, điều này đe dọa nghiêm trọng đến việc truyền giáo của Phao-lô. Động cơ chính của Đê-mê-triu thật sự liên quan đến tiền bạc, nhưng ông làm cho nó trở thành vấn đề của tôn giáo, bởi vì đền thờ của thần Ạc-tê-mít (hay Đi-anh) được cho là một trong bảy kỳ quan của thế giới cổ đại, được đặt tại Ê-phê-sô.
Đọc Công-vụ 19:27. Để ý Đê-mê-triu đã khôn khéo như thế nào để đem “lòng mộ đạo” vào những nỗ lực của mình để khiến cho tiền chảy vào túi. Chúng ta là những Cơ đốc nhân tại sao phải cẩn thận đừng sử dụng đức tin, hoặc giả bộ sùng kính trong niềm tin của mình, theo cách giống như vậy?
Thứ Ba Trô-ách
Sau cuộc náo loạn (Công-vụ 19:23-41), Phao-lô quyết định rời khỏi Ê-phê-sô. Nhưng ông đi vòng qua Ma-xê-đoan và A-chai thay vì đi thẳng đến Giê-ru-sa-lem (Công-vụ 20:1-3). Trong cuộc hành trình này, vài đại diện của các Hội Thánh người Ngoại cùng đi với ông (Công-vụ 20:4).
Đọc Công-vụ 20:7-12. Có gì sai với lập luận cho rằng đây là những câu Kinh Thánh chứng minh ngày Sa-bát đã được đổi sang ngày thứ nhất?
Điểm dừng chân của Phao-lô ở Trô-ách đã kết thúc bằng một buổi nhóm “trong ngày thứ nhất của tuần lễ” (Công-vụ 20:7). Họ họp lại “để bẻ bánh,” có lẽ liên quan đến lễ Tiệc Thánh, có thể có hoặc không có bữa ăn thân mật thường được kết hợp với lễ Tiệc Thánh kể từ những ngày đầu của Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem (Công-vụ 2:42,46),vì không đề cập đến chén cũng như bất cứ lời cầu nguyện nào không loại trừ khả năng này. Tuy nhiên, vấn đề của phần Kinh Thánh này được đề cập như là bằng chứng về thời gian của Phao-lô, ít ra thì những Hội Thánh người Ngoại đã thay thế ngày Sa-bát bằng ngày thứ nhất để thờ phượng.
Tuy nhiên, trước khi tuyên bố như vậy, thì cũng cần thiết để xem lại chính xác ngày nhóm lại, cũng như tính chất của buổi nhóm. Sự liên quan đến việc sử dụng đèn (Công-vụ 20:8), cùng với sự việc là bài giảng của Phao-lô kéo dài đến nửa đêm (Công-vụ 20:7), và cho đến sáng (Công-vụ 20:11), không đề cập đến việc ngủ gục của Ơ-tích (Công-vụ 20:9), cho thấy rõ rằng đó là buổi nhóm lại vào ban đêm.
Vậy, câu hỏi là: đó là đêm trước ngày thứ nhất hay đêm sau ngày thứ nhất. Câu trả lời tùy thuộc vào hệ thống tính thời gian mà Lu-ca đang sử dụng, nó là hệ thống tính ngày của người Giu-đa từ khi mặt trời lặn đến khi mặt trời lặn, hay của người La Mã từ nửa đêm đến nửa đêm. Nếu đó là cách tính thứ nhất, vậy lúc đó là tối thứ bảy; còn trong trường hợp sau thì đó là tối của ngày thứ nhất.
Theo cả hai cách, thì ngữ cảnh trong Công-vụ 20:7-12 cho thấy rằng: nếu buổi nhóm là vào tối ngày thứ nhất, thì nó không phải là buổi nhóm thường xuyên của Hội Thánh, nhưng là buổi nhóm đặc biệt để sáng hôm sau Phao-lô phải chia tay. Vậy thì, thật khó chấp nhận khi chỉ lấy một đoạn nhỏ này có thể biện minh cho việc giữ ngày thứ nhất. Thực tế là không thể được.
