Bài Học 2 · 7 – 13 Tháng 4

Đa-ni-ên và thời kỳ cuối cùng

Kinh Thánh Nghiên Cứu: Lu-ca 16:10; Đa-ni-ên 1, 2; 3:1–6; Khải Huyền 13:11–15; Đa-ni-ên 3:13–18; Giăng 3:7; Đa-ni-ên 4, 6

"Đoạn, vua cất tiếng nói cùng Đa-ni-ên rằng: Quả thật, Đức Chúa Trời các ngươi là Đức Chúa Trời của các thần, và là Chúa của các vua; chính Ngài là Đấng tỏ ra những sự kín nhiệm, vì ngươi đã có thể tỏ ra sự kín nhiệm nầy." — Đa-ni-ên 2:47
Sa-bát Đa-ni-ên và thời kỳ cuối cùng

Kinh Thánh nghiên cứu

Lu-ca 16:10; Đa-ni-ên 1, 2; 3:1–6; Khải Huyền 13:11–15; Đa-ni-ên 3:13–18; Giăng 3:7; Đa-ni-ên 4, 6.

Câu gốc

“Đoạn, vua cất tiếng nói cùng Đa-ni-ên rằng: Quả thật, Đức Chúa Trời các ngươi là Đức Chúa Trời của các thần, và là Chúa của các vua; chính Ngài là Đấng tỏ ra những sự kín nhiệm, vì ngươi đã có thể tỏ ra sự kín nhiệm nầy.” (Đa-ni-ên 2:47).

Chúa đã có những kế hoạch tuyệt vời cho dân Y-sơ-ra-ên ngày xưa. “Các ngươi sẽ thành một nước thầy tế lễ, cùng một dân tộc thánh cho ta” (Xuất Ê-díp-tô-ký 19:6). Dân tộc thánh này, nước thầy tế lễ này, sẽ là chứng nhân của Chúa cho cả thế gian rằng Giê-hô-va là Đức Chúa Trời duy nhất (xem Ê-sai 43:10, 12). Tiếc thay, quốc gia đó đã không sống theo sự kêu gọi thánh mà Chúa đã ban cho họ. Cuối cùng, họ đã bị lưu đày, làm phu tù tại Ba-by-lôn.

Thật thú vị thay, Đức Chúa Trời vẫn có thể dùng những cá nhân người Giu-đa để làm chứng nhân cho Ngài, bất chấp đại họa của sự lưu đày. Nói cách khác, trong mức độ nào đó, Đức Chúa Trời, qua Đa-ni-ên và ba người bạn bị bắt làm phu tù với ông, đã làm trọn những gì Ngài chưa thể làm trọn với dân Y-sơ-ra-ên và Giu-đa. Hiểu cách khác, những chàng trai này là biểu tượng của những gì Y-sơ-ra-ên, như một dân tộc, lẽ ra và đã phải thực thi.

Thật vậy, những câu chuyện về họ đã được tỏ ra trong thời điểm và địa điểm trước xa thời kỳ cuối cùng. Nhưng chúng ta vẫn có thể tìm thấy được những đặc điểm tiêu biểu và tính cách đặc trưng qua những chàng trai này và đó là những gương cho chúng ta, là những người không chỉ sống trong thời kỳ cuối cùng mà còn là những người được kêu gọi trở thành những chứng nhân của Đức Chúa Trời, cho một thế gian, giống như những kẻ đa thần trong cung của Ba-by-lôn, không biết đến Ngài. Chúng ta học được những gì trong câu chuyện của họ?

Thứ Nhất Trung tín trong những việc nhỏ

“Ai trung tín trong việc rất nhỏ, cũng trung tín trong việc lớn; ai bất nghĩa trong việc rất nhỏ, cũng bất nghĩa trong việc lớn.” (Lu-ca 16:10).

Hãy xem lời của Đức Chúa Giê-su phán ở đây. Thật dễ dàng, phải không, để chúng ta thỏa hiệp. để chúng ta trở nên “bất nghĩa trong việc rất nhỏ”. Vấn đề không phải là to lớn khi nó là “việc rất nhỏ”, nhỏ nhưng rất quan trọng. Đó là lý do tại sao nó “rất nhỏ”. Hầu hết chúng ta ở đây hoặc bằng kinh nghiệm cá nhân, hoặc bằng gương của những người khác (hoặc cả hai), đều biết rằng vấn đề là ở chỗ khi chúng ta thỏa hiệp lần thứ nhất, rồi sẽ dẫn đến lần thứ hai, và lần nữa, rồi nữa và nữa cho đến khi chúng ta trở nên “bất nghĩa trong việc lớn”.

