Bài Học 4 · 21 – 27 Tháng 4

Sự cứu rỗi và kỳ sau rốt

Kinh Thánh Nghiên Cứu: Giăng 14:9, Sô-phô-ni 3:17; Giăng 1:1-3; Rô-ma 8:38, 39; Thi Thiên 91:15, 16; Khải Huyền14:6, 7; Ê-phê-sô 1:4, 5

"Nầy, sự yêu thương ở tại đây: ấy chẳng phải chúng ta đã yêu Đức Chúa Trời, nhưng Ngài đã yêu chúng ta, và sai Con Ngài làm của lễ chuộc tội chúng ta" — 1 Giăng 4:10
Sa-bát Sự cứu rỗi và kỳ sau rốt

Kinh Thánh nghiên cứu

Giăng 14:9, Sô-phô-ni 3:17; Giăng 1:1-3; Rô-ma 8:38, 39; Thi Thiên 91:15, 16; Khải Huyền14:6, 7; Ê-phê-sô 1:4, 5.

Câu gốc

“Nầy, sự yêu thương ở tại đây: ấy chẳng phải chúng ta đã yêu Đức Chúa Trời, nhưng Ngài đã yêu chúng ta, và sai Con Ngài làm của lễ chuộc tội chúng ta” (1 Giăng 4:10)

Điểm hấp dẫn khác biệt quan trọng duy nhất giữa Cơ-đốc giáo và các tôn giáo khác là khi người ta nhấn mạnh người sáng lập của họ đã dạy họ, họ không nhấn mạnh điều mà người sáng lập đã làm cho họ. Và cho dù những gì người sáng lập của họ đã làm cho họ, cũng không thể cứu họ. Tất cả những người lãnh đạo đã cố hết sức để dạy cho mọi người làm thế nào để “cứu chuộc” cho chính bản thân mình.

Ngược lại, Cơ-đốc giáo nhấn mạnh rằng không chỉ những gì Đức Chúa Giê-su đã dạy mà còn bởi những việc Ngài đã làm, những gì Đấng Cơ-đốc đã làm cho chúng ta để chúng ta được cứu. Sự giáng sinh của Đấng Cơ-đốc trong xác thịt loài người (Rô-ma 8:3), sự chết của Ngài trên thập tự giá (Rô-ma 5:8), sự sống lại của Ngài (1 Phi-e-rơ 1:3) và chức vị của Ngài trên trời (Hê-bơ-rơ 7:25) - những việc này đều là để cứu rỗi chúng ta. Đó chắc chắn không phải là điều trong chính chúng ta. “Nếu bạn thu thập tất cả mọi thứ tốt lành và thánh khiết, cao quý và diễm lệ trong con người và dâng hết thảy cho thiên sứ của Đức Chúa Trời như là một phần trong việc cứu rỗi của linh hồn con người hoặc trong công đức, thì mọi dự định sẽ bị loại bỏ giống như sự phản bội”.—Ellen G.White, Đức tin và Việc làm, trang 24.

Lẽ thật tuyệt vời này là đặc biệt quan trọng cho chúng ta trong giữa những mối hiểm nguy và lừa gạt trong thời kì cuối cùng này.

Thứ Nhất Tình yêu của Chúa Cha

Không lâu trước khi bị đóng đinh trên cây thập tự giá, Đức Chúa Giê-su phán cùng môn đồ Ngài làm thế nào để loài người có thể đến với Cha thông qua Ngài. Lúc đó, Phi-líp thưa rằng: “Lạy Chúa, xin chỉ Cha cho chúng tôi, thì đủ rồi” (Giăng 14:8).

Đức Chúa Giê-su đã trả lời Phi-líp như thế nào? Giăng 14:9. Câu trả lời của Chúa dạy chúng ta điều gì về Cha? Những quan niệm sai lầm nào về Đức Chúa Trời mà Ngài phải giảng giải cho rõ ràng?