Xem xét nhiều hơn tất cả các lý do về tính chất hợp lệ của việc giữ ngày Sa-bát thứ bảy. Việc Kinh Thánh bày tỏ một cách rõ ràng về ngày Sa-bát giúp chúng ta khẳng định như thế nào về sự đồng nhất của tín hữu Cơ đốc Phục Lâm và sự kêu gọi chúng ta phải rao truyền sứ điệp ba thiên sứ cho toàn thế giới?
Thứ Tư Mi-lê
Trên đường đi đến Giê-ru-sa-lem, Phao-lô dừng chân một lần nữa, lần này ở Mi-lê, tại đây ông có cơ hội chuyển lời chia tay đến những người lãnh đạo của Hội Thánh Ê-phê-sô.
Đọc Công-vụ 20:15-27. Phao-lô nhấn mạnh điều gì trong phần mở đầu bài nói chuyện của ông?
Vì ông đã có kế hoạch cho cuộc hành trình mới, bao gồm Rô-ma và Tây-ban-nha (Rô-ma 15:22-29), Phao-lô tin rằng ông sẽ không bao giờ trở lại A-si-a. Vì thế, ông bắt đầu cuộc nói chuyện của mình bằng việc trình bày về những năm tháng ông đã ở Ê-phê-sô. Với việc trình bày như vậy, không những ông chỉ nói về quá khứ, ông đã sống giữa những người Ê-phê-sô như thế nào, mà còn nói về tương lai, e rằng sẽ có những gì xảy ra cho ông tại Giê-ru-sa-lem.
Nỗi lo của Phao-lô không phải vô căn cứ. Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem nhìn ông với sự hoài nghi, nếu không nói là thù địch, vì quá khứ ông là kẻ bắt bớ và là người đang rao giảng về việc được cứu không cần phải chịu cắt bì (Công-vụ 21:20-26). Đối với những nhà lãnh đạo Do Thái ông là kẻ phản bội và chối bỏ những tập tục tôn giáo của họ (Công-vụ 23:1,2). Vào giữa thế kỷ thứ nhất, đặc biệt là dưới sự cai trị tồi tệ của La Mã, Giu-đê cũng bị kèm chặt vì những tư tưởng cách mạng và chủ nghĩa dân tộc. Bầu không khí này ảnh hưởng tất cả các mảng của xã hội Do Thái, kể cả Hội Thánh. Trong bối cảnh như vậy, những hoạt động của người Pha-ri-si trong vòng dân Ngoại khiến ông bị tai tiếng (Công-vụ 21:27-36).
Phao-lô cũng có nhiều mối quan tâm hơn. Trong Công-vụ 20:28-31, ông tập trung vào những nhà lãnh đạo tại Ê-phê-sô nên đối phó với những giáo sư giả như thế nào, ông so sánh họ như những con sói hung dữ đang cố gắng làm cho bầy đi sai lạc. Vậy, thậm chí trong chính Hội Thánh, và trong những ngày đầu tiên của Hội Thánh, sự nguy hiểm của những giáo sư giả cũng đã xuất hiện. Như Sa-lô-môn đã nói: “Chẳng có điều gì mới ở dưới mặt trời” (Truyền đạo 1:9). Lịch sử Hội Thánh Cơ đốc cũng đã bày tỏ những sự nguy hiểm lạ thường mà các giáo sư giả có thể đem đến cho Hội Thánh. Rắc rối cũng sẽ tồn tại cho đến cuối cùng (2 Ti-mô-thê 4:3).
Phao-lô có rất nhiều điều trong tâm trí ông, nhiều nỗi lo lắng, dầu vậy lòng trung thành và tính chuyên cần của ông không bao giờ nao núng.