Với tư tưởng này, chúng ta nghiên cứu câu chuyện trong Đa-ni-ên đoạn 1, sự ghi chép đầu tiên về những kinh nghiệm của 4 chàng trai người Giu-đa trong lúc bị bắt làm phu tù tại Ba-by-lôn.

Đọc Đa-ni-ên đoạn 1. Đa-ni-ên, Ha-na-nia, Mi-sa-ên và A-xa-ria đã chọn lập trường nào để phản ảnh việc lập quốc của dân Y-sơ-ra-ên cổ xưa? Cũng hãy xem trong Phục-truyền 4:6–8, Xa-cha-ri 8:23.

Mặc dù Kinh Thánh không nêu rõ những gì họ đã ăn để trở nên “giỏi hơn gấp mười” về sự “khôn ngoan và sáng suốt” so với những người khác (Đa-ni-ên 1:20), nhưng mối liên kết rõ ràng là ở đó. Đoạn Kinh Thánh này cũng nói rằng Đức Chúa Trời đã ban cho họ tri thức và sự khôn ngoan. Đó là, Đức Chúa Trời đã có thể làm việc với họ bởi lòng trung tín của họ đối với Ngài, thể hiện qua việc họ từ chối ăn những thức ăn không thanh sạch của Ba-by-lôn. Họ đã vâng lời, và Chúa đã ban phước cho sự vâng lời đó của họ. Lẽ nào Đức Chúa Trời đã không làm điều tương tự như vậy đối với dân Y-sơ-ra-ên ngày xưa, như một đoàn thể, nếu như họ vâng giữ những lời dạy dỗ của Kinh Thánh và chuyên tâm, trung tín giống như 4 chàng trai trẻ này? Dĩ nhiên. Và chẳng lẽ Ngài cũng sẽ không làm như vậy cho chúng ta, trong những ngày sau rốt này, nếu chúng ta trung tín?

Vì chúng ta được ban cho quá nhiều lẽ thật và ánh sáng, là một Hội Thánh, chúng ta cần phải tự hỏi chính mình: Chính mình có luôn trung tín và vâng phục với những gì đã ban cho chúng ta? Cùng lúc ấy, làm thế nào để mỗi một cá nhân chúng ta đón nhận những chức vụ làm chứng nhân mạnh mẽ cho Đức Chúa Trời?

Thứ Hai Sự khiêm tốn của Đa-ni-ên

Trên toàn thế gian, và suốt bao ngàn năm qua, Đa-ni-ên đoạn 2 đã giúp cho vô số người biết đến và tin vào Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh. Đoạn Kinh Thánh này đã mang lại bằng chứng mạnh mẽ hợp lý, không những về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời mà còn về sự biết trước được tương lai của Ngài. Thật vậy, sự khải thị mà đoạn Kinh Thánh này tỏ ra về sự hiểu biết trước về tương lai của Đức Chúa Trời chính là bằng chứng tỏ ra sự hiện hữu của Chúa.

Đọc Đa-ni-ên đoạn 2. Đoạn Kinh Thánh này cung cấp bằng chứng thuyết phục về tính xác thực của Đức Chúa Trời như thế nào? Cũng hãy nhìn Châu âu ngày nay như đã mô tả trong sách (Đa-ni-ên 2:40–43). Bằng cách nào mà một chàng trai sống cách đây khoảng 2.600 năm có thể mô tả được tình trạng chính xác đến như vậy, nếu như không phải nhờ vào sự khải thị thiêng liêng?

Đa-ni-ên đã mở lòng và không cảm thấy hổ thẹn khi quy mọi sự vinh hiển về cho Chúa qua những sự khải thị ông nhận được. Thật rất dễ dàng để ông có thể khoác lác về những sự khôn ngoan và hiểu biết của ông là bởi khả năng của ông, không chỉ có thể biết được giấc mơ của nhà vua mà còn có thể giải nghĩa được giấc mơ ấy. Nhưng Đa-ni-ên hiểu biết nhiều hơn như thế. Những lời cầu nguyện mà ông và những người khác đã dâng lên (Đa-ni-ên 2:17–23) tỏ ra rằng họ tuyệt đối trông cậy nơi Đức Chúa Trời; bằng không họ có thể đã bị chết chung với những chiêm tinh gia, và nhà thông thái khác.

Sau đó, Đa-ni-ên đã nhắc nhở nhà vua rằng không có ai trong số những nhà đồng bóng, thuật sĩ hoặc thầy bói chuyên nghiệp của nhà vua có thể kể lại cho người về giấc mơ người đã quên. Ngược lại, Chúa ở trên trời có thể tỏ ra những sự kín nhiệm bởi vì Ngài chính là Đức Chúa Trời chân thật duy nhất.