Một số người nói rằng Đức Chúa Trời của Cựu Ước là Đức Chúa Trời phán xét so với Đức Chúa Trời của Tân Ước, là người đầy dẫy sự nhân từ, ân điển, và bao dung. Họ vẽ nên sự khác biệt giữa hai người và đây là điều không hợp lý lẽ. Đó chính là cùng một Đức Chúa Trời, có chung những đặc điểm, trong cả Tân Ước và Cựu Ước.

Lý do mà Đấng Cơ-đốc đến thế gian là để rao truyền lẽ thật về Đức Chúa Cha. Qua nhiều thế kỷ, một ý tưởng sai lầm về Ngài và nhân phẩm của Ngài đã trở nên phổ biến rộng rãi, không chỉ những người ngoại đạo mà còn trong dân mà Chúa đã lựa chọn. “Trái đất trở nên tăm tối vì sự ngộ nhận về Đức Chúa Trời. Những tối tăm âm u đó có thể được thắp sáng lên, để thế gian có thể được trao lại cho Đức Chúa Trời, quyền năng lừa dối của Sa-tan phải bị phá vỡ.”—Ellen G.White, Khát Vọng Của Thời Đại, trang 22. Đó là những lý do mà Đức Chúa Giê-su đã xuống thế gian.

Đức Chúa Trời không hề đổi thay. Nếu chúng ta biết được tất cả các lẽ thật xung quanh những sự kiện trong Cựu Ước, chúng ta sẽ tìm thấy Đức Chúa Trời cũng như lòng thương xót trong Cựu Ước như Ngài hiện hữu trong Tân Ước. Kinh Thánh xác nhận rằng: “Đức Chúa Trời là sự yêu thương” (1 Giăng 4:8) và Đức Chúa Trời không hề đổi thay. “Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc hôm qua, ngày nay, và cho đến đời đời không hề thay đổi” (Hê-bơ-rơ 13:8).

Cũng hãy nhớ rằng, đó chính là Đức Chúa Trời của Cựu Ước đã bị đóng đinh trên cây thập tự giá.

Ngài cũng là Đức Chúa Trời nhân từ, thương xót, chậm giận, đầy dẫy ân huệ và thành thực (Xuất Ê-díp-tô Ký 34:6, 7). Đức Chúa Trời có tình yêu thương trọn lành (Thi Thiên 143:8) và làm đẹp lòng những người đi theo Ngài (Thi Thiên 147:11). Đức Chúa Trời dự tính mang sự hanh thông cho mọi người và mang đến hy vọng cho họ (Giê-rê-mi 29:11). Trong tình yêu của Ngài, Ngài sẽ không quở trách mà Ngài sẽ ca hát mừng rỡ bởi dân sự Ngài (Sô-phô-ni 3:17). Đây là điều mà chính Chúa Cha của chúng ta sẽ làm thậm chí còn nhiều hơn thế nữa.

Hãy nghĩ về lẽ thật rằng Đức Chúa Giê-su đại diện cho Đức Chúa Cha. Tại sao điều này lại thật sự tuyệt vời và đáng hy vọng, đặc biệt cho những ai đôi khi sợ hãi Đức Chúa Trời?

Thứ Hai Tình yêu của đấng Cơ-đốc

Tội lỗi là thứ đã chia rẽ nhân loại ra khỏi Đức Chúa Trời, một khe hở đã mở ra giữa họ và nếu họ đã không thu hẹp khoảng cách đó lại, nhân loại đã phải chịu cảnh hủy diệt đời đời. Vực thẩm đó rất sâu và nguy hiểm. Đã phải đánh mất một cái gì đó vô cùng đáng kinh ngạc để giải quyết vấn đề về tội lỗi và hòa nhập tội lỗi nhân loại với một Đức Chúa Trời công bình và thánh khiết. Đã phải có một Đấng vĩnh cửu với chính Đức Chúa Trời, một vị thần như chính Ngài, để trở thành một con người và trong chính thân thể con người, dâng thân thể như một của tế lễ bởi vì tội lỗi của chúng ta.