Đọc 2 Cô-rinh-tô 4:8-14. Phao-lô đã nói gì trong những câu Kinh Thánh này, chúng ta cần áp dụng chúng cho chính mình, đặc biệt khi những thử thách đến? Phao-lô đặt niềm hy vọng cuối cùng của ông ở đâu?
Thứ Năm Ty-rơ và Sê-sa-rê
Sau Mi-lê, Lu-ca nói thêm vài chi tiết về cuộc hành trình của Phao-lô. Vẫn trên đường đến Giê-ru-sa-lem, vị sứ đồ trải qua một tuần tại Ty-rơ, bờ biển Phê-ni-xi, nơi con tàu dỡ hàng (Công-vụ 21:1-6). Tuy nhiên, khi ông ở đó thì những tín hữu yêu cầu ông đừng đến Giê-ru-sa-lem. Việc những tín hữu được Thánh Linh hướng dẫn để cảnh báo Phao-lô đừng đi Giê-ru-sa-lem không nhất thiết trái ngược với sự hướng dẫn của Phao-lô trước đây. Từ Hy Lạp etheto en tō pneumati trong Công-vụ 19:21 (quyết định trong lòng) có thể được diễn tả là “quyết định/có chủ tâm trong Thánh Linh” hơn là Phao-lô tự quyết định theo ý mình. Vấn đề là Thánh Linh bày tỏ cho những tín hữu ở Ty-rơ biết những nguy hiểm đang ở phía trước Phao-lô; do đó, với sự lo lắng của con người, họ đề nghị ông từ bỏ ý định. Chính Phao-lô không biết chắc điều gì xảy ra với ông tại Giê-ru-sa-lem (Công-vụ 20:22,23). Sự dẫn dắt bởi quyền năng không phải lúc nào cũng rõ ràng, thậm chí đối với người như Phao-lô.
Đọc Công-vụ 21:10-14. Sự việc đặc biệt nào tình cờ xảy ra tại Sê-sa-rê liên quan đến chuyến đi đến Giê-ru-sa-lem của Phao-lô?
A-ga-bút là một tiên tri đến từ Giê-ru-sa-lem, ông được giới thiệu trong phần nói về nạn đói trong Công-vụ 11:27-30. Cũng giống như một số lời tiên tri trong Cựu ước (ví dụ: Ê-sai 20:1-6, Giê-rê-mi 13:1-10), sứ điệp của ông là sứ điệp hành động; nó minh họa một cách sống động cho những gì sẽ xảy ra cho Phao-lô khi ông đến Giê-ru-sa-lem và những kẻ thù của ông sẽ giao nạp ông cho người Ngoại (người La Mã) như thế nào.
Những người ở với Phao-lô dường như chấp nhận sứ điệp của A-ga-bút như là một lời cảnh cáo, không phải là lời tiên tri, và bằng mọi cách họ cố thuyết phục sứ đồ không nên đi đến Giê-ru-sa-lem. Mặc dầu cảm động sâu sắc trước những phản ứng của họ, nhưng Phao-lô quyết định phải hoàn thành sứ mạng của mình, thậm chí cái giá phải trả là mạng sống của ông. Đối với ông, tính toàn vẹn của phúc âm và sự hiệp nhất của Hội Thánh quan trọng hơn sự an toàn hay những ích lợi của cá nhân ông.
“Chưa bao giờ vị sứ đồ đi đến Giê-ru-sa-lem với tấm lòng tan nát như vậy. Ông biết ông sẽ tìm được chỉ một vài người bạn mới nhưng kẻ thù thì nhiều. Ông đã đến gần thành phố đã từ chối và đóng đinh Con của Đức Chúa Trời, và giờ đây những lời đe dọa của cơn thạnh nộ thánh đang treo trên nó” – Ellen G. White, Công Vụ Các Sứ Đồ, trang 397, 398.