Do đó, qua sự khiêm nhường và phó thác trọn vẹn nơi Chúa, Đa-ni-ên đã trở thành nhân chứng mạnh mẽ của Chúa. Nếu như Đa-ni-ên, ngay lúc đó, đã bày tỏ sự khiêm nhường như thế, thì chúng ta ngày nay cần phải trở nên khiêm nhường hơn nữa như thế nào? Rốt lại, chúng ta có được sự khải thị về kế hoạch của sự cứu rỗi mà ngày xưa Đa-ni-ên đã không được biết; và nếu như có điều gì đó có thể làm cho chúng ta trở nên khiêm nhường, thì đó chính là sự hiểu biết về những điều mà Đức Chúa Giê-su đã làm vì chúng ta tại thập tự giá.

Thập tự giá dạy chúng ta điều gì về sự khiêm nhường? Điều đó nói gì với chúng ta, không những về tội lỗi của chúng ta, mà còn về sự trông cậy hoàn toàn vào sự cứu rỗi của Dức Chúa Trời? Hãy suy ngẫm xem nếu như không có thập tự giá thì ngày nay chúng ta sẽ đang ở đâu? Vậy thì, chúng ta còn gì để có thể khoe khoang, lên mình ngoài thập tự giá? Xem Ga-la-ti 6:14.

Thứ Ba Pho tượng bằng vàng

Những học viên Kinh Thánh từ lâu đã chú ý đến mối liên kết giữa Đa-ni-ên đoạn 3, câu chuyện về ba chàng trai trẻ Hê-bơ-rơ ở đồng bằng Đu-ra, và Khải Huyền đoạn 13, một sự mô tả về sự bắt bớ mà dân sự Chúa phải đối mặt trong quá khứ và sẽ phải đối mặt trong những ngày cuối cùng.

So sánh Đa-ni-ên 3:1–6 với Khải Huyền 13:11–15. Có điều tương tự nào giữa hai đoạn này?

Trong cả hai trường hợp, trọng tâm đều là vấn đề thờ hình tượng, nhưng cả hai nói về sự thờ phượng bị ép buộc. Những quyền lực chính trị nắm quyền kiểm soát đòi hỏi sự thờ phượng điều mà chỉ thuộc về Đức Chúa Trời.

Đọc Đa-ni-ên 3:13–18. Chúng ta có thể học hỏi được gì từ câu chuyện đó hầu giúp bản thân hiểu được không chỉ những gì chúng ta phải đối mặt trong những ngày cuối cùng mà còn với những điều đang xảy đến như thế nào?

Là nhà lãnh đạo uy quyền nhất trên đất, vua Nê-bu-cát-nết-sa mỉa mai các chàng trai và Chúa của họ, nói rằng: “Rồi thần nào có thể giải cứu các ngươi khỏi tay ta?” Và rồi ông nhanh chóng tự mình khám phá ra Chúa là ai, vì sau đó chính ông tuyên bố: “Đáng ngợi khen Đức Chúa Trời của Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô! Ngài đã sai thiên sứ Ngài và giải cứu các tôi tớ Ngài nhờ cậy Ngài, họ đã trái mạng vua, và liều bỏ thân mình, để không hầu việc và không thờ phượng thần nào khác ngoài Đức Chúa Trời mình”. (Đa-ni-ên 3:28).

Không một nghi vấn nào, sau khi nhìn thấy một phép lạ dường ấy, đức vua đã được thuyết phục rằng có một điều gì đó đặc biệt ở Chúa mà các chàng trai này thờ phượng.

Dù giả sử rằng các chàng trai trẻ này không được giải cứu khỏi lửa, thì người ta cũng sẽ nhận ra có một điều gì đó đặc biệt (Đa-ni-ên 3:18). Tại sao họ vẫn kiên quyết không tuân theo lệnh vua ngay cả khi điều ấy có nghĩa là họ sẽ bị thiêu sống? Câu chuyện này bày tỏ một lời chứng mạnh mẽ cho đức tin của họ và sẵn lòng đứng vững vì những gì họ tin tưởng, dù hậu quả thế nào.

Khi vấn đề thờ phượng dấy lên trong những ngày cuối cùng, làm sao chúng ta có thể chắc chắn rằng mình sẽ trung tín đứng vững như những chàng trai ấy? Nếu hiện nay chúng ta không trung tín trong những việc “rất nhỏ”, điều gì khiến cho chúng ta nghĩ rằng mình sẽ trung tín trong những việc lớn như sự bắt bớ cuối cùng?