Hãy đọc Giăng 1:1-3, 14 và Phi-líp 2:5-8 đã dạy gì về Đức Chúa Giê-su?

Đấng Cơ-đốc là sự sống đời đời và không lệ thuộc vào bất cứ ai hay bất cứ điều gì cho sự hiện hữu của Ngài. Ngài là Đức Chúa Trời không phải chỉ là bề ngoài mà chính là hiện thân của Đức Chúa Trời. Bản thể quan trọng của Ngài chính là Đấng đại diện và vĩnh hằng. Đức Chúa Giê-su đã giữ thần tính đó nhưng đã trở thành người để gìn giữ lại luật pháp trong xác thịt con người và chết như một Đấng chịu thay cho tất cả những ai vi phạm luật lệ đó, những kẻ đó chính là chúng ta (Rô-ma 3:23).

Đấng Cơ-đốc đã trở thành người, không có bất kỳ một ưu thế nào hơn những con người khác. Ngài đã gìn giữ luật pháp của Đức Chúa Trời, không phải nhờ quyền năng thần tính trong Ngài nhưng vẫn giữ nhân tính như mọi người.

Đức Chúa Giê-su hoàn toàn là Chúa và cũng hoàn toàn là con người. Điều này có nghĩa là Đấng duy trì “lấy lời có quyền phép Ngài nâng đỡ muôn vật” (Hê-bơ-rơ 1:3) là cùng một Đấng đã được tìm thấy như là một “con trẻ đang nằm trong máng cỏ” (Lu-ca 2:16). Điều này có nghĩa là chính Đấng ấy “có trước muôn vật và muôn vật đứng vững trong Ngài” (Cô-lô-se 1:17) là cùng một Đấng, khi còn là một cậu bé, “khôn ngoan càng thêm, thân hình càng lớn” (Lu-ca 2:52). Ấy có nghĩa là chính Đấng ấy mà không ai “chẳng vật chi làm nên mà không bởi Ngài” (Giăng 1:3) cũng là Đấng “đã bị treo trên cây gỗ và giết đi” (Công-vụ Các Sứ-đồ 5:30).

Nếu tất cả những điều này cho chúng ta thấy tình yêu của Đấng Cơ-đốc đối với chúng ta, và tình yêu của Đấng Cơ-đốc đối với chúng ta là sự biểu lộ tình yêu của Đức Chúa Cha, thì không có gì ngạc nhiên rằng chúng ta có rất nhiều lý do để vui mừng và biết ơn.

Hãy đọc Rô-ma 8:38, 39. Làm thế nào mọi thứ mà chúng ta đọc được trong bài học hôm nay mang đến lý do mạnh mẽ để tin vào những gì Phao-lô nói với chúng ta ở đây?

Thứ Ba Tình yêu của Đức Thánh Linh

Đức Thánh Linh đã bị hiểu sai, cũng giống như khi xảy ra với Đức Chúa Cha. Một số nhà thần học đã nghĩ đến Đức Thánh Linh như tình yêu giữa Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con. Nói cách khác, Đức Thánh Linh đơn thuần là tình yêu giữa Đức Cha và Đức Con. Điều này có nghĩa là Ngài tạo nên mối quan hệ giữa hai Ngôi của Đức Chúa Trời và không phải Ngài.

Tuy nhiên, Kinh Thánh chứng minh được nhân cách của Ngài. Cơ-đốc nhân là những người được báp-têm trong danh của Ngài cùng với Cha và Con (Ma-thi-ơ 28:19). Thánh Linh sẽ vinh danh Đấng Cơ-đốc (Giăng 16:14). Thánh Linh sẽ phán xét con người (Giăng 16:8). Ngài có thể buồn giận (Ê-phê-sô 4:30). Ngài là Đấng Yên Ủi (Giăng 14:16), Đấng Mưu luận, Đấng Khuyên bảo. Ngài dạy dỗ (Lu-ca 12:12), cầu khẩn (Rô-ma 8:26), và thánh hóa (1 Phi-e-rơ 1:2). Đấng Cơ-đốc phán rằng Thánh Linh sẽ dẫn con người đến mọi lẽ thật (Giăng 16:13).