Bị hiểu lầm, bị phỉ báng, bị ngược đãi, và thường bị chửi rủa, nhưng Phao-lô vẫn trung tín trong đức tin. Làm thề nào để chúng ta học được như vậy trong những trường hợp nản lòng?
Thứ Sáu Nghiên cứu bổ túc
NGHIÊN CỨU BỔ TÚC
“Sự thành công trong việc rao giảng phúc âm đã khiến cho người Giu-đa một lần nữa giận dữ. Sự dạy dỗ mới được rao truyền khắp nơi qua đó người Giu-đa được giải thoát khỏi việc tuân giữ các nghi lễ của luật lễ nghi và người Ngoại được hưởng đặc ân cũng như người Giu-đa, họ cũng là con cái của Áp-ra-ham … câu nói quan trọng của ông (Phao-lô): ‘Tại đây không còn phân biệt người Gờ-réc hoặc người Giu-đa, người chịu cắt bì hoặc người không chịu cắt bì’ (Cô-lô-se 3:11), khiến cho kẻ thù của ông coi đó như là câu xúc phạm, và họ quyết định phải làm cho tiếng nói của ông im lặng” - Ellen G. White, Công Vụ Các Sứ Đồ, trang 390.
“Và ông không thể dựa vào sự thông cảm và ủng hộ ngay cả của anh em cùng đức tin. Những người Giu-đa chưa cải đạo theo dõi ông sát sao đã nhanh chóng truyền những báo cáo bất lợi nhất cho ông, bằng người đưa tin và bằng thư, về Giê-ru-sa-lem, liên quan đến chính ông và công việc của ông; một số người, ngay cả các sứ đồ và các trưởng lão, cũng tin những báo cáo này là thật, họ đã không cố gắng phản bác lại chúng, và cũng không bày tỏ thiện ý hòa hợp với ông” – Ellen G. White, Công Vụ Các Sứ Đồ, Trang 398.
Câu Hỏi Thảo Luận:
Mười hai môn đồ Phao-lô gặp tại Ê-phê-sô, trước đây là những môn đồ của Giăng Báp-tít đã trở thành những môn đồ của Đức Chúa Giê-su (Công-vụ 19:1-7). Tại sao bạn nghĩ rằng đúng khi dùng đoạn Kinh Thánh này để yêu cầu làm báp-têm lại cho những Cơ đốc nhân – những người đã chịu báp-têm rồi – từ những giáo phái khác muốn gia nhập vào giáo hội Cơ đốc Phục Lâm? Thật sự có ý nghĩa không, khi A-bô-lô không làm báp-têm lại?
Nghĩ về tình trạng của Pha-lô. Ông bị từ chối bởi những người đồng hương, những người không tin Đức Chúa Giê-su. Ngay cả những người Giu-đa, những người tin Đức Chúa Giê-su, nhiều người nhìn Phao-lô bằng cặp mắt đầy nghi ngờ, thậm chí không tin tưởng, bởi vì họ nghĩ ông đi quá “giới hạn”. Nhiều người Ngoại giáo ghét phúc âm ông đang rao giảng. Vậy thì – Điều gì? Tại sao Phao-lô vẫn kiên quyết, bất chấp tất cả những chống đối này? Mặc dầu chúng ta không phải là Phao-lô, nhưng từ câu chuyện của ông chúng ta rút ra được bài học gì cho chính mình?
Suy nghĩ về một vài lý lẽ khác mà người ta dùng để minh chứng rằng ngày Sa-bát đã đổi sang ngày thứ nhất hoặc nó không còn ràng buộc nữa. Chúng ta trả lời như thế nào cho những lý lẽ ấy, và làm thế nào để bày tỏ rằng việc vâng giữ ngày Sa-bát một cách ngiêm túc theo luật pháp cũng giống như việc vâng giữ bất kỳ điều răn nào trong chín điều răn kia; nghĩa là, chúng ta vâng lời bởi đức tin và biết rằng đâu là niềm hy vọng duy nhất về sự cứu rỗi?