Thứ Tư Sự biến đổi của dân ngoại

Đa-ni-ên đoạn 3 kết thúc với sự thừa nhận của vua Nê-bu-cát-nết-sa về sự hiện diện và quyền năng của Đức Chúa Trời thật sự. Nhưng kiến thức về Chúa và về quyền năng của Ngài không phải là trải nghiệm sanh lại, là điều cốt yếu để được cứu rỗi mà Đức Chúa Giê-su nhắc đến (xem Giăng 3:7). Quả thật, người mà được mô tả trong Đa-ni-ên 4:30 chẳng phải là một linh hồn đã được biến đổi.

Đọc Đa-ni-ên 4:30. Vấn đề của vị vua là gì? Cũng hãy xem trong Giăng 15:5, Công-vụ 17:28, Đa-ni-ên 5:23.

Mặc dù vậy, ở cuối đoạn, dù rất khó khăn nhưng vua Nê-bu-cát-nết-sa đã biết được tất cả những quyền năng thật sự đều ở trong Chúa, và nếu không có Ngài, ông chẳng là gì cả.

“Vị quốc vương đã từng hết sức kiêu ngạo giờ đây trở thành một người con khiêm nhường của Đức Chúa Trời; kẻ nắm quyền bạo ngược, hống hách, một vị vua khôn ngoan và động lòng trắc ẩn. Người đã thách thức và lăng mạ Đức Chúa Trời của thiên đàng, giờ đây nhận thức được quyền năng của Đấng Tối Cao và kính sợ Đức Giê-hô-va. Dưới sự khiển trách từ Vua của muôn vua và Chúa của mọi chúa, vua Nê-bu-cát-nết-sa đã học được bài học cuối cùng mà tất cả những nhà cầm quyền đều cần phải biết - sự vĩ đại thật cốt ở lòng nhơn từ. Ông nhận biết Đức Ghê-hô-va là Đức Chúa Trời hằng sống, nói rằng, ta, Nê-bu-cát-nết-sa, ngợi khen, tôn vinh, và làm cả sáng Vua trên trời; mọi công việc Ngài đều chơn thật, các đường lối Ngài đều công bình; và kẻ nào bước đi kiêu ngạo, Ngài có thể hạ nó xuống’”—Ellen G.White, Những Tiên Tri và Các Vua, trang 521.

Hãy đọc Đa-ni-ên 4:35. Những lẽ thật nào về Đức Chúa Trời mà vua Nê-bu-cát-nết-sa cũng đã bày tỏ ở đây?

Đa-ni-ên đoạn 4 kết thúc với phân cảnh một người ngoại nhận thức được quyền thế, sự tể trị và quyền năng của Đức Chúa Trời “của người Hê-bơ-rơ”. Cũng vậy, quan cảnh này chính là điềm báo trước những gì sẽ xảy ra cho Hội Thánh thuở ban đầu, khi những người ngoại được biết đến những lẽ thật về Đức Chúa Trời và bắt đầu rao truyền lẽ thật ấy cho thế gian—thông qua những lời làm chứng của người Do Thái và quyền năng của Đức Chúa Trời.

Đọc Giăng 3:7. Dù cho chúng ta nghĩ về ngày cuối cùng nghĩa là những sắc lệnh nguy đến tính mạng, sự thờ phượng và sự bắt bớ, nhưng vượt trên hết tất cả, Đức Chúa Giê-su đã phán bảo những gì để chuẩn bị cho dân sự vào thời kỳ cuối cùng?

Thứ Năm Sự trung tín của Đa-ni-ên

Đọc Đa-ni-ên đoạn 6 và sau đó trả lời những câu hỏi sau

1. Đa-ni-ên 6:4, 5 bày tỏ thế nào về bản tánh của Đa-ni-ên? Những bài học nào có thể rút ra từ những câu này về việc chúng ta học được từ chúng?

2. Chúng ta thấy những sự tương đồng nào giữa đoạn Kinh Thánh này liên quan đến những sự kiện trong thời kỳ cuối cùng được ghi lại trong Khải Huyền? Xem Khải Huyền 13:4, 8, 11–17.

3. Bạn hãy đặt mình vào vị trí của Đa-ni-ên trong hoàn cảnh này. Ông có thể sử dụng những lập luận hoặc lý do căn bản nào để khỏi phải cầu nguyện? Vì thế, làm sao ông có thể biện minh rằng nếu ông không cầu nguyện thì việc đó có thể giúp ông thoát khỏi hang sư tử?