Tóm lại, Đức Thánh Linh chính là Đức Chúa Trời, cũng như là Đức Cha và Đức Con. Hiệp lại cùng nhau, họ chính là một Đấng, Đức Chúa Trời.

Mọi thứ Đức Thánh Linh làm đều bày tỏ tình yêu thiêng liêng. Hãy kể ra một số điều Ngài đã làm. Lu-ca 12:12, Giăng 16:8-13, Công-vụ Các Sứ-đồ 13:2.

Bằng chứng tuyệt vời nhất để nói Đức Thánh Linh chính là Đức Chúa Trời là hiện thân của Đấng Cơ-đốc. Đức Chúa Giê-su được sinh ra bởi Đức Thánh Linh (Ma-thi-ơ 1:20). Chỉ duy nhất có Đức Chúa Trời có thể “làm thành” điều đó.

Đức Thánh Linh có thể thực hiện hai phép lạ đối nghịch cho Đấng Cơ-đốc. Trước tiên, Ngài đã đưa Đấng Cơ-đốc hiện diện với Ma-ri qua thai nhi. Đấng Cơ-đốc đã thăng thiên trong thân thể của loài người, bị hạn chế trong thân thể ấy. Thứ hai, Đức Thánh Linh mang đến Đấng Cơ-đốc sự hạn chế bởi hình hài nhân loại của Ngài và trong một phép lạ không thể giải thích, Ngài ở cùng toàn thể Cơ-đốc nhân trên toàn thế gian.

Do đó, Đức Thánh Linh, cùng với Đức Cha và Đức Con, đang làm việc thay chúng ta. “Đức Chúa Trời đã động lòng thương xót đối với loài người, và Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh đã dâng hiến bản thân để làm việc trong kế hoạch cứu chuộc.”—Ellen G.White, chức vụ chữa bệnh, trang 22.

Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh yêu chúng ta như nhau và làm hết sức để cứu tất cả chúng ta về với nước vĩnh sanh của Đức Chúa Trời. Làm thế nào để chúng ta có thể không quan tâm sự cứu rỗi vĩ đại như vậy?

Chúng ta cảm thấy được an ủi bao nhiêu khi biết lẽ thật rằng Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh đang làm việc cho sự sống đời đời của chúng ta?

Thứ Tư Tin cậy vào sự cứu rỗi

Một vài Cơ-đốc nhân tự hỏi rằng liệu họ có được cứu chuộc. Họ thiếu đi tính đảm bảo và lâu dài để nhận biết tương lai của mình, về thời hạn của cuộc sống đời đời. Họ làm việc chăm chỉ để trở nên tốt đẹp, nhưng họ vẫn chưa biết rằng điều đó rất ngắn ngủi. Họ nhìn vào bên trong và tìm một chút ít gì đó để khuyến khích họ trong hành trình của họ thông qua đời sống.

Khi chúng ta nhìn thấy khoảng cách to lớn giữa phẩm chất của Đức Chúa Giê-su và của chúng ta hoặc khi chúng ta đọc câu Kinh Thánh “song cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, kẻ kiếm được thì ít” (Ma-thi-ơ 7:14), ai trong chúng ta không có những khoảnh khắc mà khi đó chúng ta tự hỏi liệu chúng ta có làm được điều đó chăng?

Để chuẩn bị cho thời kỳ cuối cùng, con người phải có sự tin chắc về sự cứu rỗi ngay lúc này đây. Họ phải thật sự tỉnh thức trong sự cứu rỗi để đối mặt với một tương lai không còn sự sợ hãi. Tuy nhiên, như chúng ta đã thấy, Đức Chúa Trời đang hành động để cứu chúng ta. Như vậy, chúng ta cần nên sống trong sự tin cậy nơi sự cứu rỗi.

Hãy đọc những câu Kinh Thánh dưới đây. Những hy vọng và sự tin cậy nào có liên quan đến sự cứu rỗi và điều gì Đức Chúa Trời đã hứa và sẽ làm?

Thi Thiên 91:15, 16

Giô-ên 2:31, 32

Giăng 10:28

Rô-ma 10:9-13

1 Giăng 5:11-13

Chúng ta được kêu gọi, thậm chí là mệnh lệnh để sống đời sống nên thánh, nhưng những cách sống này là kết quả của việc được cứu bởi Đấng Cơ-đốc chứ không phải là phương tiện để đạt được sự cứu rỗi đó. Mặc dù chúng ta phải trung thành, ngay cả đối với cái chết, chúng ta phải luôn luôn trông cậy vào ân tứ như niềm hy vọng duy nhất cho chúng ta về sự cứu rỗi. Dân sự của Đức Chúa Trời sẽ được tìm thấy lòng trung tín và vâng phục trong ngày cuối cùng, sự trung tín và vâng phục đó nảy sinh từ sự tin cậy những gì mà Đấng Cơ-đốc đã làm cho chúng ta.

Thứ Năm Tin lành đời đời

“Tin lành đời đời” là gì? Khải Huyền 14:6, 7

Tin lành được đề cập ở đây như là “đời đời”. Đây là bằng chứng cho thấy Đức Chúa Trời không hề thay đổi. Một Đức Chúa Trời không thay đổi có một tin lành không hề thay đổi. Tin lành đời đời này đảm bảo cho tất cả những ai sẵn lòng chấp nhận nó. Tin lành cho thấy tình yêu không hề đổi thay của Thiên Chúa, và đó là sứ điệp cần rao truyền cho thế gian. Mọi người đều cần một cơ hội để nghe về tin lành ấy, đó là lý do mà Đức Chúa Trời đã kêu gọi dân sự Ngài rao truyền nó.

“Trước khi sáng thế, Ngài đã chọn chúng ta trong Đấng Cơ-đốc, đặng làm nên thánh không chỗ trách được trước mặt Đức Chúa Trời, bởi sự thương yêu của Ngài đã định trước cho chúng ta được trở nên con nuôi của Ngài bởi Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc, theo ý tốt của Ngài” (Ê-phê-sô 1:4, 5). Câu Kinh Thánh này nói lên những gì về lẽ thật “đời đời” của tin lành?

Được chọn bởi Ngài “trước khi sáng thế”. Nói về tin lành “đời đời”! Ngay cả trước khi sáng thế, Chúa đã dự định là chúng ta sẽ nhận được sự cứu chuộc nơi Ngài.

Nhìn vào những từ sau đây: “được chọn”, “được định sẵn,” “làm hài lòng,” “sự chấp nhận”. Hãy nhìn xem có bao nhiêu trong hai câu chỉ về khát khao của Đức Chúa Trời mong muốn đem đến sự sống đời đời cho chúng ta “bởi Ngài”. Lẽ thật rằng Đức Chúa Trời đã làm tất cả từ trước vô cùng (xem trong 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:13, 2 Ti-mô-thê 1:9) chỉ ra rất rõ về ân điển của Ngài, cho chúng ta thấy rằng sự cứu rỗi của chúng ta không phải đến từ bất cứ thứ gì mình có thể làm và cũng chẳng phải đến từ bất kỳ sinh vật nào, nhưng hoàn toàn xuất phát từ tình yêu của Đức Chúa Trời. Làm thế nào sự cứu rỗi có thể đến từ bất kỳ thứ gì chúng ta có thể làm nếu chúng ta được lựa chọn để có sự cứu rỗi bởi Ngài thậm chí trước khi Ngài tạo ra chúng ta? Chúng ta có quyền lựa chọn chấp nhận hoặc từ chối điều đó.