4. Tại sao bạn lại nghĩ Đa-ni-ên tiếp tục cầu nguyện như thường lệ, mặc dù ông không cần thiết phải làm vậy?

5. Vua Đa-ri-út đã nói gì (Đa-ni-ên 6:16) ngay cả trước khi Đa-ni-ên bị ném vào hang sư tử cho thấy vua biết điều gì đó về quyền năng từ Đức Chúa Trời của Đa-ni-ên? Những điều gì trong lời của vua cho thấy sự làm chứng của chính Đa-ni-ên cho vua liên quan đến Đức Chúa Trời mà Đa-ni-ên thờ phượng và hầu việc?

Thứ Sáu Nghiên cứu bổ túc

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC

“Khi chúng ta đang ở gần thời kỳ cuối cùng của thế gian này, những lời tiên tri được Đa-ni-ên ghi lại đòi hỏi sự chú ý đặc biệt của chúng ta, bởi chúng liên quan đến thời điểm chúng ta đang sống. Những lời tiên tri ấy nên được liên kết với những sự dạy dỗ của quyển sách cuối cùng trong Tân Ước. Sa-tan đã dỗ dành nhiều người tin rằng phần tiên tri trong những ghi chép của Đa-ni-ên và Giăng trong Khải Huyền, không thể nào hiểu được. Nhưng lời hứa rõ ràng rằng ơn phước đặc biệt sẽ đi kèm với việc học hỏi những lời tiên tri này. ‘Song kẻ khôn sáng sẽ hiểu’ [Đa-ni-ên 12:10], mang ý nghĩa rằng sự hiện thấy của Đa-ni-ên sẽ được mở ra trong những ngày sau rốt; và sự mặc thị của Đấng Cơ-đốc ban cho Giăng, tôi tớ Ngài, để dẫn dắt dân sự của Đức Chúa Trời qua nhiều thập kỷ, lời hứa là: ‘Phước cho kẻ đọc cùng những kẻ nghe lời tiên tri nầy, và giữ theo điều đã viết ra đây’ Khải Huyền 1:3.”—Ellen G.White, Những tiên tri và các vua, trang 547.

Mặc dù chúng ta thường xem sách Đa-ni-ên trong bối cảnh các quốc gia dấy lên và thất bại, sự phán xét (Đa-ni-ên 7:22, 26; 8:14), và sự giải cứu cuối cùng của dân sự Đức Chúa Trời trong thời điểm gian nan (Đa-ni-ên 12:1), tuần này chúng ta thấy sách Đa-ni-ên có thể cho chúng ta các ví dụ về những gì chúng ta phải tự chuẩn bị cho những gian khó và bắt bớ, bất cứ khi nào chúng đến. Các câu chuyện này đem đến cho chúng ta những sứ điệp hết sức quan trọng trong những ngày cuối cùng. Sau cùng, sứ điệp này tuy giúp chúng ta hiểu về “dấu con thú”, “ngày gian truân” và sự bắt bớ sắp xảy đến, nhưng nếu chúng ta không có một sự trải nghệm cần thiết với Chúa, thì những kiến thức ấy chỉ ép buộc chúng ta. Hơn bao giờ hết, chúng ta cần phải có trải nghiệm “sanh lại” mà Đa-ni-ên và những người khác, bao gồm cả vua Nê-bu-cát-nết-sa, đã từng trải.

câu hỏi thảo luận

1. Đọc lời cầu nguyện của Đa-ni-ên trong Đa-ni-ên 9:3–19. Bằng cách nào lời cầu nguyện này tỏ ra rằng Đa-ni-ên hiểu được ân điển, và rằng Đức Chúa Trời yêu thương và cứu chuộc chúng ta bởi chính lòng nhân từ của Ngài, chứ không phải bởi công sức hoặc lòng tốt của bản thân chúng ta? Tại sao đây là một lẽ thật quan trọng không chỉ để hiểu mà còn để trải nghiệm?

2. Trong lớp học, hãy cùng nhau thảo luận những thử thách mà ba chàng trai Hê-bơ-rơ (Đa-ni-ên 3) và Đa-ni-ên (Đa-ni-ên 6) đã gặp phải khi họ cương quyết đứng vững trong khi những thói quen tôn giáo của họ bị đe dọa bởi những nhà cầm quyền chính trị? Và chúng ta học được những gì từ hai câu chuyện đó và làm sao để chúng ta trở thành những nhân chứng mạnh mẽ bằng cách luôn giữ vững lòng trung tín của mình?

3. Ý nghĩa của “sự sanh lại” là gì? Tại sao Đức Chúa Giê-su lại phán rằng chúng ta “phải sanh lại” (Giăng 3:7)?