Và sự lựa chọn này được biểu hiện như thế nào trong đời sống của người được lựa chọn? “Đặng làm nên thánh không chỗ trách được trước mặt Đức Chúa Trời” (Ê-phê-sô 1:4). Đây cũng là nguyên nhân mà chúng ta được chọn.

Chúng ta được kêu gọi để rao truyền “tin lành đời đời” cho thế gian như là một phần của sứ điệp cuối cùng trước khi Đấng Cơ-đốc hồi lai. Tại sao chúng ta phải biết và trải nghiệm thực tế về “tin lành đời đời” trong chính đời sống của chúng ta trước khi chia sẻ chúng cho người khác?

Thứ Sáu Nghiên cứu bổ túc

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC

Chúng ta tin chắc vào sự cứu rỗi, nhưng chúng ta tuyệt đối không được tự phụ về điều này. Có những sự đảm bảo sai lầm nào về của sựu cứu rỗi không? Tất nhiên là có. Đức Chúa Giê-su đã từng cảnh báo chúng ta về điều này: “Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào nước thiên đàng đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha ta ở trên trời mà thôi. Ngày đó, sẽ có nhiều người thưa cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri sao? nhân danh Chúa mà trừ quỉ sao? và lại nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao? Khi ấy, ta sẽ phán rõ ràng cùng họ rằng: Hỡi kẻ làm gian ác, ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi ta!” (Ma-thi-ơ 7:21-23).

Những người này đã phạm phải hai sai lầm tai hại. Trước tiên, bất kể những điều lớn lao nào họ đã làm bằng danh Chúa, họ không làm theo ý muốn của Chúa, là tuân theo luật pháp của Ngài. Đức Chúa Giê-su đã không nói rằng, “Hãy lui khỏi ta” những người “không phải những kẻ vô tội” hoặc những ai “không có lỗi” hoặc những kẻ “không hoàn hảo”. Thay vào đó, Ngài mô tả họ như là “kẻ vô pháp luật”- một bản dịch của từ “anomian”, hoặc “không có luật pháp”. Thứ hai, chú ý đến sự nhấn mạnh của họ trên bản thân họ và trên những gì mà họ đã hoàn thành: Chúng ta đã không làm điều này qua danh của Ngài? Hoặc là chúng ta đã không làm điều đó bằng danh của Ngài? Hoặc là chúng ta đã không làm những điều khác, và tất cả trong danh của Ngài? Xin nhớ! Họ bỏ Chúa để tập trung vào mình trong một nỗ lực để biện minh cho bản thân trước mặt Chúa? Việc duy nhất để cứu chúng ta là việc của Đức Chúa Trời bởi đức tin. Đây là sự đảm bảo của chúng ta - không phải bởi chúng ta, mà chỉ những gì mà Đấng Cơ-đốc đã làm cho chúng ta. Bạn có lòng tin? Hãy tuân thủ luật pháp của Đức Chúa Trời và nghỉ ngơi trong sự công bình của Đấng Cơ-đốc, và bạn sẽ có mọi sự tin cậy mà bạn cần.

Câu hỏi thảo luận

1. Martin Luther tường thuật rằng: “Khi tôi nhìn vào bản thân tôi, tôi không biết tôi có thể được cứu như thế nào. Khi tôi nhìn vào Đức Chúa Giê-su, tôi không biết làm sao tôi có thể bị lạc mất.” Những sự khôn ngoan tuyệt vời nào được tìm thấy trong những lời này? Tại sao nó lại là một ý tưởng tốt để giữ cho tình cảm này mãi mãi trong chúng ta?

2. Nhấn mạnh nhiều hơn về ý tưởng này rằng chúng ta đã được chọn cho sự cứu rỗi trước khi sáng thế. Tại sao điều này không có nghĩa là tất cả mọi người sẽ được cứu? Nếu con người không được cứu, thì liệu có phải bởi vì Đức Chúa Trời không chọn họ hay là bởi vì những gì mà họ đã chọn? Thảo luận về câu hỏi này trong lớp.